Hiếu Nguyễn

Khi người học trò sẵn sàng thì người thầy chân chính sẽ xuất hiện

Việt Nam dẫn đầu thị phần nhập khẩu tôm của Úc suốt 5 năm liền

Theo Vasep, Australia là thị trường nhập khẩu (NK) tôm lớn thứ 9 thế giới, chiếm khoảng 1.9% tổng giá trị XK tôm của toàn cầu. Trong 5 năm (2010 - 2015), khối lượng NK tôm vào Australia không biến động nhiều, dao động từ 31 - 42 ngàn tấn. Trong đó, Việt Nam vẫn luôn là nguồn cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường này.

* Trung Quốc - Thị trường tiêu thụ tôm sú lớn nhất của Việt Nam

* Vực dậy ngành tôm

Được biết, khối lượng NK của quốc gia này đạt cao nhất 42 ngàn tấn vào năm 2010 và đạt thấp nhất 31 ngàn tấn vào năm 2015 trong xu thế giảm tiêu thụ tôm nói chung trên toàn thế giới do sản lượng giảm, kinh tế khó khăn và biến động tiền tệ. Tuy nhiên, 8 tháng đầu năm nay, NK tôm của Australia đạt trên 18 ngàn tấn, trị giá trên 167 triệu USD; tăng 2.1% về khối lượng nhưng giảm 9.2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Theo đó, Việt Nam vẫn là nhà cung cấp tôm chính với tỷ trọng trên 33% tổng giá trị NK tôm vào Australia. Mặt khác, giá trị NK tôm từ 5 nguồn cung tôm lớn nhất cho Australia đều giảm trong 8 tháng đầu năm 2016. Cụ thể, NK từ Indonesia giảm mạnh nhất 50%, tiếp đó Malaysia giảm 30%, Việt Nam giảm 8.3%, NK từ Thái Lan và Trung Quốc lần lượt giảm 1.9% và 0.3%. Thông tin thêm, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia là những đối thủ cạnh tranh chính của tôm Việt Nam trên thị trường Australia.

Về phía Việt Nam, Australia là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 7, chiếm 3.3% tổng XK tôm của Việt Nam đi các thị trường. 9 tháng đầu năm nay, XK tôm từ Việt Nam sang Australia tăng giảm thất thường. Giá trị XK tăng trưởng dương trong tháng 3 và tháng 9 lần lượt là 18.4% và 10.4%. XK trong các tháng còn lại đều giảm so với cùng kỳ năm 2015. Giá trị XK đạt cao nhất trong tháng 9 với trên 12 triệu USD; tăng 10.4% so với tháng 9/2015. XK trong quý 3/2016 phục hồi so với 2 quý đầu năm tuy nhiên vẫn giảm 11% so với cùng kỳ năm 2015. 9 tháng đầu năm nay, XK tôm Việt Nam sang thị trường này đạt trên 75 triệu USD; giảm 9.9% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặt khác, quốc gia chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thị phần xuất khẩu tôm Việt Nam trong quý 3/2016 là Trung Quốc với tổng giá trị gần 106 triệu USD, tăng 11.7% so với quý 2/2015 tuy nhiên giảm 12% so với quý 2/2016.

Tôm được tiêu thụ nhiều nhất trong các mặt hàng thủy sản ở Australia với lượng tiêu thụ hàng năm lên tới 50,000 – 60,000 tấn. Để đáp ứng nhu cầu này, Australia mỗi năm phải NK trung bình 30,000 tấn tôm. Tuy nhiên, do các quy định nghiêm ngặt về kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm, nên đến nay, chưa nước nào đưa được tôm tươi nguyên con đông lạnh vào Australia. Cơ hội cho tôm Việt sang thị trường Australia rất lớn.

Trong 5 năm qua, Việt Nam luôn là nước cung cấp tôm chế biến lớn nhất cho Australia. Tuy nhiên, do các quy định nghiêm ngặt từ phía Australia đối với tôm cũng như sản phẩm tôm NK, nên Việt Nam hiện mới chỉ đưa được tôm đã luộc chín hoặc tôm tẩm bột, gia vị, chứ chưa thể XK tôm tươi đông lạnh nguyên con vào Australia. Trong khi đó, nhu cầu về tôm tươi nguyên con ở Australia lớn hơn rất nhiều.

Các cơ quan của Việt Nam đang tích cực bàn thảo với phía Australia để có thể XK sản phẩm tôm tươi nguyên con sang quốc gia này. Vào quý 4/2016, sẽ có một đoàn đại diện các cơ quan chức năng, chuyên môn kỹ thuật của Australia sang kiểm dịch và xem xét các điều kiện mà Việt Nam đáp ứng để có thể XK tôm tươi nguyên con sang Australia.

Nói về ngành tôm Việt Nam, ông Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết: “ĐBSCL chiếm 80% sản lượng tôm của cả nước, đóng góp rất quan trọng trong xuất khẩu. Nhưng nhìn lại, ngành này đang đối mặt nhiều thách thức: chi phí sản xuất cao so với các nước, các hộ nuôi tôm nhỏ lẻ chiếm đa số nhưng chưa liên kết mạnh mẽ, thức ăn, thuốc... chưa được kiểm soát chặt chẽ”.

Theo đó, mặc dù là một ngành xuất khẩu thủy sản chủ lực của quốc gia nhưng ngành tôm từ khâu con giống, vật tư cho đến nuôi trồng, chế biến còn nhiều lỗ hổng./.

Từ khóa: Australia, thị trường nhập khẩu tôm

Việt Nam dẫn đầu thị phần nhập khẩu tôm của Úc suốt 5 năm liền

Theo Vasep, Australia là thị trường nhập khẩu (NK) tôm lớn thứ 9 thế giới, chiếm khoảng 1.9% tổng giá trị XK tôm của toàn cầu. Trong 5 năm (2010 - 2015), khối lượng NK tôm vào Australia không biến động nhiều, dao động từ 31 - 42 ngàn tấn. Trong đó, Việt Nam vẫn luôn là nguồn cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường này.

* Trung Quốc - Thị trường tiêu thụ tôm sú lớn nhất của Việt Nam

* Vực dậy ngành tôm

Được biết, khối lượng NK của quốc gia này đạt cao nhất 42 ngàn tấn vào năm 2010 và đạt thấp nhất 31 ngàn tấn vào năm 2015 trong xu thế giảm tiêu thụ tôm nói chung trên toàn thế giới do sản lượng giảm, kinh tế khó khăn và biến động tiền tệ. Tuy nhiên, 8 tháng đầu năm nay, NK tôm của Australia đạt trên 18 ngàn tấn, trị giá trên 167 triệu USD; tăng 2.1% về khối lượng nhưng giảm 9.2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.

Theo đó, Việt Nam vẫn là nhà cung cấp tôm chính với tỷ trọng trên 33% tổng giá trị NK tôm vào Australia. Mặt khác, giá trị NK tôm từ 5 nguồn cung tôm lớn nhất cho Australia đều giảm trong 8 tháng đầu năm 2016. Cụ thể, NK từ Indonesia giảm mạnh nhất 50%, tiếp đó Malaysia giảm 30%, Việt Nam giảm 8.3%, NK từ Thái Lan và Trung Quốc lần lượt giảm 1.9% và 0.3%. Thông tin thêm, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia là những đối thủ cạnh tranh chính của tôm Việt Nam trên thị trường Australia.

Về phía Việt Nam, Australia là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 7, chiếm 3.3% tổng XK tôm của Việt Nam đi các thị trường. 9 tháng đầu năm nay, XK tôm từ Việt Nam sang Australia tăng giảm thất thường. Giá trị XK tăng trưởng dương trong tháng 3 và tháng 9 lần lượt là 18.4% và 10.4%. XK trong các tháng còn lại đều giảm so với cùng kỳ năm 2015. Giá trị XK đạt cao nhất trong tháng 9 với trên 12 triệu USD; tăng 10.4% so với tháng 9/2015. XK trong quý 3/2016 phục hồi so với 2 quý đầu năm tuy nhiên vẫn giảm 11% so với cùng kỳ năm 2015. 9 tháng đầu năm nay, XK tôm Việt Nam sang thị trường này đạt trên 75 triệu USD; giảm 9.9% so với cùng kỳ năm ngoái. Mặt khác, quốc gia chiếm tỷ trọng lớn nhất trong thị phần xuất khẩu tôm Việt Nam trong quý 3/2016 là Trung Quốc với tổng giá trị gần 106 triệu USD, tăng 11.7% so với quý 2/2015 tuy nhiên giảm 12% so với quý 2/2016.

Tôm được tiêu thụ nhiều nhất trong các mặt hàng thủy sản ở Australia với lượng tiêu thụ hàng năm lên tới 50,000 – 60,000 tấn. Để đáp ứng nhu cầu này, Australia mỗi năm phải NK trung bình 30,000 tấn tôm. Tuy nhiên, do các quy định nghiêm ngặt về kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm, nên đến nay, chưa nước nào đưa được tôm tươi nguyên con đông lạnh vào Australia. Cơ hội cho tôm Việt sang thị trường Australia rất lớn.

Trong 5 năm qua, Việt Nam luôn là nước cung cấp tôm chế biến lớn nhất cho Australia. Tuy nhiên, do các quy định nghiêm ngặt từ phía Australia đối với tôm cũng như sản phẩm tôm NK, nên Việt Nam hiện mới chỉ đưa được tôm đã luộc chín hoặc tôm tẩm bột, gia vị, chứ chưa thể XK tôm tươi đông lạnh nguyên con vào Australia. Trong khi đó, nhu cầu về tôm tươi nguyên con ở Australia lớn hơn rất nhiều.

Các cơ quan của Việt Nam đang tích cực bàn thảo với phía Australia để có thể XK sản phẩm tôm tươi nguyên con sang quốc gia này. Vào quý 4/2016, sẽ có một đoàn đại diện các cơ quan chức năng, chuyên môn kỹ thuật của Australia sang kiểm dịch và xem xét các điều kiện mà Việt Nam đáp ứng để có thể XK tôm tươi nguyên con sang Australia.

Nói về ngành tôm Việt Nam, ông Trần Đình Luân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, cho biết: “ĐBSCL chiếm 80% sản lượng tôm của cả nước, đóng góp rất quan trọng trong xuất khẩu. Nhưng nhìn lại, ngành này đang đối mặt nhiều thách thức: chi phí sản xuất cao so với các nước, các hộ nuôi tôm nhỏ lẻ chiếm đa số nhưng chưa liên kết mạnh mẽ, thức ăn, thuốc... chưa được kiểm soát chặt chẽ”.

Theo đó, mặc dù là một ngành xuất khẩu thủy sản chủ lực của quốc gia nhưng ngành tôm từ khâu con giống, vật tư cho đến nuôi trồng, chế biến còn nhiều lỗ hổng./.

Thảo luận

Đăng nhập x



Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng
  • Tháng 9/2016 Lũy kế +/- %
  • Dệt may 2,300 18,050 4.55
  • Giày da 900 9,400 5.88
  • Gỗ và sản phẩm gỗ 600 5,050 9.09
  • Thủy sản 630 4,910 8.62
  • Dầu thô 185 1,602 -40.32
  • Than đá 7 62 16.67
  • Gạo 177 1,830 -14.49
  • Café 236 2,342 34.86
  • Điện tử máy tính 1,750 13,000 20.69
  • Máy móc thiết bị 920 6,910 35.29
  • TỔNG CỘNG 15,000 126,700 5.63
  • Máy móc thiết bị, phụ tùng 2,300 18,720 -4.17
  • Điện tử, máy tính và linh kiện 2,600 20,250 23.81
  • Xăng dầu 340 3,253 26.39
  • Hóa chất 300 2,370 11.11
  • Sản phẩm hóa chất 320 2,710 6.67
  • Sắt thép 693 7,084 1.91
  • Vải 850 7,840 6.25
  • Ô tô 449 4,221 -1.32
  • Thức ăn gia súc 300 2,700 -6.25
  • Sản phẩm khác từ dầu mỏ 70 560 -22.22
  • TỔNG CỘNG 15,100 126,900 5.59
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán