Thứ Hai, 07/06/2010 | 06:25
Đọc sách |
Thảo luận: 2
|
A
Dự trữ quốc tế
Dự trữ quốc tế của một nước là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê của bất cứ quốc gia nào.
Đây cũng là một chỉ tiêu lần đầu tiên được đưa vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia của VN, vừa thể hiện tầm quan trọng của chỉ tiêu này do tác động đến nguồn sức mạnh của quốc gia, vừa thể hiện tính công khai, minh bạch của một xã hội dân chủ, vừa phù hợp với thông lệ thống kê quốc tế. Nhờ đó, bắt đầu từ Niên giám Thống kê năm 2006, tổng dự trữ quốc tế của VN đã được công bố, nhưng mới ở mức tổng số.
Theo đó, tổng dự trữ quốc tế của VN năm 2007 đã cao gấp trên 6,3 lần năm 2001, gấp gần 2,6 lần năm 2005 và đây cũng là năm có mức tăng tuyệt đối.
Vị trí về quy mô tổng dự trữ quốc tế của VN trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới cũng có sự thay đổi. Trong khu vực Đông Nam Á, trong 10 nước có số liệu so sánh VN đứng thứ 6 (sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines). Ở châu Á, trong tổng số 40 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, VN từ chỗ đứng thứ 18 trong năm 2001, lên 17 năm 2005 và lên 15 năm 2007.
Trên thế giới, trong tổng số 168 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, VN từ chỗ đứng thứ 59 năm 2001 lên 54 năm 2005 và lên 44 năm 2007.
Để đánh giá quy mô của dự trữ quốc tế, người ta có thể tính toán một số chỉ tiêu so sánh, hoặc kết hợp với một số chỉ tiêu khác, như bình quân đầu người, so với kim ngạch xuất khẩu (như ta trước đây thường tính theo số tuần nhập khẩu), so với nợ quốc gia…
Nếu tính bình quân đầu người, thì dự trữ quốc tế của VN năm 2007 mới đạt gần 0,3 USD, một con số còn nhỏ nhoi; và thứ bậc trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới còn thấp hơn nữa, vì dân số VN đứng thứ 3 ở khu vực, thứ 8 ở châu Á và thứ 13 trên thế giới, đều cao hơn thứ bậc về tổng dự trữ quốc tế.
Nếu so với kim ngạch nhập khẩu, trước đây nước ta thường tính theo tuần nhập khẩu, đã rất phấn khởi khi mức bảo đảm đạt từ 7-8 tuần nhập khẩu lên 12 tuần, rồi lên 16-17 tuần. Hiện chưa có thông tin chính thống về quy mô dự trữ quốc tế của VN nhưng theo dự tính của các nhà am hiểu về lĩnh vực này thì số tuần nhập khẩu tuy vẫn ở mức 2 chữ số, nhưng không còn được khả quan như năm 2007. Đây cũng là một sự cảnh báo cần thiết, khi số nợ quốc gia đang tiến sát đến 50% GDP.
Để tăng dự trữ quốc tế, thì phải giảm mất cân đối cán cân thương mại, tăng thu hút lượng ngoại tệ từ các nguồn.
Ngọc Minh
THANH NIÊN
Dự trữ quốc tế
Dự trữ quốc tế của một nước là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống chỉ tiêu thống kê của bất cứ quốc gia nào.
Đây cũng là một chỉ tiêu lần đầu tiên được đưa vào Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia của VN, vừa thể hiện tầm quan trọng của chỉ tiêu này do tác động đến nguồn sức mạnh của quốc gia, vừa thể hiện tính công khai, minh bạch của một xã hội dân chủ, vừa phù hợp với thông lệ thống kê quốc tế. Nhờ đó, bắt đầu từ Niên giám Thống kê năm 2006, tổng dự trữ quốc tế của VN đã được công bố, nhưng mới ở mức tổng số.
Theo đó, tổng dự trữ quốc tế của VN năm 2007 đã cao gấp trên 6,3 lần năm 2001, gấp gần 2,6 lần năm 2005 và đây cũng là năm có mức tăng tuyệt đối.
Vị trí về quy mô tổng dự trữ quốc tế của VN trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới cũng có sự thay đổi. Trong khu vực Đông Nam Á, trong 10 nước có số liệu so sánh VN đứng thứ 6 (sau Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines). Ở châu Á, trong tổng số 40 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, VN từ chỗ đứng thứ 18 trong năm 2001, lên 17 năm 2005 và lên 15 năm 2007.
Trên thế giới, trong tổng số 168 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh, VN từ chỗ đứng thứ 59 năm 2001 lên 54 năm 2005 và lên 44 năm 2007.
Để đánh giá quy mô của dự trữ quốc tế, người ta có thể tính toán một số chỉ tiêu so sánh, hoặc kết hợp với một số chỉ tiêu khác, như bình quân đầu người, so với kim ngạch xuất khẩu (như ta trước đây thường tính theo số tuần nhập khẩu), so với nợ quốc gia…
Nếu tính bình quân đầu người, thì dự trữ quốc tế của VN năm 2007 mới đạt gần 0,3 USD, một con số còn nhỏ nhoi; và thứ bậc trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới còn thấp hơn nữa, vì dân số VN đứng thứ 3 ở khu vực, thứ 8 ở châu Á và thứ 13 trên thế giới, đều cao hơn thứ bậc về tổng dự trữ quốc tế.
Nếu so với kim ngạch nhập khẩu, trước đây nước ta thường tính theo tuần nhập khẩu, đã rất phấn khởi khi mức bảo đảm đạt từ 7-8 tuần nhập khẩu lên 12 tuần, rồi lên 16-17 tuần. Hiện chưa có thông tin chính thống về quy mô dự trữ quốc tế của VN nhưng theo dự tính của các nhà am hiểu về lĩnh vực này thì số tuần nhập khẩu tuy vẫn ở mức 2 chữ số, nhưng không còn được khả quan như năm 2007. Đây cũng là một sự cảnh báo cần thiết, khi số nợ quốc gia đang tiến sát đến 50% GDP.
Để tăng dự trữ quốc tế, thì phải giảm mất cân đối cán cân thương mại, tăng thu hút lượng ngoại tệ từ các nguồn.
Ngọc Minh
THANH NIÊN
|