Thứ Tư, 08/09/2010 | 23:26
Đọc sách |
Thảo luận: 0
|
A
Hậu khủng hoảng kinh tế: Chọn cách ứng xử phù hợp
Ngày mai (9/9), tại TP.HCM, Báo Đầu tư phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tổ chức Hội thảo “Kinh tế Việt Nam: Cơ hội và thách thức hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu”.
Nhân sự kiện này, Báo Đầu tư xin giới thiệu ý kiến của một số chuyên gia xung quanh cách ứng xử của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, nhằm khai thác những lợi thế từ bối cảnh hậu khủng hoảng.
Nâng chất lượng thu hút FDI hậu khủng hoảng
GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
Trong những năm tới, nước ta phải giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả đầu tư, kể cả trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), để hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Do vậy, chất lượng phải trở thành tiêu chí hàng đầu trong thu hút FDI.
Chất lượng FDI được đo lường bằng mức độ phù hợp của từng dự án với cơ cấu kinh tế của cả nước, từng vùng lãnh thổ trong thập niên tới. Theo đó, các dự án cần được ưu tiên là công nghệ điện tử, tin học, dịch vụ cao cấp, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Chất lượng FDI được đặt ra trong điều kiện doanh nghiệp Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng về số lượng, một số trong đó đã tích tụ vốn trở thành những doanh nghiệp lớn, có trình độ công nghệ và quản trị doanh nghiệp cao, do vậy cần quan tâm đúng mức đến các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, chất lượng FDI gắn với việc xử lý mối quan hệ giữa thị trường trong nước với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Các dự án FDI cần được điều chỉnh theo hướng coi trọng xuất khẩu, đồng thời tham gia thị trường nội địa để vừa tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, vừa duy trì cạnh tranh trên thị trường. Đây là vấn đề cần được các cơ quan hoạch định chính sách nghiên cứu và có định hướng rõ ràng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước.
Minh bạch thông tin để bảo vệ thị trường nội địa
Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, việc sử dụng những biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ thị trường nội địa có ý nghĩa rất lớn, bởi nguy cơ hàng hóa nước ngoài nhập khẩu không lành mạnh vào Việt Nam đang gia tăng.
Đây là công cụ duy nhất nằm trong tay doanh nghiệp (doanh nghiệp có thể chủ động về thời điểm, cách thức, tần suất, mức độ sử dụng), có nhiều khả năng mang lại kết quả tích cực (do cơ quan điều tra là cơ quan hành chính của Việt Nam), có hiệu quả cao và lâu dài (do nó tác động trực tiếp đến cạnh tranh thông qua việc áp dụng thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu và thời hạn áp dụng lâu dài)…
Tuy nhiên, hiện nay, công cụ phòng vệ chưa được các doanh nghiệp quan tâm áp dụng. Để thúc đẩy thực hiện các biện pháp phòng vệ này, cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp cơ bản: nâng cao nhận thức và năng lực sử dụng công cụ phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp; tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau và với hiệp hội; thiết lập cơ chế tiếp cận thông tin minh bạch và hợp lý từ các cơ quan nhà nước.
Việc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại đòi hỏi không chỉ nỗ lực của doanh nghiệp hay hiệp hội doanh nghiệp, mà còn cần những hành động tích cực và thiết thực từ phía Nhà nước.
Xây dựng chính sách thúc đẩy niềm tin
GS.TS Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP.HCM
Kinh nghiệm xây dựng chính sách thời kỳ hậu khủng hoảng là đưa ra những quyết sách trực tiếp hướng đến thúc đẩy niềm tin.
Đơn cử, khi nền kinh tế đang suy thoái mà cứ nhất quyết cho rằng, chính sách lãi suất phải đảm bảo thực dương là máy móc. Mô hình là cần thiết, song nó dựa vào quá nhiều giả thuyết. Điều quan trọng là, không có mô hình kinh tế lượng nào lường hết được yếu tố tâm lý, tức niềm tin.
Đó là chưa kể, cùng một vấn đề, nhưng có nhiều lý giải khác nhau từ các nhà làm chính sách, làm cho niềm tin có phần bị mất phương hướng. Với thực tế như vậy, người dân không biết điều gì sẽ xảy ra và sắp tới nên đầu tư, kinh doanh như thế nào.
Do vậy, để có một chính sách hướng đến niềm tin thì không chỉ bằng lời nói, hoặc chỉ bàn thảo trong phạm vi hẹp, mà cần có không gian để niềm tin hệ thống bộc lộ đối với những chủ trương và quyết sách lớn.
Sẽ sửa đổi các khung pháp lý điều chỉnh thị trường
Ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Thời gian tới sẽ thực hiện tái cấu trúc thị trường chứng khoán theo hướng phân định tổ chức thị trường chứng khoán niêm yết, thị trường OTC, thị trường công cụ nợ, thị trường công cụ phái sinh. Từng bước hoàn thiện thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) theo hướng thị trường OTC để từng bước thu hẹp thị trường tự do.
Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý, thể chế chính sách thông qua việc sửa đổi một số nghị định và xây dựng các thông tư hướng dẫn về giao dịch, hướng dẫn về các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ... Xem xét, sửa đổi Luật Chứng khoán để trình Quốc hội vào năm 2010. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020. Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá để đảm bảo chương trình cải cách, đổi mới doanh nghiệp, tạo hàng chất lượng cao cho thị trường chứng khoán và thu hút vốn đầu tư.
|
Ông Trần Ngọc Anh, Giám đốc Công ty TNHH Giày da An Thịnh, Đô Ba
Khủng hoảng là lúc cần phát triển những sản phẩm mới, với giá cả phù hợp, đồng thời tăng cường tìm đầu ra ở những thị trường mới. Trong thời gian này, chúng tôi đã thâm nhập thêm các thị trường Đức, Pháp, Nhật, Mỹ. Bên cạnh đó, Công ty đã sản xuất các mặt hàng “đại chúng” nhiều hơn, nên đảm bảo được thu nhập, ổn định đời sống công nhân và giữ vững doanh thu.
Sau khủng hoảng, Công ty đối mặt với khó khăn về lao động. Trong tương lai, chúng tôi sẽ di chuyển nhà máy về những vùng có nhiều lao động. Chúng tôi đã xin đầu tư vào Hậu Giang, Cần Thơ và đã được các địa phương này chấp thuận. Dự kiến, chúng tôi sẽ triển khai xây dựng nhà máy mới tại các địa phương này vào năm 2011.
Bà Nguyễn Thị Liên, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế Phong Phú (PPJ)
Chúng tôi đã tận dụng thời gian khủng hoảng để đào tạo nhân lực, nhờ đó Công ty có bộ phận makerting khá chuyên nghiệp.
Nay khủng hoảng qua đi, chúng tôi tập trung mở rộng mạng lưới ra ra các tỉnh miền Trung, với định hướng phát triển từ Bắc tới Nam, tạo ra một chuỗi khép kín, để cung cấp sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng.
Ông Khoo Teck chong, Giám đốc Điều hành Công ty cổ phần Setia Becamex
Sau khủng hoảng, thị trường bất động sản Việt Nam có nhiều tiềm năng tăng trưởng tốt. Đó chính là cơ hội để chúng tôi phát triển mô hình đô thị hiện đại, như chúng tôi đã làm ở Malaysia. Trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ không thiếu những đô thị có tốc độ công nghiệp hóa cao, với sự xuất hiện của nhiều khu công nghiệp tập trung.
Ông Nguyễn Văn Thảo, Tổng giám đốc điều hành Công ty Asia Business Solutions
Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam vẫn là thị trường đầu tư hấp dẫn, nên đây sẽ tiếp tục là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Để thu hút các công ty lớn của nước ngoài, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư của Việt Nam cần tiệm cận những quy định có tính quốc tế. |
Đầu tư
Hậu khủng hoảng kinh tế: Chọn cách ứng xử phù hợp
Ngày mai (9/9), tại TP.HCM, Báo Đầu tư phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tổ chức Hội thảo “Kinh tế Việt Nam: Cơ hội và thách thức hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu”.
Nhân sự kiện này, Báo Đầu tư xin giới thiệu ý kiến của một số chuyên gia xung quanh cách ứng xử của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, nhằm khai thác những lợi thế từ bối cảnh hậu khủng hoảng.
Nâng chất lượng thu hút FDI hậu khủng hoảng
GS.TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
Trong những năm tới, nước ta phải giải quyết bài toán nâng cao hiệu quả đầu tư, kể cả trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), để hướng tới hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Do vậy, chất lượng phải trở thành tiêu chí hàng đầu trong thu hút FDI.
Chất lượng FDI được đo lường bằng mức độ phù hợp của từng dự án với cơ cấu kinh tế của cả nước, từng vùng lãnh thổ trong thập niên tới. Theo đó, các dự án cần được ưu tiên là công nghệ điện tử, tin học, dịch vụ cao cấp, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe hiện đại, xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
Chất lượng FDI được đặt ra trong điều kiện doanh nghiệp Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng về số lượng, một số trong đó đã tích tụ vốn trở thành những doanh nghiệp lớn, có trình độ công nghệ và quản trị doanh nghiệp cao, do vậy cần quan tâm đúng mức đến các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, chất lượng FDI gắn với việc xử lý mối quan hệ giữa thị trường trong nước với xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ. Các dự án FDI cần được điều chỉnh theo hướng coi trọng xuất khẩu, đồng thời tham gia thị trường nội địa để vừa tạo ra những sản phẩm mới, chất lượng cao, vừa duy trì cạnh tranh trên thị trường. Đây là vấn đề cần được các cơ quan hoạch định chính sách nghiên cứu và có định hướng rõ ràng đối với các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước.
Minh bạch thông tin để bảo vệ thị trường nội địa
Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trong bối cảnh hậu khủng hoảng kinh tế thế giới, việc sử dụng những biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ thị trường nội địa có ý nghĩa rất lớn, bởi nguy cơ hàng hóa nước ngoài nhập khẩu không lành mạnh vào Việt Nam đang gia tăng.
Đây là công cụ duy nhất nằm trong tay doanh nghiệp (doanh nghiệp có thể chủ động về thời điểm, cách thức, tần suất, mức độ sử dụng), có nhiều khả năng mang lại kết quả tích cực (do cơ quan điều tra là cơ quan hành chính của Việt Nam), có hiệu quả cao và lâu dài (do nó tác động trực tiếp đến cạnh tranh thông qua việc áp dụng thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu và thời hạn áp dụng lâu dài)…
Tuy nhiên, hiện nay, công cụ phòng vệ chưa được các doanh nghiệp quan tâm áp dụng. Để thúc đẩy thực hiện các biện pháp phòng vệ này, cần tập trung vào 3 nhóm giải pháp cơ bản: nâng cao nhận thức và năng lực sử dụng công cụ phòng vệ thương mại cho doanh nghiệp; tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp với nhau và với hiệp hội; thiết lập cơ chế tiếp cận thông tin minh bạch và hợp lý từ các cơ quan nhà nước.
Việc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại đòi hỏi không chỉ nỗ lực của doanh nghiệp hay hiệp hội doanh nghiệp, mà còn cần những hành động tích cực và thiết thực từ phía Nhà nước.
Xây dựng chính sách thúc đẩy niềm tin
GS.TS Trần Ngọc Thơ, Đại học Kinh tế TP.HCM
Kinh nghiệm xây dựng chính sách thời kỳ hậu khủng hoảng là đưa ra những quyết sách trực tiếp hướng đến thúc đẩy niềm tin.
Đơn cử, khi nền kinh tế đang suy thoái mà cứ nhất quyết cho rằng, chính sách lãi suất phải đảm bảo thực dương là máy móc. Mô hình là cần thiết, song nó dựa vào quá nhiều giả thuyết. Điều quan trọng là, không có mô hình kinh tế lượng nào lường hết được yếu tố tâm lý, tức niềm tin.
Đó là chưa kể, cùng một vấn đề, nhưng có nhiều lý giải khác nhau từ các nhà làm chính sách, làm cho niềm tin có phần bị mất phương hướng. Với thực tế như vậy, người dân không biết điều gì sẽ xảy ra và sắp tới nên đầu tư, kinh doanh như thế nào.
Do vậy, để có một chính sách hướng đến niềm tin thì không chỉ bằng lời nói, hoặc chỉ bàn thảo trong phạm vi hẹp, mà cần có không gian để niềm tin hệ thống bộc lộ đối với những chủ trương và quyết sách lớn.
Sẽ sửa đổi các khung pháp lý điều chỉnh thị trường
Ông Nguyễn Đoan Hùng, Phó chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Thời gian tới sẽ thực hiện tái cấu trúc thị trường chứng khoán theo hướng phân định tổ chức thị trường chứng khoán niêm yết, thị trường OTC, thị trường công cụ nợ, thị trường công cụ phái sinh. Từng bước hoàn thiện thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM) theo hướng thị trường OTC để từng bước thu hẹp thị trường tự do.
Đồng thời, hoàn thiện khung pháp lý, thể chế chính sách thông qua việc sửa đổi một số nghị định và xây dựng các thông tư hướng dẫn về giao dịch, hướng dẫn về các chỉ tiêu an toàn tài chính đối với các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ... Xem xét, sửa đổi Luật Chứng khoán để trình Quốc hội vào năm 2010. Xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020. Tiếp tục thực hiện cổ phần hoá để đảm bảo chương trình cải cách, đổi mới doanh nghiệp, tạo hàng chất lượng cao cho thị trường chứng khoán và thu hút vốn đầu tư.
|
Ông Trần Ngọc Anh, Giám đốc Công ty TNHH Giày da An Thịnh, Đô Ba
Khủng hoảng là lúc cần phát triển những sản phẩm mới, với giá cả phù hợp, đồng thời tăng cường tìm đầu ra ở những thị trường mới. Trong thời gian này, chúng tôi đã thâm nhập thêm các thị trường Đức, Pháp, Nhật, Mỹ. Bên cạnh đó, Công ty đã sản xuất các mặt hàng “đại chúng” nhiều hơn, nên đảm bảo được thu nhập, ổn định đời sống công nhân và giữ vững doanh thu.
Sau khủng hoảng, Công ty đối mặt với khó khăn về lao động. Trong tương lai, chúng tôi sẽ di chuyển nhà máy về những vùng có nhiều lao động. Chúng tôi đã xin đầu tư vào Hậu Giang, Cần Thơ và đã được các địa phương này chấp thuận. Dự kiến, chúng tôi sẽ triển khai xây dựng nhà máy mới tại các địa phương này vào năm 2011.
Bà Nguyễn Thị Liên, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế Phong Phú (PPJ)
Chúng tôi đã tận dụng thời gian khủng hoảng để đào tạo nhân lực, nhờ đó Công ty có bộ phận makerting khá chuyên nghiệp.
Nay khủng hoảng qua đi, chúng tôi tập trung mở rộng mạng lưới ra ra các tỉnh miền Trung, với định hướng phát triển từ Bắc tới Nam, tạo ra một chuỗi khép kín, để cung cấp sản phẩm hoàn chỉnh cho khách hàng.
Ông Khoo Teck chong, Giám đốc Điều hành Công ty cổ phần Setia Becamex
Sau khủng hoảng, thị trường bất động sản Việt Nam có nhiều tiềm năng tăng trưởng tốt. Đó chính là cơ hội để chúng tôi phát triển mô hình đô thị hiện đại, như chúng tôi đã làm ở Malaysia. Trong thời gian không xa, Việt Nam sẽ không thiếu những đô thị có tốc độ công nghiệp hóa cao, với sự xuất hiện của nhiều khu công nghiệp tập trung.
Ông Nguyễn Văn Thảo, Tổng giám đốc điều hành Công ty Asia Business Solutions
Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam vẫn là thị trường đầu tư hấp dẫn, nên đây sẽ tiếp tục là điểm đến của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. Để thu hút các công ty lớn của nước ngoài, hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư của Việt Nam cần tiệm cận những quy định có tính quốc tế. |
Đầu tư
|