• Thứ Bảy, 26/05/2012
  •   |  16:13

VN-Index: 437.38    HNX-Index: 76.06   

Thứ Tư, 04/08/2010 | 13:41

Đọc sách | Thảo luận: 0 | A

Chất lượng tín dụng thay vì dư nợ

Đã có rất nhiều ý kiến phản biện lại Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch khi quyết định hạ định mức tín dụng dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ của Việt Nam xuống một bậc từ BB- xuống B+.

Theo TS Nguyễn Quang A, Fitch là một công ty tư nhân. Họ đánh giá dựa trên những tiêu chí của họ và khó có thể khẳng định đúng – sai. Việt Nam có thể nghe theo hoặc không nghe theo cũng không ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng của họ. Nhưng với Việt Nam, đây là cơ hội để nhìn lại chất lượng tín dụng trong thời gian qua.

Lãi suất khó hạ thêm

Một trong những nguyên nhân Fitch đưa ra khi hạ định mức tín dụng dài hạn của Việt Nam là do những lo ngại về cân bằng đối ngoại của nền kinh tế, chính sách kinh tế chưa hoàn toàn nhất quán và vấn đề chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Lý do này có vẻ không sai, vì trên thực tế, Việt Nam luôn rơi vào tình trạng bị động và chính sách tiền tệ là công cụ chính để giải quyết các vấn đề kinh tế đôi khi lại không nhất quán và tác động không được như mong đợi.

Chỉ tính từ đầu năm tới nay, chính sách tiền tệ đã hai lần thay đổi. Từ chính sách thắt chặt trong bốn tháng đầu năm, sang chính sách tiền tệ nới lỏng.

Trong bốn tháng thắt chặt, ngân hàng Nhà nước đã ban hành và áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận. Với cơ chế này, lãi suất cho vay và huy động của các ngân hàng được đẩy lên cao, có thời điểm lãi suất cho vay lên đến 18%/năm, khiến nguồn vốn ra thị trường bị tắc lại, khối doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, gián đoạn sản xuất, không triển khai dự án, số lượng người lao động bị thất nghiệp tăng lên…

Trước những dấu hiệu bất ổn đó, từ tháng 5, chính sách tiền tệ đã chuyển sang nới lỏng có kiểm soát. Chỉ sau gần ba tháng, tính đến hết tuần thứ ba của tháng 7, ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền cho các ngân hàng thông qua thị trường mở với khoảng 38 ngàn tỉ đồng. Nhưng đến thời điểm này, lãi suất thực tế vẫn chưa hạ đến mức mục tiêu của Chính phủ đề ra: “10% vào, 12% ra”.

TS Nguyễn Quang A cho rằng, lãi suất cho vay khó có thể hạ xuống được 12%/năm, vì các công cụ điều tiết nguồn vốn trên thị trường đang ở mức thấp (lãi suất tái chiết khấu là 6%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 8%/năm, tỷ lệ an toàn vốn hiện đang ở mức thấp 8%, sắp tới nâng lên 9%), khó có thể hạ được nữa. Trong khi đó, 38 ngàn tỉ đồng bơm vào hệ thống ngân hàng chưa phải là nhiều…

Nửa năm tăng trưởng tín dụng 10,5% có thấp?

Nhận định về tốc độ tăng trưởng tín dụng sáu tháng đầu năm, TS Nguyễn Quang A cho rằng, nếu so sánh với mức tăng trưởng tín dụng của các nước có cùng điều kiện như Việt Nam là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… thì con số này không phải là mức thấp. Ở Trung Quốc, tăng trưởng tín dụng và cung tiền hàng năm chỉ khoảng 17 – 20%, nhưng tăng trưởng nền kinh tế nước này vẫn đạt xấp xỉ hai con số. Tương tự, các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Đài Loan... cũng có mức tăng trưởng tín dụng không cao, chỉ từ 10 – 15%/năm.

“Với việc bị tụt hạng này, Chính phủ muốn phát hành trái phiếu quốc tế thành công thì phải chịu mức lãi suất cao hơn trước đây rất nhiều”

TS Nguyễn Quang A

Theo ông, nền kinh tế Việt Nam hiện đang chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng chủ yếu dựa vào dòng vốn đầu tư nên nền kinh tế luôn đòi hỏi mở rộng tín dụng. Không những vậy, chất lượng đầu tư của Việt Nam cũng đang ở mức rất thấp. Hệ số ICOR trong ba năm gần đây lên đến 6 – 8 lần. Đầu tư trong nền kinh tế sáu tháng đầu năm lên đến 46% GDP nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,16%.

“Không chỉ thế, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm không được đánh giá là bền vững khi chủ yếu là tăng trưởng dư nợ bằng ngoại tệ, tín dụng bằng VND chỉ tăng 4,5%”, TS Nguyễn Quang A nhận định.

Cùng quan điểm trên, TS Cao Sỹ Kiêm, phó chủ nhiệm hội đồng tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết, nền kinh tế đang rơi vào thực trạng không giảm lãi suất thì không tăng trưởng được, nhưng giảm lãi suất và bơm thêm tiền thì gây nguy cơ lạm phát về lâu dài. Nguyên nhân chính là việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, năng lực sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu kém. Đó là bài toán tới giờ vẫn chưa có lời giải hợp lý.

Rõ ràng, xếp hạng của Fitch đã phần nào nói lên những bất ổn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Từ khả năng tìm kiếm nguồn cung vốn, khả năng kiểm soát dư nợ tín dụng, cách cho vay… đến hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đều thể hiện những bất ổn.

Minh Huệ

Sài Gòn Tiếp thị

Chất lượng tín dụng thay vì dư nợ

Đã có rất nhiều ý kiến phản biện lại Cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch khi quyết định hạ định mức tín dụng dài hạn bằng ngoại tệ và nội tệ của Việt Nam xuống một bậc từ BB- xuống B+.

Theo TS Nguyễn Quang A, Fitch là một công ty tư nhân. Họ đánh giá dựa trên những tiêu chí của họ và khó có thể khẳng định đúng – sai. Việt Nam có thể nghe theo hoặc không nghe theo cũng không ảnh hưởng đến kết quả xếp hạng của họ. Nhưng với Việt Nam, đây là cơ hội để nhìn lại chất lượng tín dụng trong thời gian qua.

Lãi suất khó hạ thêm

Một trong những nguyên nhân Fitch đưa ra khi hạ định mức tín dụng dài hạn của Việt Nam là do những lo ngại về cân bằng đối ngoại của nền kinh tế, chính sách kinh tế chưa hoàn toàn nhất quán và vấn đề chất lượng tín dụng của hệ thống ngân hàng. Lý do này có vẻ không sai, vì trên thực tế, Việt Nam luôn rơi vào tình trạng bị động và chính sách tiền tệ là công cụ chính để giải quyết các vấn đề kinh tế đôi khi lại không nhất quán và tác động không được như mong đợi.

Chỉ tính từ đầu năm tới nay, chính sách tiền tệ đã hai lần thay đổi. Từ chính sách thắt chặt trong bốn tháng đầu năm, sang chính sách tiền tệ nới lỏng.

Trong bốn tháng thắt chặt, ngân hàng Nhà nước đã ban hành và áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận. Với cơ chế này, lãi suất cho vay và huy động của các ngân hàng được đẩy lên cao, có thời điểm lãi suất cho vay lên đến 18%/năm, khiến nguồn vốn ra thị trường bị tắc lại, khối doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn, gián đoạn sản xuất, không triển khai dự án, số lượng người lao động bị thất nghiệp tăng lên…

Trước những dấu hiệu bất ổn đó, từ tháng 5, chính sách tiền tệ đã chuyển sang nới lỏng có kiểm soát. Chỉ sau gần ba tháng, tính đến hết tuần thứ ba của tháng 7, ngân hàng Nhà nước đã bơm tiền cho các ngân hàng thông qua thị trường mở với khoảng 38 ngàn tỉ đồng. Nhưng đến thời điểm này, lãi suất thực tế vẫn chưa hạ đến mức mục tiêu của Chính phủ đề ra: “10% vào, 12% ra”.

TS Nguyễn Quang A cho rằng, lãi suất cho vay khó có thể hạ xuống được 12%/năm, vì các công cụ điều tiết nguồn vốn trên thị trường đang ở mức thấp (lãi suất tái chiết khấu là 6%/năm, lãi suất tái cấp vốn là 8%/năm, tỷ lệ an toàn vốn hiện đang ở mức thấp 8%, sắp tới nâng lên 9%), khó có thể hạ được nữa. Trong khi đó, 38 ngàn tỉ đồng bơm vào hệ thống ngân hàng chưa phải là nhiều…

Nửa năm tăng trưởng tín dụng 10,5% có thấp?

Nhận định về tốc độ tăng trưởng tín dụng sáu tháng đầu năm, TS Nguyễn Quang A cho rằng, nếu so sánh với mức tăng trưởng tín dụng của các nước có cùng điều kiện như Việt Nam là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia, Malaysia… thì con số này không phải là mức thấp. Ở Trung Quốc, tăng trưởng tín dụng và cung tiền hàng năm chỉ khoảng 17 – 20%, nhưng tăng trưởng nền kinh tế nước này vẫn đạt xấp xỉ hai con số. Tương tự, các nước như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Đài Loan... cũng có mức tăng trưởng tín dụng không cao, chỉ từ 10 – 15%/năm.

“Với việc bị tụt hạng này, Chính phủ muốn phát hành trái phiếu quốc tế thành công thì phải chịu mức lãi suất cao hơn trước đây rất nhiều”

TS Nguyễn Quang A

Theo ông, nền kinh tế Việt Nam hiện đang chủ yếu phát triển theo chiều rộng, tăng trưởng chủ yếu dựa vào dòng vốn đầu tư nên nền kinh tế luôn đòi hỏi mở rộng tín dụng. Không những vậy, chất lượng đầu tư của Việt Nam cũng đang ở mức rất thấp. Hệ số ICOR trong ba năm gần đây lên đến 6 – 8 lần. Đầu tư trong nền kinh tế sáu tháng đầu năm lên đến 46% GDP nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 6,16%.

“Không chỉ thế, tăng trưởng tín dụng trong những tháng đầu năm không được đánh giá là bền vững khi chủ yếu là tăng trưởng dư nợ bằng ngoại tệ, tín dụng bằng VND chỉ tăng 4,5%”, TS Nguyễn Quang A nhận định.

Cùng quan điểm trên, TS Cao Sỹ Kiêm, phó chủ nhiệm hội đồng tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết, nền kinh tế đang rơi vào thực trạng không giảm lãi suất thì không tăng trưởng được, nhưng giảm lãi suất và bơm thêm tiền thì gây nguy cơ lạm phát về lâu dài. Nguyên nhân chính là việc sử dụng nguồn vốn không hiệu quả, năng lực sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu kém. Đó là bài toán tới giờ vẫn chưa có lời giải hợp lý.

Rõ ràng, xếp hạng của Fitch đã phần nào nói lên những bất ổn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Từ khả năng tìm kiếm nguồn cung vốn, khả năng kiểm soát dư nợ tín dụng, cách cho vay… đến hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh nghiệp đều thể hiện những bất ổn.

Minh Huệ

Sài Gòn Tiếp thị

 

Bài viết cùng chủ đề:

  • Bản in

  • Email

  • Chia sẻ

  • Về đầu trang

  • 1

  • 2

  • 3

Chứng khoán 24h

Close
  • Việt Nam

  • Mỹ

  • Châu Âu

  • Châu Á

Tin mới nhất:

Tra cứu chứng khoán

Close

Close