• Thứ Bảy, 26/05/2012
  •   |  23:09

VN-Index: 437.38    HNX-Index: 76.06   

Thứ Bảy, 06/03/2010 | 08:33

Đọc sách | Thảo luận: 0 | A

Thận trọng với “lạm phát tâm lý”  

Khi thị trường vẫn chịu áp lực tăng giá trong dịp Tết, thì Ngân hàng Nhà nước đã quy định tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND. Tiếp đến, đầu tháng 3/2010, Chính phủ quyết định tăng giá điện, than. Giá xăng dầu, nước cũng được điều chỉnh tăng đã tạo ra trên thị trường tâm lý lo ngại lạm phát cao trở lại.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, mối quan ngại nói trên là có thật, song chủ yếu xuất phát từ hiệu ứng tâm lý dẫn đến sự “lạm phát tâm lý”.

Áp lực tăng giá là có…

Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam - cho biết: Hiện nay, ngành thép chủ yếu sản xuất bằng lò điện với lượng tiêu thụ khoảng 600-700KWh điện để sản xuất ra 1 tấn phôi và 100-125KWh điện để cán được 1 tấn thép.

Với tỉ lệ tăng giá điện trung bình 6,8% sẽ tương ứng với mức tăng thêm trong giá bán thép thành phẩm từ 0,2 – 0,69% tùy thuộc vào mức độ tiêu hao điện năng (mức độ tiên tiến) của công nghệ. Như vậy, tuy tăng không lớn song việc tăng giá điện cũng đã tác động khiến giá thành thép tăng lên.

Việc tăng giá điện, than còn là nhân tố khiến giá sản phẩm của các ngành xi măng, giấy, dệt may, nhựa... tăng theo. Ông Nguyễn Văn Điệp - Chánh Văn phòng Hiệp hội Xi măng Việt Nam – cho biết, năm 2009, giá than tăng đã khiến giá xi măng tăng thêm khoảng 10%, và việc tăng giá điện lên 6,8% trong năm nay sẽ tiếp tục khiến giá thành sản xuất xi măng tăng thêm khoảng 2-3% nữa. Tính chung các yếu tố tác động từ việc tăng giá điện và than thì tới đây, giá xi măng thành phẩm sẽ tăng thêm khoảng 100.000đồng/tấn.

Với lĩnh vực dệt may, ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội dệt may – cho biết, bước vào năm 2010, các doanh nghiệp dệt may đang đối phó với hàng loạt các khó khăn, trong đó có việc tăng giá đầu vào sản xuất mà trước hết là việc tăng lãi suất ngân hàng. “Dù lãi suất cơ bản theo quy định chỉ có 8% và trần lãi suất là 12% nhưng các doanh nghiệp vẫn phải vay với lãi suất cao, từ 15 – 20% (Ngân hàng áp dụng nhiều hình thức không chính thức khác nhau). Trong khi đó, khoảng 50% vốn lưu động của các doanh nghiệp dệt may là từ nguồn vay ngân hàng.

Cùng với đó, việc tăng giá điện và xăng, dầu cũng sẽ tạo thêm khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may. Với chi phí tiền điện chiếm khoảng 30% trong tổng chi phí chế biến và kéo sợi; chiếm 10% trong chi phí chế biến sản xuất vải và may, thì với mức tăng 6,8% giá điện sẽ tương ứng với mức tăng khoảng 2% trong chi phí kéo sợi và gần 0,7% chi phí chế biến vải và may. Ngoài ra, chi phí xăng, dầu (chủ yếu là dầu) chiếm khoảng 27% trong chí phí hoàn thiện vải, với những biến động liên tục của giá xăng, dầu như vừa qua, các doanh nghiệp dệt may sẽ thêm khó khăn.

Tuy nhiên, cũng đã có một tín hiệu vui khi ông Ân khẳng định: “Năm 2010, chúng tôi đặt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 10,5 triệu USD và khả năng đạt được là khá cao, dù khó khăn còn nhiều”.

Còn ông Lê Bá Lịch - Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam –  chia sẻ, giá điện tăng 6,8% sẽ buộc giá thức ăn chăn nuôi tăng ít nhất 10% thì các nhà sản xuất mới có lãi. Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang tính toán cụ thể mức tăng cho từng loại sản phẩm, dự kiến sẽ công bố giá mới trong vài ngày tới.

Ít quan ngại hơn, ông Đỗ Hào Nam - Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam – cho biết, tuy tronh ngành cà phê, sản xuất công nghiệp để chế biến sản phẩm chất lượng cao không nhiều, nên mức độ ảnh hưởng từ việc tăng giá điện là không đáng kể. Song, với hàng loạt các mặt hàng tăng giá, như: Thuốc trừ sâu, phân bón, nhân công chăm sóc, thu hái, rồi cước vận chuyển… thì người trồng hồ tiêu vẫn sẽ chịu thiệt thòi.

Trong lĩnh vực sản xuất phân bón, lành đạo Hiệp hội phân bón nhận định, cùng một lúc cả giá điện và giá than đều tăng sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất nên việc tăng giá phân bón trong thời gian tới là bất khả kháng. Ngày 12 -3 tới đây, Hiệp hội sẽ có cuộc hội thảo về phân bón năm 2010, đồng thời sẽ đề nghị với Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho tăng giá các sản phẩm phân bón với mức cụ thể theo đề nghị của các doanh nghiệp.

Song song với việc các ngành sản xuất chủ chốt đang tính toán cụ thể từng mức tăng giá sản phẩm, thì trên thị trường, nhiều mặt hàng đã không đợi đến sau thời điểm 1/3/2010 – thời điểm quyết định tăng giá điện có hiệu lực – đã rục rịch tăng giá từ trước đó. Phóng viên đã ghi nhận nhiều mặt hàng tiêu dùng như một số nhãn hiệu sữa, gas và một số nhu yếu phẩm khác... đã niên yết giá mới với mức tăng rõ rệt. Nguyên nhân tăng giá được hầu hết các nhà sản xuất, nhà cung cấp đưa ra là do ảnh hưởng tỷ giá và giá nguyên liệu cũng như chi phí sản xuất, vận chuyển tăng.

Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng thể thì xu hướng tăng giá dường như không tạo thành “đợt sóng” lớn với độ lan tỏa rộng. Khoảng chênh lệch giá so sánh giữa hai thời điểm trước và sau khi giá điện, than và xăng dầu được điều chỉnh là không quá lớn và có thể chấp nhận được đối với cả người tiêu dùng và người sản xuất.

…nhưng có đáng lo ngại?

Để trả lời được câu hỏi này, phải đi sâu phân tích nguyên nhân, mục đích cũng như những ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, tăng giá điện và than. Đồng thời, cũng cần xem xét vấn đề trong mối tương quan giữa mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát mà Chính phủ đã đặt mục tiêu trong năm nay.

Trước hết, về vấn đề tăng giá điện và than. Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào, thì việc tăng giá điện và than chắc chắn có ảnh hưởng đến các lĩnh vực sản xuất, nhất là những lĩnh vực có tỉ trọng tiêu thụ điện lớn trong cơ cấu “đầu vào”. Song, Thứ trưởng Hào khẳng định, những tác động này là không đáng ngại. Phân tích cho nhận định của mình, Thứ trưởng Hào cho biết, trước hết, phải xem xét nguyên nhân tăng giá điện lần này. Theo đó, hiện nay hầu hết các nguyên vật liệu đầu vào của ngành điện (Máy móc, thiết bị, khí, dầu DO, giá nhân công…) đều đã tăng giá.

Bên cạnh đó, giá thành xây dựng tính trên 1KWh điện cũng đã tăng, hầu hết các nhà đầu tư khi đầu tư mới đều chào giá từ 5,5 – 6 cent/1KWh điện, trong khi giá bán điện thành phẩm trong nước chỉ khoảng 5,2 cent/1KWh. Thêm vào đó, khả năng cũng cấp điện của hệ thống thủy điện ngày càng giảm, hiện chỉ còn chiếm dưới 30% tỉ trọng điện lên lưới, nên buộc phải chuyển sang sản xuất nhiệt điện, mà chủ yếu là sử dụng nhiên liệu là than. Trong khi giá than thế giới đã tăng đáng kể trong thời gian qua.

Trên tầm vĩ mô, Nhà nước chủ trương giảm dần việc bù chéo giữa giá điện sản xuất và giá điện sinh hoạt (Hiện nay chúng ta đang áp dụng mô hình giá điện sản xuất cao hơn điện sinh hoạt trong khi thế giới lại áp dụng quy trình ngược lại) Hơn thế, việc tăng giá điện lần này hoàn toàn phù hợp với lộ trình mà Chính phủ đã đặt ra, theo đó, đến năm 2012, phấn đấu đưa giá điện tiệm cận với giá thị trường. Điều này có nghĩa là, Nhà nước, thay vì tiếp tục bù lỗ giá điện, sẽ để cho ngành điện tự “bơi” theo quy luật thị trường. Nhưng cho đến khi đạt được mục tiêu này, Chính phủ sẽ vẫn thực hiện việc bù lỗ, nhưng mức độ sẽ được giảm dần theo các năm.

Đặc biệt, việc điều chính giá điện lần này còn hướng đến mục tiêu khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, loại bỏ dần những dây chuyền, thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu hao lượng điện năng lớn, đồng thời, việc tăng giá cũng sẽ khiến người tiêu dùng (cả tiêu dùng cho sinh hoạt và sản xuất) phải tiết kiệm điện năng.

Với phương án tăng giá điện trung bình 6,8% (Cụ thể: Giá điện sinh hoạt tăng 6,8%; cho sản xuất tăng 6,3%; tại các cơ quan hành chính tăng 6,1%) theo tính toán của Bộ Công Thương, sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt với toàn ngành công nghiệp sẽ chỉ tác động tăng giá thành không quá 1%.

Và, một điều hết sức quan trọng, là theo quy định của Chính phủ, việc điều chỉnh giá điện sẽ chỉ được thực hiện  1 lần/năm. Nghĩa là, sẽ không có bất cứ sự điều chỉnh nào được thực hiện cho đến trước tháng 3/2011. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến biện pháp hỗ trợ rất thỏa đáng đối với người nghèo, người có thu nhập thấp bằng việc quy định không tăng giá đối với 50kwh tiêu thụ đầu tiên.

Đối với việc tăng giá than, mặc dù đã gây ra tâm lý lo ngại cho nhiều người, nhất là những hộ tiêu thụ than lớn, nhưng có lẽ do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, nên nhiều người chưa hiểu rõ nguyên tắc tăng giá than lần này. Bộ Công Thương đã chính thức khẳng định, giá than chỉ tăng đối với ngành điện, còn với các hộ tiêu dùng khác, sẽ vẫn thực hiện theo cơ chế giá thị trường như trước đây.

Như vậy, việc tăng giá than lần này chỉ tác động làm tăng giá điện. Mà như đã phân tích ở trên, dù giá điện có tăng nhưng tác động chung đến việc tăng giá đầu ra sản xuất và tiêu dùng là không đáng kể.

Về việc điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND hồi giữa tháng 2/2010 theo Thông tư số 03/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (Cụ thể, kể từ ngày 11/2/2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế, trừ tổ chức tín dụng tại tổ chức tín dụng tối đa là 1,0%/năm. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 tăng 603 đồng, tương ứng 3,3% so tỉ giá ngày ngày trước đó) ít nhiều đã gây nên mối quan ngại về khả năng hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu sẽ chịu tác động tăng thêm chi phí.

Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng thời điểm ban hành chính sách này thì có thể thấy, những tác động dù có, nhưng không gây sốc cho thị trường. Thời điểm được lựa chọn là ngay sau Tết Nguyên đán - khi tỷ giá thị trường tự do đang ở mức thấp nhất trong vòng nhiều tháng qua do người dân và doanh nghiệp đa phần đã ngừng các giao dịch tài chính để mua sắm, những xáo động về tâm lý đã được giảm thiểu.

Với cách chọn thời điểm này, chính sách ban hành ra đã không làm cho thị trường những phản ứng thái quá, nóng vội gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia thị trường. Do đó, mặc dù thị trường có phản ứng trái chiều, nhưng những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý là khá cao.

Hơn nữa, từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước lớn bán lại ngoại tệ cho ngân hàng thương mại, tuy chưa đạt được kết quả như mong muốn, nhưng đã phần nào cải thiện tình hình thị trường ngoại hối, tăng tính thanh khoản cho thị trường. Do đó, cùng với việc điều chỉnh mạnh tỉ giá nói trên, Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện quyết tâm cải thiện mối quan hệ giữa VND và USD ở mức hợp lý hơn và nếu các doanh nghiệp sử dụng vốn vay bằng USD một cách hiệu quả thì hoàn toàn có khả năng bù cho khoản chênh lệch tỉ giá này.

Mặc dù hiện nay chưa thể đánh giá hết những tác động trong dài hạn của Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, nhất là trong điều kiện vấn đề nhập siêu cao chưa được giải quyết, khả năng mất cân đối cung - cầu ngoại tệ vẫn hiện hữu và vấn đề chênh lệch tỉ giá giữa hai thị trường chính thức và không chính thức chưa được giải quyết thấu đáo, song tâm lý lo ngại thái quá cũng không phải là cách phản ứng khôn ngoan trong thời điểm hiện nay.

Cần ngăn chặn “lạm phát tâm lý”

Từ những phân tích trên có thể nói, việc quan ngại của người dân và doanh nghiệp trước nguy cơ tăng giá trên thị trường là có thật. Song, tâm lý lo lắng này lại suất phát từ cách nhìn nhận chưa thấu đáo về vấn đề tăng giá điện, than và điều chính tỉ giá hối đoái và lãi suất đồng USD.

Đây cũng chính là nguyên nhân “mớ rau muống cũng tăng giá theo giá điện” dù ai cũng biết rằng, trong cơ cấu chi phí “đầu vào” để sản xuất được một mớ rau muống thì tỉ trọng tiêu thụ điện năng gần như là bằng 0.

Nhưng dù sao, những hiệu ứng tâm lý này trên thị trường cũng đã gây ra những tác đọng nhất định đến không chỉ người tiêu dùng, các doanh nghiệp, các chuyên gia mà cả cơ quan quản lý nhà nước.

Có thể nói, ít có năm nào mà ngay từ kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 2, bên cạnh các vấn đề kinh tế xã hội, nội dung quan trọng nhất của phiên họp là bàn về vấn đề đang được dư luận đặc biệt quan tâm hiện nay là lạm phát - nguyên nhân và các giải pháp. Tại cuộc họp này, từ những báo cáo, phân tích của các Bộ, ngành, Chính phủ nhận định trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội, mặc dù còn khó khăn nhưng đã có bước tăng trưởng khá. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,6%; sản xuất nông nghiệp dần đi vào ổn định; lĩnh vực thương mại, dịch vụ đã có dấu hiệu phục hồi khả quan với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 2 tháng đầu năm ư­ớc tăng 27,4% so với cùng kỳ năm 2009; xuất, nhập khẩu cũng đạt khá với tổng kim ngạch xuất khẩu ước tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2009, với nhiều mặt hàng chế biến có mức tăng khá cao, nhất là thủy sản, dệt may, đồ gỗ, dây và cáp điện…

Trong hai tháng qua, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tuy có tăng song không có đột biến xảy ra. So với tháng 1/2010, tháng 2/2010 CPI tăng 1,96% và tăng 3,35% so với tháng 12/2009. Nếu loại trừ hai năm có diễn biến bất thường là năm 2008 lạm phát cao và năm 2009 kinh tế suy giảm, thì sô với các năm trong giai đoạn từ 2003 – 2007, CPI 2 tháng đầu năm nay vẫn tuân theo quy luật chung với mức tăng bình quân của các năm.

Tuy nhiên, Chính phủ cũng thẳng thắn nhận trách nhiệm về việc để phát sinh tâm lý lo ngại lạm phát cao trở lại trong xã hội do một số mặt hàng thiết yếu tăng giá vào dịp Tết; cộng thêm các dự báo lạm phát cao trong các tháng cuối năm 2009 cũng như những nhận định về việc kinh tế thế giới sẽ phục hồi léo theo sự tăng giá các mặt hàng nói chung. Vì vậy, việc tăng giá của của 2 tháng đầu năm 2010, nếu trong điều kiện bình thường có lẽ đã không gây nhiều băn khoăn cho dư luận xã hội, nhưng trong tình hình hiện nay Chính phủ phải nghiêm túc xem xét vấn đề kiềm chế được lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Cũng tại cuộc họp báo này, ông Lê Đức Thúy - Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho biết, vấn đề đáng quan tâm là CPI tháng 3/2010, trước những tác động tăng giá xăng, điện, nước, tỷ giá hối đoái... trong thời gian gần đây, các bộ ngành đều dự đoán giá cả tháng 3 sẽ tăng nhưng đều cho rằng ở mức dưới 1%. Cụ thể Uỷ ban giám sát tài chính dự kiến mức tăng là 0,5-1%; Bộ Tài chính dự báo tăng 0,5-0,75%, trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán mức tăng khoảng 1%.

Ông Thúy khẳng định, khó có chuyện lạm phát cả năm vượt lớn hơn một con số, bởi theo nhận định, cả quý I, mức tăng giá cũng chỉ khoảng 4% và theo thực tiễn nhiều năm qua, giá quý I sẽ chiếm 40-50% mức tăng giá cả năm, nên lạm phát cả năm sẽ ở khoảng 8-9%, nếu điều hành tốt thì hoàn toàn có thể có khả năng đạt được mức 7% như Quốc hội đã đặt ra

Như vậy, dường như thị trường đã phản ứng trước những chính sách tăng giá điện, than và điều chỉnh tỉ giá hối đoán thời gian qua, dẫn đến hiệu ứng “lạm phát tâm lý” hiện nay. Tuy nhiên, theo một chuyên gia của Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, thì hiệu ứng tâm lý này, dù không thể lượng hóa, song sẽ có tác động rất lớn đến không chỉ người tiêu dùng, doanh nghiệp mà nhiều khí, có thể tác động đến cả việc đưa ra các quyết sách của cơ quan quản lý nhà nước.

Do đó, việc cần thiết lúc này là các cơ quan ban hành chính sách cần thực hiện ngay việc giải trình, càng rõ ràng càng tốt, nguyên nhân, mục đích cũng như nguyên tắc đối với các chính sách của mình ban hành. Bên cạnh đó, Cũng cần có những “biện pháp mạnh tay” đối với những hiện tượng “tát nước theo mưa” tăng giá bất hợp lý trên thị trường, không để dân và doanh nghiệp hoang mang.

Hoàng Châu

CÔNG THƯƠNG

Thận trọng với “lạm phát tâm lý”  

Khi thị trường vẫn chịu áp lực tăng giá trong dịp Tết, thì Ngân hàng Nhà nước đã quy định tăng tỉ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND. Tiếp đến, đầu tháng 3/2010, Chính phủ quyết định tăng giá điện, than. Giá xăng dầu, nước cũng được điều chỉnh tăng đã tạo ra trên thị trường tâm lý lo ngại lạm phát cao trở lại.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, mối quan ngại nói trên là có thật, song chủ yếu xuất phát từ hiệu ứng tâm lý dẫn đến sự “lạm phát tâm lý”.

Áp lực tăng giá là có…

Ông Phạm Chí Cường - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam - cho biết: Hiện nay, ngành thép chủ yếu sản xuất bằng lò điện với lượng tiêu thụ khoảng 600-700KWh điện để sản xuất ra 1 tấn phôi và 100-125KWh điện để cán được 1 tấn thép.

Với tỉ lệ tăng giá điện trung bình 6,8% sẽ tương ứng với mức tăng thêm trong giá bán thép thành phẩm từ 0,2 – 0,69% tùy thuộc vào mức độ tiêu hao điện năng (mức độ tiên tiến) của công nghệ. Như vậy, tuy tăng không lớn song việc tăng giá điện cũng đã tác động khiến giá thành thép tăng lên.

Việc tăng giá điện, than còn là nhân tố khiến giá sản phẩm của các ngành xi măng, giấy, dệt may, nhựa... tăng theo. Ông Nguyễn Văn Điệp - Chánh Văn phòng Hiệp hội Xi măng Việt Nam – cho biết, năm 2009, giá than tăng đã khiến giá xi măng tăng thêm khoảng 10%, và việc tăng giá điện lên 6,8% trong năm nay sẽ tiếp tục khiến giá thành sản xuất xi măng tăng thêm khoảng 2-3% nữa. Tính chung các yếu tố tác động từ việc tăng giá điện và than thì tới đây, giá xi măng thành phẩm sẽ tăng thêm khoảng 100.000đồng/tấn.

Với lĩnh vực dệt may, ông Lê Quốc Ân - Chủ tịch Hiệp hội dệt may – cho biết, bước vào năm 2010, các doanh nghiệp dệt may đang đối phó với hàng loạt các khó khăn, trong đó có việc tăng giá đầu vào sản xuất mà trước hết là việc tăng lãi suất ngân hàng. “Dù lãi suất cơ bản theo quy định chỉ có 8% và trần lãi suất là 12% nhưng các doanh nghiệp vẫn phải vay với lãi suất cao, từ 15 – 20% (Ngân hàng áp dụng nhiều hình thức không chính thức khác nhau). Trong khi đó, khoảng 50% vốn lưu động của các doanh nghiệp dệt may là từ nguồn vay ngân hàng.

Cùng với đó, việc tăng giá điện và xăng, dầu cũng sẽ tạo thêm khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may. Với chi phí tiền điện chiếm khoảng 30% trong tổng chi phí chế biến và kéo sợi; chiếm 10% trong chi phí chế biến sản xuất vải và may, thì với mức tăng 6,8% giá điện sẽ tương ứng với mức tăng khoảng 2% trong chi phí kéo sợi và gần 0,7% chi phí chế biến vải và may. Ngoài ra, chi phí xăng, dầu (chủ yếu là dầu) chiếm khoảng 27% trong chí phí hoàn thiện vải, với những biến động liên tục của giá xăng, dầu như vừa qua, các doanh nghiệp dệt may sẽ thêm khó khăn.

Tuy nhiên, cũng đã có một tín hiệu vui khi ông Ân khẳng định: “Năm 2010, chúng tôi đặt chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 10,5 triệu USD và khả năng đạt được là khá cao, dù khó khăn còn nhiều”.

Còn ông Lê Bá Lịch - Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam –  chia sẻ, giá điện tăng 6,8% sẽ buộc giá thức ăn chăn nuôi tăng ít nhất 10% thì các nhà sản xuất mới có lãi. Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đang tính toán cụ thể mức tăng cho từng loại sản phẩm, dự kiến sẽ công bố giá mới trong vài ngày tới.

Ít quan ngại hơn, ông Đỗ Hào Nam - Chủ tịch Hiệp hội hồ tiêu Việt Nam – cho biết, tuy tronh ngành cà phê, sản xuất công nghiệp để chế biến sản phẩm chất lượng cao không nhiều, nên mức độ ảnh hưởng từ việc tăng giá điện là không đáng kể. Song, với hàng loạt các mặt hàng tăng giá, như: Thuốc trừ sâu, phân bón, nhân công chăm sóc, thu hái, rồi cước vận chuyển… thì người trồng hồ tiêu vẫn sẽ chịu thiệt thòi.

Trong lĩnh vực sản xuất phân bón, lành đạo Hiệp hội phân bón nhận định, cùng một lúc cả giá điện và giá than đều tăng sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất nên việc tăng giá phân bón trong thời gian tới là bất khả kháng. Ngày 12 -3 tới đây, Hiệp hội sẽ có cuộc hội thảo về phân bón năm 2010, đồng thời sẽ đề nghị với Bộ Tài Chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho tăng giá các sản phẩm phân bón với mức cụ thể theo đề nghị của các doanh nghiệp.

Song song với việc các ngành sản xuất chủ chốt đang tính toán cụ thể từng mức tăng giá sản phẩm, thì trên thị trường, nhiều mặt hàng đã không đợi đến sau thời điểm 1/3/2010 – thời điểm quyết định tăng giá điện có hiệu lực – đã rục rịch tăng giá từ trước đó. Phóng viên đã ghi nhận nhiều mặt hàng tiêu dùng như một số nhãn hiệu sữa, gas và một số nhu yếu phẩm khác... đã niên yết giá mới với mức tăng rõ rệt. Nguyên nhân tăng giá được hầu hết các nhà sản xuất, nhà cung cấp đưa ra là do ảnh hưởng tỷ giá và giá nguyên liệu cũng như chi phí sản xuất, vận chuyển tăng.

Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng thể thì xu hướng tăng giá dường như không tạo thành “đợt sóng” lớn với độ lan tỏa rộng. Khoảng chênh lệch giá so sánh giữa hai thời điểm trước và sau khi giá điện, than và xăng dầu được điều chỉnh là không quá lớn và có thể chấp nhận được đối với cả người tiêu dùng và người sản xuất.

…nhưng có đáng lo ngại?

Để trả lời được câu hỏi này, phải đi sâu phân tích nguyên nhân, mục đích cũng như những ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái, tăng giá điện và than. Đồng thời, cũng cần xem xét vấn đề trong mối tương quan giữa mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát mà Chính phủ đã đặt mục tiêu trong năm nay.

Trước hết, về vấn đề tăng giá điện và than. Theo Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào, thì việc tăng giá điện và than chắc chắn có ảnh hưởng đến các lĩnh vực sản xuất, nhất là những lĩnh vực có tỉ trọng tiêu thụ điện lớn trong cơ cấu “đầu vào”. Song, Thứ trưởng Hào khẳng định, những tác động này là không đáng ngại. Phân tích cho nhận định của mình, Thứ trưởng Hào cho biết, trước hết, phải xem xét nguyên nhân tăng giá điện lần này. Theo đó, hiện nay hầu hết các nguyên vật liệu đầu vào của ngành điện (Máy móc, thiết bị, khí, dầu DO, giá nhân công…) đều đã tăng giá.

Bên cạnh đó, giá thành xây dựng tính trên 1KWh điện cũng đã tăng, hầu hết các nhà đầu tư khi đầu tư mới đều chào giá từ 5,5 – 6 cent/1KWh điện, trong khi giá bán điện thành phẩm trong nước chỉ khoảng 5,2 cent/1KWh. Thêm vào đó, khả năng cũng cấp điện của hệ thống thủy điện ngày càng giảm, hiện chỉ còn chiếm dưới 30% tỉ trọng điện lên lưới, nên buộc phải chuyển sang sản xuất nhiệt điện, mà chủ yếu là sử dụng nhiên liệu là than. Trong khi giá than thế giới đã tăng đáng kể trong thời gian qua.

Trên tầm vĩ mô, Nhà nước chủ trương giảm dần việc bù chéo giữa giá điện sản xuất và giá điện sinh hoạt (Hiện nay chúng ta đang áp dụng mô hình giá điện sản xuất cao hơn điện sinh hoạt trong khi thế giới lại áp dụng quy trình ngược lại) Hơn thế, việc tăng giá điện lần này hoàn toàn phù hợp với lộ trình mà Chính phủ đã đặt ra, theo đó, đến năm 2012, phấn đấu đưa giá điện tiệm cận với giá thị trường. Điều này có nghĩa là, Nhà nước, thay vì tiếp tục bù lỗ giá điện, sẽ để cho ngành điện tự “bơi” theo quy luật thị trường. Nhưng cho đến khi đạt được mục tiêu này, Chính phủ sẽ vẫn thực hiện việc bù lỗ, nhưng mức độ sẽ được giảm dần theo các năm.

Đặc biệt, việc điều chính giá điện lần này còn hướng đến mục tiêu khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, loại bỏ dần những dây chuyền, thiết bị có công nghệ lạc hậu, tiêu hao lượng điện năng lớn, đồng thời, việc tăng giá cũng sẽ khiến người tiêu dùng (cả tiêu dùng cho sinh hoạt và sản xuất) phải tiết kiệm điện năng.

Với phương án tăng giá điện trung bình 6,8% (Cụ thể: Giá điện sinh hoạt tăng 6,8%; cho sản xuất tăng 6,3%; tại các cơ quan hành chính tăng 6,1%) theo tính toán của Bộ Công Thương, sẽ ảnh hưởng không đáng kể đến các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt với toàn ngành công nghiệp sẽ chỉ tác động tăng giá thành không quá 1%.

Và, một điều hết sức quan trọng, là theo quy định của Chính phủ, việc điều chỉnh giá điện sẽ chỉ được thực hiện  1 lần/năm. Nghĩa là, sẽ không có bất cứ sự điều chỉnh nào được thực hiện cho đến trước tháng 3/2011. Ngoài ra, cũng cần chú ý đến biện pháp hỗ trợ rất thỏa đáng đối với người nghèo, người có thu nhập thấp bằng việc quy định không tăng giá đối với 50kwh tiêu thụ đầu tiên.

Đối với việc tăng giá than, mặc dù đã gây ra tâm lý lo ngại cho nhiều người, nhất là những hộ tiêu thụ than lớn, nhưng có lẽ do công tác tuyên truyền chưa hiệu quả, nên nhiều người chưa hiểu rõ nguyên tắc tăng giá than lần này. Bộ Công Thương đã chính thức khẳng định, giá than chỉ tăng đối với ngành điện, còn với các hộ tiêu dùng khác, sẽ vẫn thực hiện theo cơ chế giá thị trường như trước đây.

Như vậy, việc tăng giá than lần này chỉ tác động làm tăng giá điện. Mà như đã phân tích ở trên, dù giá điện có tăng nhưng tác động chung đến việc tăng giá đầu ra sản xuất và tiêu dùng là không đáng kể.

Về việc điều chỉnh tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND hồi giữa tháng 2/2010 theo Thông tư số 03/2010/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (Cụ thể, kể từ ngày 11/2/2010, mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng USD của tổ chức kinh tế, trừ tổ chức tín dụng tại tổ chức tín dụng tối đa là 1,0%/năm. Tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa USD và VND áp dụng cho ngày 11/2/2010 tăng 603 đồng, tương ứng 3,3% so tỉ giá ngày ngày trước đó) ít nhiều đã gây nên mối quan ngại về khả năng hàng hoá và nguyên liệu nhập khẩu sẽ chịu tác động tăng thêm chi phí.

Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng thời điểm ban hành chính sách này thì có thể thấy, những tác động dù có, nhưng không gây sốc cho thị trường. Thời điểm được lựa chọn là ngay sau Tết Nguyên đán - khi tỷ giá thị trường tự do đang ở mức thấp nhất trong vòng nhiều tháng qua do người dân và doanh nghiệp đa phần đã ngừng các giao dịch tài chính để mua sắm, những xáo động về tâm lý đã được giảm thiểu.

Với cách chọn thời điểm này, chính sách ban hành ra đã không làm cho thị trường những phản ứng thái quá, nóng vội gây thiệt hại cho các chủ thể tham gia thị trường. Do đó, mặc dù thị trường có phản ứng trái chiều, nhưng những hiệu quả đạt được trong công tác quản lý là khá cao.

Hơn nữa, từ năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các doanh nghiệp, tập đoàn Nhà nước lớn bán lại ngoại tệ cho ngân hàng thương mại, tuy chưa đạt được kết quả như mong muốn, nhưng đã phần nào cải thiện tình hình thị trường ngoại hối, tăng tính thanh khoản cho thị trường. Do đó, cùng với việc điều chỉnh mạnh tỉ giá nói trên, Ngân hàng Nhà nước đã thể hiện quyết tâm cải thiện mối quan hệ giữa VND và USD ở mức hợp lý hơn và nếu các doanh nghiệp sử dụng vốn vay bằng USD một cách hiệu quả thì hoàn toàn có khả năng bù cho khoản chênh lệch tỉ giá này.

Mặc dù hiện nay chưa thể đánh giá hết những tác động trong dài hạn của Thông tư số 03/2010/TT-NHNN, nhất là trong điều kiện vấn đề nhập siêu cao chưa được giải quyết, khả năng mất cân đối cung - cầu ngoại tệ vẫn hiện hữu và vấn đề chênh lệch tỉ giá giữa hai thị trường chính thức và không chính thức chưa được giải quyết thấu đáo, song tâm lý lo ngại thái quá cũng không phải là cách phản ứng khôn ngoan trong thời điểm hiện nay.

Cần ngăn chặn “lạm phát tâm lý”

Từ những phân tích trên có thể nói, việc quan ngại của người dân và doanh nghiệp trước nguy cơ tăng giá trên thị trường là có thật. Song, tâm lý lo lắng này lại suất phát từ cách nhìn nhận chưa thấu đáo về vấn đề tăng giá điện, than và điều chính tỉ giá hối đoái và lãi suất đồng USD.

Đây cũng chính là nguyên nhân “mớ rau muống cũng tăng giá theo giá điện” dù ai cũng biết rằng, trong cơ cấu chi phí “đầu vào” để sản xuất được một mớ rau muống thì tỉ trọng tiêu thụ điện năng gần như là bằng 0.

Nhưng dù sao, những hiệu ứng tâm lý này trên thị trường cũng đã gây ra những tác đọng nhất định đến không chỉ người tiêu dùng, các doanh nghiệp, các chuyên gia mà cả cơ quan quản lý nhà nước.

Có thể nói, ít có năm nào mà ngay từ kỳ họp Chính phủ thường kỳ tháng 2, bên cạnh các vấn đề kinh tế xã hội, nội dung quan trọng nhất của phiên họp là bàn về vấn đề đang được dư luận đặc biệt quan tâm hiện nay là lạm phát - nguyên nhân và các giải pháp. Tại cuộc họp này, từ những báo cáo, phân tích của các Bộ, ngành, Chính phủ nhận định trong tháng 2 và 2 tháng đầu năm 2010, tình hình kinh tế - xã hội, mặc dù còn khó khăn nhưng đã có bước tăng trưởng khá. Trong đó, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 13,6%; sản xuất nông nghiệp dần đi vào ổn định; lĩnh vực thương mại, dịch vụ đã có dấu hiệu phục hồi khả quan với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong 2 tháng đầu năm ư­ớc tăng 27,4% so với cùng kỳ năm 2009; xuất, nhập khẩu cũng đạt khá với tổng kim ngạch xuất khẩu ước tăng 0,1% so với cùng kỳ năm 2009, với nhiều mặt hàng chế biến có mức tăng khá cao, nhất là thủy sản, dệt may, đồ gỗ, dây và cáp điện…

Trong hai tháng qua, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tuy có tăng song không có đột biến xảy ra. So với tháng 1/2010, tháng 2/2010 CPI tăng 1,96% và tăng 3,35% so với tháng 12/2009. Nếu loại trừ hai năm có diễn biến bất thường là năm 2008 lạm phát cao và năm 2009 kinh tế suy giảm, thì sô với các năm trong giai đoạn từ 2003 – 2007, CPI 2 tháng đầu năm nay vẫn tuân theo quy luật chung với mức tăng bình quân của các năm.

Tuy nhiên, Chính phủ cũng thẳng thắn nhận trách nhiệm về việc để phát sinh tâm lý lo ngại lạm phát cao trở lại trong xã hội do một số mặt hàng thiết yếu tăng giá vào dịp Tết; cộng thêm các dự báo lạm phát cao trong các tháng cuối năm 2009 cũng như những nhận định về việc kinh tế thế giới sẽ phục hồi léo theo sự tăng giá các mặt hàng nói chung. Vì vậy, việc tăng giá của của 2 tháng đầu năm 2010, nếu trong điều kiện bình thường có lẽ đã không gây nhiều băn khoăn cho dư luận xã hội, nhưng trong tình hình hiện nay Chính phủ phải nghiêm túc xem xét vấn đề kiềm chế được lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Cũng tại cuộc họp báo này, ông Lê Đức Thúy - Chủ tịch Ủy ban giám sát tài chính quốc gia cho biết, vấn đề đáng quan tâm là CPI tháng 3/2010, trước những tác động tăng giá xăng, điện, nước, tỷ giá hối đoái... trong thời gian gần đây, các bộ ngành đều dự đoán giá cả tháng 3 sẽ tăng nhưng đều cho rằng ở mức dưới 1%. Cụ thể Uỷ ban giám sát tài chính dự kiến mức tăng là 0,5-1%; Bộ Tài chính dự báo tăng 0,5-0,75%, trong khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán mức tăng khoảng 1%.

Ông Thúy khẳng định, khó có chuyện lạm phát cả năm vượt lớn hơn một con số, bởi theo nhận định, cả quý I, mức tăng giá cũng chỉ khoảng 4% và theo thực tiễn nhiều năm qua, giá quý I sẽ chiếm 40-50% mức tăng giá cả năm, nên lạm phát cả năm sẽ ở khoảng 8-9%, nếu điều hành tốt thì hoàn toàn có thể có khả năng đạt được mức 7% như Quốc hội đã đặt ra

Như vậy, dường như thị trường đã phản ứng trước những chính sách tăng giá điện, than và điều chỉnh tỉ giá hối đoán thời gian qua, dẫn đến hiệu ứng “lạm phát tâm lý” hiện nay. Tuy nhiên, theo một chuyên gia của Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, thì hiệu ứng tâm lý này, dù không thể lượng hóa, song sẽ có tác động rất lớn đến không chỉ người tiêu dùng, doanh nghiệp mà nhiều khí, có thể tác động đến cả việc đưa ra các quyết sách của cơ quan quản lý nhà nước.

Do đó, việc cần thiết lúc này là các cơ quan ban hành chính sách cần thực hiện ngay việc giải trình, càng rõ ràng càng tốt, nguyên nhân, mục đích cũng như nguyên tắc đối với các chính sách của mình ban hành. Bên cạnh đó, Cũng cần có những “biện pháp mạnh tay” đối với những hiện tượng “tát nước theo mưa” tăng giá bất hợp lý trên thị trường, không để dân và doanh nghiệp hoang mang.

Hoàng Châu

CÔNG THƯƠNG

 

Bài viết cùng chủ đề:

  • Bản in

  • Email

  • Chia sẻ

  • Về đầu trang

  • 1

  • 2

  • 3

Chứng khoán 24h

Close
  • Việt Nam

  • Mỹ

  • Châu Âu

  • Châu Á

Tin mới nhất:

Tra cứu chứng khoán

Close

Close