• Thứ Bảy, 26/05/2012
  •   |  15:49

VN-Index: 437.38    HNX-Index: 76.06   

Chủ Nhật, 06/06/2010 | 10:48

Đọc sách | Thảo luận: 0 | A

Kinh tế cần lực đẩy từ nới lỏng chính sách tiền tệ

Trong khi Nhật Bản và một số nước đã linh hoạt và nới lỏng hơn chính sách tiền tệ nhằm khuyến khích cho vay thúc đẩy phát triển kinh tế sau suy thoái kinh tế thì Việt Nam vẫn chưa thực sự nới lỏng chính sách này.

Từ thực tế nền kinh tế, nới lỏng hơn nữa tín dụng đang là đòi hỏi khách quan cần được xử lý sớm.

Nhiều nước vẫn nới lỏng chính sách tiền tệ

Kinh tế Việt Nam năm 2010 đã đi qua 5 tháng với bức tranh nhiều màu sắc. Các chỉ số kinh tế vĩ mô cho chúng ta thấy đây là giai đoạn không mấy thuận lợi cho ổn định và tăng trưởng kinh tế, cụ thể: GDP quý 1 tăng 5,83%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 5 tháng đầu năm tăng đến 4,5%; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng ước đạt 25,83 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu 5 tháng ước đạt 31,2 tỷ USD; tín dụng trong 4 tháng đầu năm tăng 5.58%, lãi suất cơ bản được giữ ở mức 8%...

Cùng với sự vận động của nền kinh tế, chính sách tiền tệ trong những tháng đầu năm có những diễn biến khá đặc biệt, cụ thể: Trước nguy cơ lạm phát tái diễn do tăng trưởng tín dụng cao (khoảng 37,7% vào cuối năm 2009), với một loạt các biện pháp mạnh tay của Chính phủ, tăng trưởng tín dụng đã được kiểm soát, các yếu tố làm ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại từng bước được loại trừ, lạm phát.

Để hiểu rõ phần nào kết quả đã đạt được, chúng ta cần hiểu kinh tế Việt Nam phát triển trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới đang dần lùi xa nhưng hậu quả của nó chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn. Trong điều kiện đó, Trung Quốc vẫn kiên trì chính sách ổn định đồng tiền và kích thích kinh tế. Tại Nhật Bản, các nhà hoạch định chính sách đã quyết định nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ nhằm khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay nhiều hơn.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tăng gấp đôi những khoản vay ngắn hạn với lãi suất thấp dành cho các ngân hàng, lên mức 20.000 tỷ yên (220 tỷ USD), trong khi giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0,1%/năm (vốn đã được áp dụng từ tháng 12-2008 tới nay). Tại Mỹ, theo đánh giá của Chính phủ Obama, thâm hụt tài chính Mỹ năm tài khóa 2010 sẽ tiếp tục tăng, ước đạt 1.560 tỷ USD (khoảng 10% GDP) nhưng vẫn giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục.

Trong bối cảnh các nước lớn trên thế giới và có quan hệ kinh tế mật thiết với Việt Nam vẫn hỗ trợ nền kinh tế một cách tích cực dẫn đến chúng ta cũng nên xem lại chính sách thắt chặt tín dụng đã thực hiện trong thời gian qua.

Quay trở lại kinh tế Việt Nam, sau giai đoạn mang tính “cầm cự” đầu năm, một chu kỳ tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu xuất hiện thông qua một loạt các chỉ số: Tốc độ xuất khẩu tăng, thâm hụt thương mại giảm, chỉ số lạm phát chỉ tăng nhẹ trong hai tháng 4 và 5, lãi suất cho vay ở mức chấp nhận được và có thể giảm theo định hướng của Chính phủ (khoảng 13-14%).

Về chính sách tiền tệ, trong những tháng đầu năm 2010, có lẽ lo ngại hậu quả do việc tăng mạnh tín dụng vào cuối năm 2009, Ngân hàng Nhà nước đã “mạnh tay” thực hiện thắt chặt tín dụng, do vậy trong 4 tháng đầu năm tín dụng chỉ tăng 5,5%. Nhiều lĩnh vực kinh tế, nhiều doanh nghiệp khó có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn.

Vì lẽ đó, đóng góp của tín dụng vào tăng trưởng GDP 5,83% quý 1 năm 2010 là khiêm tốn, không rõ nét. Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2010, Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng, “tốc độ sụt giảm quá nhanh của mức tăng tổng dư nợ tín dụng làm cho các doanh nghiệp khó tiếp cận đủ vốn để duy trì sản xuất và thanh khoản của nền kinh tế trở nên khó khăn”.

Ở Việt Nam, việc thắt chặt tín dụng trong thời điểm đầu năm 2010 là cần thiết nhưng hơi “mạnh tay”. Vào thời điểm hiện nay, xem xét lại chính sách tín dụng cũng là việc nên làm và điều kiện khách quan của nền kinh tế cũng đòi hỏi có sự thay đổi nhằm hỗ trợ tốc độ tăng trưởng.

Chia sẻ với quan điểm điều chỉnh chính sách tín dụng trong giai đoạn hiện nay, trong lần trả lời báo chí mới đây, ông Vũ Viết Ngoạn, Phó Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế Quốc hội đưa ra đề nghị “nên giảm bớt mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ trong bối cảnh hiện tại, nhằm tiếp tục kéo mặt bằng lãi suất đi xuống”.

Tuy nhiên, chủ trương giảm bớt mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ cũng đang gặp lực cản khá mạnh, đó là một số ngân hàng thương mại cổ phần trong những ngày gần đây tăng lãi suất huy động đến “kịch trần” 11,9%. Nếu việc tăng lãi suất huy động chỉ có một số nhất định ngân hàng tham gia và có nguyên nhân “phi tín dụng” thì vấn đề là bình thường, ngược lại việc tăng lãi suất huy động như những ngày qua kéo dài và nhiều ngân hàng tham gia thì vấn đề sẽ không đơn giản, cần nghiên cứu, phân tích kỹ càng.

Nới lỏng tín dụng đang là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Năm 2010 không còn nhiều, tăng trưởng kinh tế muốn đạt hoặc vượt chỉ tiêu đề ra, cần có nhiều “lực đẩy” và lực đẩy đó chính là nới lỏng tín dụng.

Lưu Văn Vinh

tiền phong

Kinh tế cần lực đẩy từ nới lỏng chính sách tiền tệ

Trong khi Nhật Bản và một số nước đã linh hoạt và nới lỏng hơn chính sách tiền tệ nhằm khuyến khích cho vay thúc đẩy phát triển kinh tế sau suy thoái kinh tế thì Việt Nam vẫn chưa thực sự nới lỏng chính sách này.

Từ thực tế nền kinh tế, nới lỏng hơn nữa tín dụng đang là đòi hỏi khách quan cần được xử lý sớm.

Nhiều nước vẫn nới lỏng chính sách tiền tệ

Kinh tế Việt Nam năm 2010 đã đi qua 5 tháng với bức tranh nhiều màu sắc. Các chỉ số kinh tế vĩ mô cho chúng ta thấy đây là giai đoạn không mấy thuận lợi cho ổn định và tăng trưởng kinh tế, cụ thể: GDP quý 1 tăng 5,83%; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong 5 tháng đầu năm tăng đến 4,5%; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng ước đạt 25,83 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm 2009, tổng kim ngạch nhập khẩu 5 tháng ước đạt 31,2 tỷ USD; tín dụng trong 4 tháng đầu năm tăng 5.58%, lãi suất cơ bản được giữ ở mức 8%...

Cùng với sự vận động của nền kinh tế, chính sách tiền tệ trong những tháng đầu năm có những diễn biến khá đặc biệt, cụ thể: Trước nguy cơ lạm phát tái diễn do tăng trưởng tín dụng cao (khoảng 37,7% vào cuối năm 2009), với một loạt các biện pháp mạnh tay của Chính phủ, tăng trưởng tín dụng đã được kiểm soát, các yếu tố làm ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại từng bước được loại trừ, lạm phát.

Để hiểu rõ phần nào kết quả đã đạt được, chúng ta cần hiểu kinh tế Việt Nam phát triển trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới đang dần lùi xa nhưng hậu quả của nó chưa thể khắc phục trong thời gian ngắn. Trong điều kiện đó, Trung Quốc vẫn kiên trì chính sách ổn định đồng tiền và kích thích kinh tế. Tại Nhật Bản, các nhà hoạch định chính sách đã quyết định nới lỏng hơn nữa chính sách tiền tệ nhằm khuyến khích các tổ chức tài chính cho vay nhiều hơn.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) tăng gấp đôi những khoản vay ngắn hạn với lãi suất thấp dành cho các ngân hàng, lên mức 20.000 tỷ yên (220 tỷ USD), trong khi giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0,1%/năm (vốn đã được áp dụng từ tháng 12-2008 tới nay). Tại Mỹ, theo đánh giá của Chính phủ Obama, thâm hụt tài chính Mỹ năm tài khóa 2010 sẽ tiếp tục tăng, ước đạt 1.560 tỷ USD (khoảng 10% GDP) nhưng vẫn giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục.

Trong bối cảnh các nước lớn trên thế giới và có quan hệ kinh tế mật thiết với Việt Nam vẫn hỗ trợ nền kinh tế một cách tích cực dẫn đến chúng ta cũng nên xem lại chính sách thắt chặt tín dụng đã thực hiện trong thời gian qua.

Quay trở lại kinh tế Việt Nam, sau giai đoạn mang tính “cầm cự” đầu năm, một chu kỳ tăng trưởng kinh tế đã bắt đầu xuất hiện thông qua một loạt các chỉ số: Tốc độ xuất khẩu tăng, thâm hụt thương mại giảm, chỉ số lạm phát chỉ tăng nhẹ trong hai tháng 4 và 5, lãi suất cho vay ở mức chấp nhận được và có thể giảm theo định hướng của Chính phủ (khoảng 13-14%).

Về chính sách tiền tệ, trong những tháng đầu năm 2010, có lẽ lo ngại hậu quả do việc tăng mạnh tín dụng vào cuối năm 2009, Ngân hàng Nhà nước đã “mạnh tay” thực hiện thắt chặt tín dụng, do vậy trong 4 tháng đầu năm tín dụng chỉ tăng 5,5%. Nhiều lĩnh vực kinh tế, nhiều doanh nghiệp khó có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn.

Vì lẽ đó, đóng góp của tín dụng vào tăng trưởng GDP 5,83% quý 1 năm 2010 là khiêm tốn, không rõ nét. Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 4 tháng đầu năm 2010, Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng, “tốc độ sụt giảm quá nhanh của mức tăng tổng dư nợ tín dụng làm cho các doanh nghiệp khó tiếp cận đủ vốn để duy trì sản xuất và thanh khoản của nền kinh tế trở nên khó khăn”.

Ở Việt Nam, việc thắt chặt tín dụng trong thời điểm đầu năm 2010 là cần thiết nhưng hơi “mạnh tay”. Vào thời điểm hiện nay, xem xét lại chính sách tín dụng cũng là việc nên làm và điều kiện khách quan của nền kinh tế cũng đòi hỏi có sự thay đổi nhằm hỗ trợ tốc độ tăng trưởng.

Chia sẻ với quan điểm điều chỉnh chính sách tín dụng trong giai đoạn hiện nay, trong lần trả lời báo chí mới đây, ông Vũ Viết Ngoạn, Phó Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế Quốc hội đưa ra đề nghị “nên giảm bớt mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ trong bối cảnh hiện tại, nhằm tiếp tục kéo mặt bằng lãi suất đi xuống”.

Tuy nhiên, chủ trương giảm bớt mức độ thắt chặt chính sách tiền tệ cũng đang gặp lực cản khá mạnh, đó là một số ngân hàng thương mại cổ phần trong những ngày gần đây tăng lãi suất huy động đến “kịch trần” 11,9%. Nếu việc tăng lãi suất huy động chỉ có một số nhất định ngân hàng tham gia và có nguyên nhân “phi tín dụng” thì vấn đề là bình thường, ngược lại việc tăng lãi suất huy động như những ngày qua kéo dài và nhiều ngân hàng tham gia thì vấn đề sẽ không đơn giản, cần nghiên cứu, phân tích kỹ càng.

Nới lỏng tín dụng đang là đòi hỏi khách quan của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Năm 2010 không còn nhiều, tăng trưởng kinh tế muốn đạt hoặc vượt chỉ tiêu đề ra, cần có nhiều “lực đẩy” và lực đẩy đó chính là nới lỏng tín dụng.

Lưu Văn Vinh

tiền phong

 
  • Bản in

  • Email

  • Chia sẻ

  • Về đầu trang

  • 1

  • 2

  • 3

Chứng khoán 24h

Close
  • Việt Nam

  • Mỹ

  • Châu Âu

  • Châu Á

Tin mới nhất:

Tra cứu chứng khoán

Close

Close