Phúc Mai

Don't wish it were easier, wish you were better

Nước ngoài không đi trên... dây!

“Năm 2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cơ hội tăng trưởng của nền kinh tế khi ấy rất lớn. Đầu tư vào Việt Nam là mốt. Chúng tôi là tập đoàn niêm yết trên sàn chứng khoán. Việc đầu tư và trở thành đối tác chiến lược của một ngân hàng Việt Nam có ý nghĩa không những đối với cổ đông, mà cả khách hàng” - một doanh nhân nước ngoài làm việc trong ngành ngân hàng, đề nghị không nêu tên, chia sẻ - “Không phải bây giờ, mà từ vài năm trước, khoản đầu tư của chúng tôi vào ngân hàng Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Chúng tôi cũng đã trích lập dự phòng rủi ro cho nó từ lâu. Hiện nay nếu có đối tác mua, chúng tôi sẵn sàng chuyển nhượng”.

Mua vì Việt Nam là... mốt

ANZ đã bán mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam cho Shinhan Bank. Ảnh: KINH LUÂN

Ngày 30/6/2017 cuộc họp đại hội đồng cổ đông thường niên của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) kết thúc vào lúc 15 giờ 30. Sau đại hội, đại diện cổ đông ngoại là ngân hàng UOB (United Overseas Bank - Singapore) đã đến gặp hội đồng quản trị mới của Sacombank. Cho đến thời điểm Sacombank nhận sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam (PNBank) vào tháng 10-2015, UOB vẫn đang sở hữu 20% cổ phần PNBank, tương đương 800 tỉ đồng mệnh giá hay 80 triệu cổ phiếu. Với tỷ lệ hoán đổi 1 cổ phiếu của PNBank bằng 0,75 cổ phiếu Sacombank, UOB trở thành cổ đông của Sacombank nắm giữ 60 triệu cổ phiếu, tương đương 3,33% vốn điều lệ STB hiện tại.

Kết cục đầu tư của UOB vào PNBank có lẽ không phải là mục tiêu lâu dài mà ngân hàng đến từ đảo quốc Sư tử hướng tới. Ngày 26/1/2007, khoảng năm tháng trước khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, UOB ký hợp đồng mua 10% cổ phần PNBank, trở thành đối tác chiến lược. Rất nhanh sau đó, họ nâng tỷ lệ sở hữu ở PNBank lên 20%. Năm đó là năm hoàng kim của Phương Nam bởi thặng dư từ việc bán cổ phần cho nước ngoài rất lớn, lớn đến mức ngân hàng dự kiến tăng vốn điều lệ lên gấp đôi, từ 1.290 tỉ đồng lên tầm 2.500 tỉ đồng từ việc chia cổ phiếu thưởng. Khỏi nói cả cổ đông nội và ngoại vui mừng đến mức nào.

Nhưng khi ấy PNBank không phải tổ chức tín dụng đầu tiên bước chân vào trào lưu bán cổ phần cho nước ngoài. Một ngày đẹp trời tháng 11-2006 tại khách sạn Caravelle ở TPHCM, tập đoàn Pháp BNP Paribas ký hợp đồng nguyên tắc liên minh chiến lược với Ngân hàng TMCP Phương Đông sau năm tháng thương thảo, theo đó BNP Paribas sẽ mua 10% cổ phần của Phương Đông và kế tiếp nâng tỷ lệ sở hữu lên 20%.

Thị trường tài chính Việt Nam còn chứng kiến một loạt thương vụ đình đám như Sacombank bán cổ phần cho ANZ, IFC, Dragon Capital; Á Châu (ACB) có cổ đông chiến lược Standard Chartered Bank; VPBank có OCBC; Techcombank có HSBC; Eximbank có đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation; SeABank bán cổ phần cho ngân hàng Pháp Société Générale và Đông Á suýt có cổ đông ngoại CitiBank. Cho đến khi Vietcombank, VietinBank bán cổ phần cho hai tập đoàn tài chính Nhật Bản, trào lưu cổ đông ngoại dường như đã phai nhạt ít nhiều.

 Trong khi tiêu chí rủi ro của ngân hàng nước ngoài “cứng rắn”, thì của ngân hàng Việt Nam tương đối mềm, mềm đến mức “ta đi trên dây mà không rơi. Còn chuẩn mực rủi ro của nước ngoài không cho phép họ đi trên dây” - lãnh đạo một ngân hàng hàng đầu Việt Nam nói.

Số tiền mà các đối tác nước ngoài bỏ ra để sở hữu từ 10-20% cổ phần của một tổ chức tín dụng nội địa ban đầu khá cao, ngang với thị giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường thời đó (có ngân hàng đã bán cổ phần cho nước ngoài giá 8 chấm, tức 80.000 đồng/cổ phiếu - NV). Nói như doanh nhân nước ngoài ở đầu bài viết này, Việt Nam là mốt, cổ phiếu ngân hàng là mốt, nước ngoài tham gia vào ngân hàng Việt không chỉ để chứng tỏ họ năng động, có mặt ở một quốc gia mà nền kinh tế được kỳ vọng tăng trưởng cao và hội nhập quốc tế sâu rộng, mà còn vì lợi ích cổ phiếu của chính tập đoàn của họ ở tại chính quốc.

“Thị trường tài chính Việt Nam những năm 2005-2007 còn rất sơ khai. Khi vào WTO, giới đầu tư thực sự nghĩ rằng trong 4-5 năm sau đấy thị trường tài chính Việt Nam sẽ từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi, cơ hội hiện hữu” - một nhân viên nhiều năm làm việc cho chi nhánh, rồi ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam nhận xét. Tuy nhiên cuộc khủng hoàng tài chính bên ngoài và suy thoái kinh tế bên trong Việt Nam những năm tiếp theo đã thay đổi tất cả.

Công ty Tài chính Quốc tế IFC được giới đầu tư ở Việt Nam đánh giá là một trong những tổ chức đầu tư thành công nhờ mua và bán đúng thời điểm. Cuối tháng 12-2008, IFC lên kế hoạch bán ra 16 triệu cổ phiếu, khoảng 50% cổ phần Sacombank mà họ nắm giữ. Họ cũng sớm thoái phần vốn còn lại ở Sacombank, đồng thời sớm thoái vốn ở ACB tại vùng giá cao. Trong khi các tổ chức nước ngoài khác tiếp tục “chung thủy” với các khoản đầu tư và trích lập dự phòng rủi ro, IFC lại giải ngân vào VietinBank ở mức giá thấp nhất có thể nhờ điều kiện thị trường.

Mọi khoản đầu tư đều là đầu tư tài chính?

Thành viên hội đồng quản trị của một ngân hàng lớn, hai lần tham gia đàm phán bán cổ phần tổ chức tín dụng thành công và hơn 30 năm gắn bó với ngành ngân hàng, khẳng định hầu hết đối tác ngoại mua cổ phần ngân hàng, kể cả đối tác chiến lược, chủ yếu là đầu tư tài chính.

Theo người trong cuộc này, “họ (nước ngoài) có chi nhánh, hoặc ngân hàng con ở Việt Nam. Với 10-20% cổ phần nắm giữ họ không thể nắm quyền chi phối một ngân hàng nội. Họ vào ngân hàng nội để quan sát thực tế, xem ngân hàng Việt Nam kinh doanh thực sự thế nào để rút kinh nghiệm và áp dụng vào điều hành ngân hàng con của họ”. Từ góc độ như vậy, khi đã nắm bắt được cách thức, chuẩn mực hoạt động của ngân hàng nội, hơn nữa các khoản đầu tư không đạt được kỳ vọng mong muốn, họ rút ra.

Tổng giám đốc một ngân hàng có cổ đông ngoại phân tích rằng các tập đoàn tài chính nước ngoài có bộ phận đầu tư và bộ phận kinh doanh riêng. Họ có thể tham khảo ý kiến lẫn nhau nhưng về cơ bản họ hoạt động độc lập. Khi khoản đầu tư mang tính tài chính mà lãi lỗ và đã được trích lập dự phòng, thì cắt lỗ. Vấn đề là cố gắng để mức lỗ càng thấp càng tốt.

“Họ giải ngân ở vùng giá cao. Đến nay và có thể 1-2 năm nữa, cổ phiếu ngân hàng cũng không thể quay lại vùng giá như các năm 2006-2007. Nếu tính trả cổ tức hoặc chia thưởng cổ phiếu, giá thành đầu tư trên mỗi cổ phần của họ hạ xuống. Giá thành đầu tư hiện nay có thể ngang với giá thị trường, nhưng chi phí cơ hội của 10 năm qua nắm giữ cổ phiếu ở đâu? Lỗ là lỗ ở đấy. Bạn bỏ 10 triệu đồng vào ngân hàng gửi tiết kiệm 12 tháng năm 2007, tôi chắc đến nay số tiền của bạn đã lên tầm 25 triệu đồng mà bạn không phải làm gì cả. Còn họ được gì?” - ông lập luận. 

... đọc tiếp tại đây

Từ khóa: ngân hàng ngoại, đầu tư, rời việt nam

Nước ngoài không đi trên... dây!

“Năm 2007 Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cơ hội tăng trưởng của nền kinh tế khi ấy rất lớn. Đầu tư vào Việt Nam là mốt. Chúng tôi là tập đoàn niêm yết trên sàn chứng khoán. Việc đầu tư và trở thành đối tác chiến lược của một ngân hàng Việt Nam có ý nghĩa không những đối với cổ đông, mà cả khách hàng” - một doanh nhân nước ngoài làm việc trong ngành ngân hàng, đề nghị không nêu tên, chia sẻ - “Không phải bây giờ, mà từ vài năm trước, khoản đầu tư của chúng tôi vào ngân hàng Việt Nam đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Chúng tôi cũng đã trích lập dự phòng rủi ro cho nó từ lâu. Hiện nay nếu có đối tác mua, chúng tôi sẵn sàng chuyển nhượng”.

Mua vì Việt Nam là... mốt

ANZ đã bán mảng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam cho Shinhan Bank. Ảnh: KINH LUÂN

Ngày 30/6/2017 cuộc họp đại hội đồng cổ đông thường niên của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín (Sacombank) kết thúc vào lúc 15 giờ 30. Sau đại hội, đại diện cổ đông ngoại là ngân hàng UOB (United Overseas Bank - Singapore) đã đến gặp hội đồng quản trị mới của Sacombank. Cho đến thời điểm Sacombank nhận sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam (PNBank) vào tháng 10-2015, UOB vẫn đang sở hữu 20% cổ phần PNBank, tương đương 800 tỉ đồng mệnh giá hay 80 triệu cổ phiếu. Với tỷ lệ hoán đổi 1 cổ phiếu của PNBank bằng 0,75 cổ phiếu Sacombank, UOB trở thành cổ đông của Sacombank nắm giữ 60 triệu cổ phiếu, tương đương 3,33% vốn điều lệ STB hiện tại.

Kết cục đầu tư của UOB vào PNBank có lẽ không phải là mục tiêu lâu dài mà ngân hàng đến từ đảo quốc Sư tử hướng tới. Ngày 26/1/2007, khoảng năm tháng trước khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, UOB ký hợp đồng mua 10% cổ phần PNBank, trở thành đối tác chiến lược. Rất nhanh sau đó, họ nâng tỷ lệ sở hữu ở PNBank lên 20%. Năm đó là năm hoàng kim của Phương Nam bởi thặng dư từ việc bán cổ phần cho nước ngoài rất lớn, lớn đến mức ngân hàng dự kiến tăng vốn điều lệ lên gấp đôi, từ 1.290 tỉ đồng lên tầm 2.500 tỉ đồng từ việc chia cổ phiếu thưởng. Khỏi nói cả cổ đông nội và ngoại vui mừng đến mức nào.

Nhưng khi ấy PNBank không phải tổ chức tín dụng đầu tiên bước chân vào trào lưu bán cổ phần cho nước ngoài. Một ngày đẹp trời tháng 11-2006 tại khách sạn Caravelle ở TPHCM, tập đoàn Pháp BNP Paribas ký hợp đồng nguyên tắc liên minh chiến lược với Ngân hàng TMCP Phương Đông sau năm tháng thương thảo, theo đó BNP Paribas sẽ mua 10% cổ phần của Phương Đông và kế tiếp nâng tỷ lệ sở hữu lên 20%.

Thị trường tài chính Việt Nam còn chứng kiến một loạt thương vụ đình đám như Sacombank bán cổ phần cho ANZ, IFC, Dragon Capital; Á Châu (ACB) có cổ đông chiến lược Standard Chartered Bank; VPBank có OCBC; Techcombank có HSBC; Eximbank có đối tác chiến lược Sumitomo Mitsui Banking Corporation; SeABank bán cổ phần cho ngân hàng Pháp Société Générale và Đông Á suýt có cổ đông ngoại CitiBank. Cho đến khi Vietcombank, VietinBank bán cổ phần cho hai tập đoàn tài chính Nhật Bản, trào lưu cổ đông ngoại dường như đã phai nhạt ít nhiều.

 Trong khi tiêu chí rủi ro của ngân hàng nước ngoài “cứng rắn”, thì của ngân hàng Việt Nam tương đối mềm, mềm đến mức “ta đi trên dây mà không rơi. Còn chuẩn mực rủi ro của nước ngoài không cho phép họ đi trên dây” - lãnh đạo một ngân hàng hàng đầu Việt Nam nói.

Số tiền mà các đối tác nước ngoài bỏ ra để sở hữu từ 10-20% cổ phần của một tổ chức tín dụng nội địa ban đầu khá cao, ngang với thị giá cổ phiếu ngân hàng trên thị trường thời đó (có ngân hàng đã bán cổ phần cho nước ngoài giá 8 chấm, tức 80.000 đồng/cổ phiếu - NV). Nói như doanh nhân nước ngoài ở đầu bài viết này, Việt Nam là mốt, cổ phiếu ngân hàng là mốt, nước ngoài tham gia vào ngân hàng Việt không chỉ để chứng tỏ họ năng động, có mặt ở một quốc gia mà nền kinh tế được kỳ vọng tăng trưởng cao và hội nhập quốc tế sâu rộng, mà còn vì lợi ích cổ phiếu của chính tập đoàn của họ ở tại chính quốc.

“Thị trường tài chính Việt Nam những năm 2005-2007 còn rất sơ khai. Khi vào WTO, giới đầu tư thực sự nghĩ rằng trong 4-5 năm sau đấy thị trường tài chính Việt Nam sẽ từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi, cơ hội hiện hữu” - một nhân viên nhiều năm làm việc cho chi nhánh, rồi ngân hàng 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam nhận xét. Tuy nhiên cuộc khủng hoàng tài chính bên ngoài và suy thoái kinh tế bên trong Việt Nam những năm tiếp theo đã thay đổi tất cả.

Công ty Tài chính Quốc tế IFC được giới đầu tư ở Việt Nam đánh giá là một trong những tổ chức đầu tư thành công nhờ mua và bán đúng thời điểm. Cuối tháng 12-2008, IFC lên kế hoạch bán ra 16 triệu cổ phiếu, khoảng 50% cổ phần Sacombank mà họ nắm giữ. Họ cũng sớm thoái phần vốn còn lại ở Sacombank, đồng thời sớm thoái vốn ở ACB tại vùng giá cao. Trong khi các tổ chức nước ngoài khác tiếp tục “chung thủy” với các khoản đầu tư và trích lập dự phòng rủi ro, IFC lại giải ngân vào VietinBank ở mức giá thấp nhất có thể nhờ điều kiện thị trường.

Mọi khoản đầu tư đều là đầu tư tài chính?

Thành viên hội đồng quản trị của một ngân hàng lớn, hai lần tham gia đàm phán bán cổ phần tổ chức tín dụng thành công và hơn 30 năm gắn bó với ngành ngân hàng, khẳng định hầu hết đối tác ngoại mua cổ phần ngân hàng, kể cả đối tác chiến lược, chủ yếu là đầu tư tài chính.

Theo người trong cuộc này, “họ (nước ngoài) có chi nhánh, hoặc ngân hàng con ở Việt Nam. Với 10-20% cổ phần nắm giữ họ không thể nắm quyền chi phối một ngân hàng nội. Họ vào ngân hàng nội để quan sát thực tế, xem ngân hàng Việt Nam kinh doanh thực sự thế nào để rút kinh nghiệm và áp dụng vào điều hành ngân hàng con của họ”. Từ góc độ như vậy, khi đã nắm bắt được cách thức, chuẩn mực hoạt động của ngân hàng nội, hơn nữa các khoản đầu tư không đạt được kỳ vọng mong muốn, họ rút ra.

Tổng giám đốc một ngân hàng có cổ đông ngoại phân tích rằng các tập đoàn tài chính nước ngoài có bộ phận đầu tư và bộ phận kinh doanh riêng. Họ có thể tham khảo ý kiến lẫn nhau nhưng về cơ bản họ hoạt động độc lập. Khi khoản đầu tư mang tính tài chính mà lãi lỗ và đã được trích lập dự phòng, thì cắt lỗ. Vấn đề là cố gắng để mức lỗ càng thấp càng tốt.

“Họ giải ngân ở vùng giá cao. Đến nay và có thể 1-2 năm nữa, cổ phiếu ngân hàng cũng không thể quay lại vùng giá như các năm 2006-2007. Nếu tính trả cổ tức hoặc chia thưởng cổ phiếu, giá thành đầu tư trên mỗi cổ phần của họ hạ xuống. Giá thành đầu tư hiện nay có thể ngang với giá thị trường, nhưng chi phí cơ hội của 10 năm qua nắm giữ cổ phiếu ở đâu? Lỗ là lỗ ở đấy. Bạn bỏ 10 triệu đồng vào ngân hàng gửi tiết kiệm 12 tháng năm 2007, tôi chắc đến nay số tiền của bạn đã lên tầm 25 triệu đồng mà bạn không phải làm gì cả. Còn họ được gì?” - ông lập luận. 

... đọc tiếp tại đây

Thảo luận

Đăng nhập x



Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Mã chứng khoán liên quan (2)

  • ACB 25.6 0.0 0.00% 351,781
  • STB 12.8 0.0 0.00% 939,530
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán