Thứ Năm, 29/07/2010 | 08:05
Đọc sách |
Thảo luận: 0
|
A
Xuất khẩu thủy sản nửa đầu năm 2010: Khó khăn chồng chất
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang vướng phải những khó khăn có những ràng buộc trong quy định các hoạt động đánh bắt thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) của EU. Xuất khẩu của ngành này sẽ vẫn còn tiếp tục gặp khó khăn trong 6 tháng cuối năm.
Khó vì quy định IUU…
Phát biểu tại Hội nghị “Đánh giá tình hình thực hiện chứng nhận thủy sản khai thác theo quyết định của IUU được tổ chức tại TPHCM hôm 22/7/2010, ông Hoàng Đình Yên - Phó cục trưởng, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cho biết, do ảnh hưởng bởi IUU, giá trị xuất khẩu hải sản 6 tháng đầu năm nay giảm 11% so với cùng kỳ 2009. Ngoài ra, một số doanh nghiệp xuất khẩu nhuyễn thể như nghêu vào thị trường châu Âu cũng đang bị ngưng trệ do nhà nhập khẩu yêu cầu giấy chứng nhận với nghêu nuôi và khai thác bằng tay của Việt Nam. Ngay cả đối với giấy chứng nhận, do chưa có sự thống nhất của các nước trong cộng đồng châu Âu nên mỗi nơi một kiểu; một số nước như Pháp yêu cầu sử dụng tiếng Pháp trong giấy chứng nhận khi xuất vào thị trường này. Theo quy định, giấy chứng nhận (C/C) phải là bản gốc gửi kèm theo lô hàng khi đến cảng. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp chia hàng từ một giấy chứng nhận để xuất cho nhiều nhà nhập khẩu nên không thể có C/C gốc. Điều này đã làm một số lô hàng và doanh nghiệp gặp khó khăn khi xuất khẩu.
Việc ghi nhật ký khai thác thủy sản đã được triển khai cùng với công tác cấp chứng nhận thủy sản khai thác. “Nhưng đến nay do ý thức, thói quen của bà con ngư dân nên việc thực hiện vẫn chưa tốt, cũng đã ảnh hưởng đến việc chứng nhận thủy sản khai thác cho doanh nghiệp”, ông Yên, nhận xét. Cũng liên quan đến những khó khăn khi thực hiện quy định IUU, ông Nguyễn Hữu Nghĩa - Trưởng phòng Chất lượng Công ty cổ phần Gò Đàng, nêu ra một bất cập khác. Nghề cá Việt Nam có quy mô nhỏ, số lượng tàu thuyền nhiều; theo quy định mỗi giấy chứng nhận khai thác chỉ cấp cho một tàu (với tàu lớn hơn 90 CV) dẫn đến hiện tượng một lô hàng mua của nhiều tàu thì cần rất nhiều giấy chứng nhận, do vậy mất rất nhiều thời gian, khó khăn cho cả Chi cục cấp phép lẫn doanh nghiệp. “Trình độ nhận thức của ngư dân, doanh nghiệp chưa cao, việc thực hiện khai báo trong giấy chứng nhận chưa nghiêm túc, thông tin không đầy đủ, không báo cáo hoặc báo cáo sai, không phù hợp với nghề và công suất tàu khai thác” - ông Nghĩa phân tích thêm. Trong khi đó việc ghi nhật ký khai thác mới được tổ chức thực hiện nên ngư dân chưa hình thành được thói quen này. Đại diện các Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của các tỉnh thành phía Nam cũng thừa nhận, những cơ quan này đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực để thực hiện việc chứng nhận thủy sản khai thác. Một số doanh nghiệp mua sản phẩm qua nhiều nậu vựa, từ các tàu đã bị xóa đăng ký và giấy phép khai thác đã hết hạn, nên không xin được chứng nhận thủy sản khai thác gây khó khăn cho các cơ quan thẩm quyền.
Việc chứng nhận thủy sản khai thác theo quy định của Ủy ban châu Âu hiện vẫn chưa có được sự thống nhất về nhận thức giữa các nước thành viên của cộng đồng châu Âu cũng như giữa châu Âu với các nước thứ ba
… và vì thị trường
Ngoài những quy định của IUU, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phải đối mặt với những khó khăn khác. Theo nhiều doanh nghiệp, nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu bắt đầu khan hiếm do những diễn biến bất thường của thời tiết. Điều này làm tăng giá mua nguyên liệu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu. Bên cạnh đó, giá trị của đồng euro đã giảm mạnh so với đồng đô la Mỹ cũng tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp xuất khẩu vào châu Âu (EU).
Sản phẩm bị ảnh hưởng nặng nề nhất là cá tra, vì sản phẩm này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng xuất khẩu vào thị trường EU. Giá cá tra của Việt Nam xuất khẩu vào EU không tăng, do đồng euro mất giá, khiến các nhà nhập khẩu dè chừng, sản lượng thủy sản xuất khẩu vào thị trường này suy giảm mạnh. Ở thị trường Nga, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn mới. Các nhà nhập khẩu ở Nga đang áp dụng chính sách giảm tỷ lệ mạ băng (lớp đá lạnh dùng để ướp cá) trong thủy sản nhập khẩu từ 20% xuống còn 10%. Do trọng lượng giảm, doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán sản phẩm nhưng không được những nhà nhập khẩu chấp nhận. “Với tỷ lệ mạ băng như cũ, giá bán sản phẩm cá tra tại Nga trung bình là 1,65 đô la Mỹ/tấn, nếu bỏ mạ băng đi bắt buộc phải bán giá 2,05 đô la/kg, chúng tôi mới có lời. Nhưng các đối tác yêu cầu giữ nguyên giá cũ”, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu sang Nga than thở.
Đối với thị trường Nhật, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang tạm dừng xuất khẩu do mức thuế quá cao. Theo Vasep, xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng giềng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm của ta bị cạnh tranh mạnh hơn. Kể từ tháng 4/2010, Thái Lan đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 3,2%, tiếp đó giảm xuống còn 1,6% kể từ tháng 4/2011; giảm xuống còn 0% từ tháng 4/2012. Mức thuế tương tự được giảm theo lộ trình đối với Philippines là 3,6% giảm xuống còn 2,4% từ tháng 4/2011 ở mức 0% từ tháng 4/2013. Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ Việt Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% sang thị trường Nhật.
Cần sớm tháo gỡ
Dù đã đẩy mạnh việc cấp C/C nhằm giải quyết những khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu vào EU nhưng năng lực cấp C/C của các cơ quan chức năng không đáp ứng kịp nhu cầu. Theo ông Yên, tính đến hết ngày 15/6/2010 cả nước đã cấp được 10.794 giấy chứng nhận thủy sản khai thác cho 46.989 tấn thủy sản xuất khẩu vào thị trường châu Âu. Giờ đây nhiều doanh nghiệp kiến nghị, Nhà nước cần sớm thống nhất với cơ quan chuyên môn của Ủy ban châu Âu để hoàn thiện các biểu mẫu chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu. Đồng thời Bộ NN&PTNT cần sớm ban hành Quyết định về chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu vào thị trường châu Âu nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả cao trong việc tổ chức thực hiện. Phát biểu tại tại hội nghị, đại diện của Bộ này cho biết, Bộ sẽ tiếp tục tập huấn cho ngư dân, doanh nghiệp thực hiện đúng quy định chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu; các Chi cục KT&BVNLTS đẩy mạnh việc tổ chức ghi nhật ký khai thác và báo cáo khai thác của tàu cá, nhất là các tàu cá có công suất lớn hơn 90 CV.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu phải xác định việc chứng nhận thủy sản khai thác vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm để phối hợp chặt chẽ với các chủ tàu cá, cơ sở thu mua, chế biến và Chi cục KT&BVNLTS trong thực hiện chứng nhận. Trên cơ sở đó xây dựng mối liên kết giữa chủ tàu - nậu vựa - chủ hàng xuất khẩu - cơ quan cấp giấy chứng nhận khai thác. Riêng về việc các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đang gặp khó ở thị trường Nhật Bản, Vasep đã đề xuất Bộ Công Thương đưa kiến nghị giảm thuế nhập khẩu cá ngừ vào Nhật Bản ra các kỳ đàm phán giữa hai nước. Vasep cũng đang kiến nghị Bộ NN&PTNT bỏ quy định phải đăng ký kiểm dịch đối với thủy sản đông lạnh nhập khẩu (được bảo quản ở nhiệt độ dưới -18 độ). Theo các doanh nghiệp ở nhiệt độ này sản phẩm không còn nguy cơ gây dịch bệnh cho người và động vật. Nếu tiếp tục kiểm tra sẽ gây lãng phí và chậm tiến độ xuất khẩu của doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, Ban điều hành xuất khẩu cá tra cũng đưa ra kiến nghị tăng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này từ 37 hiện nay lên 49 doanh nghiệp.
Nam Trung
Diễn đàn doanh nghiệp
Xuất khẩu thủy sản nửa đầu năm 2010: Khó khăn chồng chất
Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang vướng phải những khó khăn có những ràng buộc trong quy định các hoạt động đánh bắt thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) của EU. Xuất khẩu của ngành này sẽ vẫn còn tiếp tục gặp khó khăn trong 6 tháng cuối năm.
Khó vì quy định IUU…
Phát biểu tại Hội nghị “Đánh giá tình hình thực hiện chứng nhận thủy sản khai thác theo quyết định của IUU được tổ chức tại TPHCM hôm 22/7/2010, ông Hoàng Đình Yên - Phó cục trưởng, Cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cho biết, do ảnh hưởng bởi IUU, giá trị xuất khẩu hải sản 6 tháng đầu năm nay giảm 11% so với cùng kỳ 2009. Ngoài ra, một số doanh nghiệp xuất khẩu nhuyễn thể như nghêu vào thị trường châu Âu cũng đang bị ngưng trệ do nhà nhập khẩu yêu cầu giấy chứng nhận với nghêu nuôi và khai thác bằng tay của Việt Nam. Ngay cả đối với giấy chứng nhận, do chưa có sự thống nhất của các nước trong cộng đồng châu Âu nên mỗi nơi một kiểu; một số nước như Pháp yêu cầu sử dụng tiếng Pháp trong giấy chứng nhận khi xuất vào thị trường này. Theo quy định, giấy chứng nhận (C/C) phải là bản gốc gửi kèm theo lô hàng khi đến cảng. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp chia hàng từ một giấy chứng nhận để xuất cho nhiều nhà nhập khẩu nên không thể có C/C gốc. Điều này đã làm một số lô hàng và doanh nghiệp gặp khó khăn khi xuất khẩu.
Việc ghi nhật ký khai thác thủy sản đã được triển khai cùng với công tác cấp chứng nhận thủy sản khai thác. “Nhưng đến nay do ý thức, thói quen của bà con ngư dân nên việc thực hiện vẫn chưa tốt, cũng đã ảnh hưởng đến việc chứng nhận thủy sản khai thác cho doanh nghiệp”, ông Yên, nhận xét. Cũng liên quan đến những khó khăn khi thực hiện quy định IUU, ông Nguyễn Hữu Nghĩa - Trưởng phòng Chất lượng Công ty cổ phần Gò Đàng, nêu ra một bất cập khác. Nghề cá Việt Nam có quy mô nhỏ, số lượng tàu thuyền nhiều; theo quy định mỗi giấy chứng nhận khai thác chỉ cấp cho một tàu (với tàu lớn hơn 90 CV) dẫn đến hiện tượng một lô hàng mua của nhiều tàu thì cần rất nhiều giấy chứng nhận, do vậy mất rất nhiều thời gian, khó khăn cho cả Chi cục cấp phép lẫn doanh nghiệp. “Trình độ nhận thức của ngư dân, doanh nghiệp chưa cao, việc thực hiện khai báo trong giấy chứng nhận chưa nghiêm túc, thông tin không đầy đủ, không báo cáo hoặc báo cáo sai, không phù hợp với nghề và công suất tàu khai thác” - ông Nghĩa phân tích thêm. Trong khi đó việc ghi nhật ký khai thác mới được tổ chức thực hiện nên ngư dân chưa hình thành được thói quen này. Đại diện các Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản của các tỉnh thành phía Nam cũng thừa nhận, những cơ quan này đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực để thực hiện việc chứng nhận thủy sản khai thác. Một số doanh nghiệp mua sản phẩm qua nhiều nậu vựa, từ các tàu đã bị xóa đăng ký và giấy phép khai thác đã hết hạn, nên không xin được chứng nhận thủy sản khai thác gây khó khăn cho các cơ quan thẩm quyền.
Việc chứng nhận thủy sản khai thác theo quy định của Ủy ban châu Âu hiện vẫn chưa có được sự thống nhất về nhận thức giữa các nước thành viên của cộng đồng châu Âu cũng như giữa châu Âu với các nước thứ ba
… và vì thị trường
Ngoài những quy định của IUU, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phải đối mặt với những khó khăn khác. Theo nhiều doanh nghiệp, nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu bắt đầu khan hiếm do những diễn biến bất thường của thời tiết. Điều này làm tăng giá mua nguyên liệu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hợp đồng xuất khẩu. Bên cạnh đó, giá trị của đồng euro đã giảm mạnh so với đồng đô la Mỹ cũng tác động tiêu cực đến các doanh nghiệp xuất khẩu vào châu Âu (EU).
Sản phẩm bị ảnh hưởng nặng nề nhất là cá tra, vì sản phẩm này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng xuất khẩu vào thị trường EU. Giá cá tra của Việt Nam xuất khẩu vào EU không tăng, do đồng euro mất giá, khiến các nhà nhập khẩu dè chừng, sản lượng thủy sản xuất khẩu vào thị trường này suy giảm mạnh. Ở thị trường Nga, nhiều doanh nghiệp đang phải đối mặt với những khó khăn mới. Các nhà nhập khẩu ở Nga đang áp dụng chính sách giảm tỷ lệ mạ băng (lớp đá lạnh dùng để ướp cá) trong thủy sản nhập khẩu từ 20% xuống còn 10%. Do trọng lượng giảm, doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán sản phẩm nhưng không được những nhà nhập khẩu chấp nhận. “Với tỷ lệ mạ băng như cũ, giá bán sản phẩm cá tra tại Nga trung bình là 1,65 đô la Mỹ/tấn, nếu bỏ mạ băng đi bắt buộc phải bán giá 2,05 đô la/kg, chúng tôi mới có lời. Nhưng các đối tác yêu cầu giữ nguyên giá cũ”, giám đốc một doanh nghiệp xuất khẩu sang Nga than thở.
Đối với thị trường Nhật, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang tạm dừng xuất khẩu do mức thuế quá cao. Theo Vasep, xuất khẩu cá ngừ sang Nhật Bản của các nước láng giềng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi khiến sản phẩm của ta bị cạnh tranh mạnh hơn. Kể từ tháng 4/2010, Thái Lan đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 3,2%, tiếp đó giảm xuống còn 1,6% kể từ tháng 4/2011; giảm xuống còn 0% từ tháng 4/2012. Mức thuế tương tự được giảm theo lộ trình đối với Philippines là 3,6% giảm xuống còn 2,4% từ tháng 4/2011 ở mức 0% từ tháng 4/2013. Trong khi đó, doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ Việt Nam vẫn đang phải chịu mức thuế cao hơn 40% so với các nước này, tương đương 7,2% sang thị trường Nhật.
Cần sớm tháo gỡ
Dù đã đẩy mạnh việc cấp C/C nhằm giải quyết những khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu vào EU nhưng năng lực cấp C/C của các cơ quan chức năng không đáp ứng kịp nhu cầu. Theo ông Yên, tính đến hết ngày 15/6/2010 cả nước đã cấp được 10.794 giấy chứng nhận thủy sản khai thác cho 46.989 tấn thủy sản xuất khẩu vào thị trường châu Âu. Giờ đây nhiều doanh nghiệp kiến nghị, Nhà nước cần sớm thống nhất với cơ quan chuyên môn của Ủy ban châu Âu để hoàn thiện các biểu mẫu chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu. Đồng thời Bộ NN&PTNT cần sớm ban hành Quyết định về chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu vào thị trường châu Âu nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả cao trong việc tổ chức thực hiện. Phát biểu tại tại hội nghị, đại diện của Bộ này cho biết, Bộ sẽ tiếp tục tập huấn cho ngư dân, doanh nghiệp thực hiện đúng quy định chứng nhận thủy sản khai thác xuất khẩu; các Chi cục KT&BVNLTS đẩy mạnh việc tổ chức ghi nhật ký khai thác và báo cáo khai thác của tàu cá, nhất là các tàu cá có công suất lớn hơn 90 CV.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp xuất khẩu phải xác định việc chứng nhận thủy sản khai thác vừa là quyền lợi vừa là trách nhiệm để phối hợp chặt chẽ với các chủ tàu cá, cơ sở thu mua, chế biến và Chi cục KT&BVNLTS trong thực hiện chứng nhận. Trên cơ sở đó xây dựng mối liên kết giữa chủ tàu - nậu vựa - chủ hàng xuất khẩu - cơ quan cấp giấy chứng nhận khai thác. Riêng về việc các doanh nghiệp xuất khẩu cá ngừ đang gặp khó ở thị trường Nhật Bản, Vasep đã đề xuất Bộ Công Thương đưa kiến nghị giảm thuế nhập khẩu cá ngừ vào Nhật Bản ra các kỳ đàm phán giữa hai nước. Vasep cũng đang kiến nghị Bộ NN&PTNT bỏ quy định phải đăng ký kiểm dịch đối với thủy sản đông lạnh nhập khẩu (được bảo quản ở nhiệt độ dưới -18 độ). Theo các doanh nghiệp ở nhiệt độ này sản phẩm không còn nguy cơ gây dịch bệnh cho người và động vật. Nếu tiếp tục kiểm tra sẽ gây lãng phí và chậm tiến độ xuất khẩu của doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
Ngoài ra, Ban điều hành xuất khẩu cá tra cũng đưa ra kiến nghị tăng số lượng doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng này từ 37 hiện nay lên 49 doanh nghiệp.
Nam Trung
Diễn đàn doanh nghiệp
|