Thị trường chờ đợi thông tin về điều chỉnh lãi suất:
Chính sách nhiều khả năng chưa thay đổi
Lãi suất là một trong những thông tin mà thị trường đang chờ đợi. Tuy đã có những dự đoán thay đổi, nhưng nhiều khả năng lãi suất sẽ ổn định vì sự nhạy cảm và phối hợp trong điều hành chính sách là điều rất cần thiết để nền kinh tế không phải “chịu trận” ngay từ những tháng đầu năm.
Trong một cuộc khảo sát tại Mỹ, nhiều người phỏng đoán rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể sẽ tăng mức lãi suất cơ bản (LSCB) trong vòng 6 tháng tới, đại bộ phận khẳng định lãi suất sẽ tăng 0,25% lêns 0,50%.
Cũng có thông tin cho rằng Trung Quốc có thể nâng LSCB trong thời gian tới do tỉ lệ lạm phát và xuất khẩu của nước này tháng qua được dự báo đã tăng trưởng mạnh nhất trong 16 tháng. Đối với Việt Nam, người ta cũng đang chờ đợi tin về tốc độ tăng trưởng GDP và đặc biệt là chỉ số CPI của tháng 3 xem có đi theo quy luật không (giảm giá sau Tết) hay diễn tiến bất thường để suy đoán hướng chính sách của Chính phủ cũng như động thái lãi suất của NHNN.
LSCB sẽ giữ nguyên?
Mức 8% nhiều khả năng sẽ không thay đổi trong tháng 4. Nguyên nhân giống như nhiều quốc gia khác, tuy kiềm chế lạm phát là nhiệm vụ được đặt ra trong năm 2010, nhưng tại thời điểm đầu năm khi đà phục hồi kinh tế chưa chắc chắn thì tăng trưởng vẫn được ưu tiên.
Nên chú ý đến thông tin Thủ tướng Chính phủ giao tập đoàn, TCty nhà nước phải đạt và vượt mức tăng trưởng 10% và Chính phủ sẽ quyết liệt bình ổn giá 7 mặt hàng nhạy cảm để thấy quyết tâm của Chính phủ trong chỉ tiêu tăng trưởng. Tuy LSCB không còn nhiều ý nghĩa trong thực tế, nhưng ít ra nó cũng là cái đập để ngăn lãi suất cho vay ngắn hạn không “vỡ bờ” làm dềnh chi phí vốn khiến DN phải thu hẹp sản xuất-kinh doanh làm ảnh hưởng đến chỉ tiêu tăng trưởng.
Nếu NHNN nâng LSCB ngay trong tháng 4 này khó có thể tránh khỏi sự chỉ trích giống như việc tăng giá xăng, điện, nước liên tục trong thời điểm theo quy luật giá tiêu dùng đang lên đỉnh làm cộng hưởng gây áp lực tăng CPI.
Cân nhắc việc bỏ trần lãi suất huy động
Ngày 9.3 tại TPHCM, các thành viên của Hiệp hội NH Việt Nam (VNBA) thống nhất kiến nghị bỏ trần lãi suất tiền gửi. Sự đồng thuận của các thành viên phía bắc chỉ còn là vấn đề thời gian. NHNN sẽ ứng xử thế nào với kiến nghị của các NHTM? Giới hạn trần huy động VND 10,5%/năm không phải là quyết định hành chính nhưng không NHTM nào dám vượt trần này vì sợ nhắc nhở và bị thanh tra toàn diện.
Thực tế hầu hết NHTM đều lách trần bằng cách thưởng, khuyến mãi... nên mức LS huy động cao nhất đối với các khoản tiền gửi lớn thực chất đã lên tới trên, dưới 14%/năm. Do đó việc bỏ quy định LS trần huy động cũng là hợp lý cho phù hợp thực tiễn, nhưng bỏ đến mức nào?
Thả nổi hoàn toàn sẽ có hai hệ lụy: (i) Trong những thời điểm hệ thống có vấn đề về thanh khoản thì LS huy động sẽ bị đẩy lên rất cao và lôi các NH vào “vòng xoáy” cạnh tranh LS không kiểm soát nổi như cuối 2008, đầu 2009; (ii) Chính phủ và các doanh nghiệp rất khó huy động được vốn qua phát hành trái phiếu vì LS mà các NĐT đòi sẽ rất cao vì so sánh với LS huy động của NH.
Trong khi đó trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2010, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành cần chủ động triển khai các cơ chế huy động nguồn vốn đầu tư ngoài xã hội vì vốn ngân sách không thể đáp ứng đủ. Thả từ từ thì có cho đến mức trần 150% theo LSCB (có nghĩa là 12%/năm) không?
Đây là điều chắc NHNN phải tính toán, có lẽ cách này phù hợp hơn vì hiện nay dù chưa nâng LS huy động nhưng hệ thống vẫn khá ổn định về thanh khoản và mức 12%/năm cũng là mức chấp nhận được với người gửi tiền nếu tốc độ tăng CPI năm 2010 kiểm soát được dưới 1 con số.
Chính sách tiền tệ sẽ chặt hơn trong quý III?
Nếu NĐT mua một CK nào đó có thể thu lợi = giá mua- giá bán, khoản chênh lệch này có được từ hai yếu tố chính tác động: (i) Do yếu tố nội tại của DN đem lại (kết quả kinh doanh tốt) nên thị giá tăng; (ii) Do yếu tố bên ngoài tác động đến thị giá CK (mà chủ yếu do sự nhìn nhận và đánh giá khác nhau của các NĐT như nói ở trên).
Yếu tố (i) trong năm 2010 này không làm giá CK tăng nhiều, lý do chi phí sản xuất tăng nhiều hơn so với 2008 và 2009; thị trường tiêu thụ hàng hóa nói chung vẫn chưa sáng sủa; TT BĐS chưa thấy dấu hiệu bùng nổ. Chỉ còn yếu tố (ii) là đáng quan tâm nhất. Yếu tố này lại phụ thuộc nhiều vào thông tin, vào nhận định chính sách mà dự đoán TT sẽ có chiều hướng tốt bởi các thông tin tích cực từ nền kinh tế và chính sách từ nay đến hết quý II, trong đó có việc chính sách lãi suất sẽ tương đối ổn định.
Còn thời gian sau đó? Chúng ta hãy để ý nền kinh tế Việt Nam, những ngành mũi nhọn, những ngành tiêu tốn nhiều tiền nhất vẫn nằm trong tay Nhà nước, hay do Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Các ngành này đều có chỉ tiêu kế hoạch phấn đấu, nếu đã đạt kế hoạch họ sẽ làm cầm chừng hoặc tìm cách chuyển lợi nhuận sang năm sau để dễ dàng hoàn thành kế hoạch tiếp.
Giả sử GDP tăng trưởng 6 tháng đầu năm đã gần đạt kế hoạch (khoảng 70-80%) do đầu tư công ồ ạt những tháng cuối năm chi tiêu đầu tư công sẽ bị kìm hãm hay nới lỏng để tránh đối diện với lạm phát 2 con số? Và chính sách tiền tệ khi đó sẽ như thế nào? Một chính sách ban hành bao giờ cũng có độ trễ để ngấm vào nền kinh tế (cỡ III tháng).
Vì vậy, dự đoán sang quý III chính sách có thể khắc nghiệt hơn nhiều vì lúc đó nền kinh tế đã ngấm những khoản chi phí cao cho sản xuất cũng như những giải pháp ban hành để chống lạm phát và quý IV lại là một quý với những chính sách nới lỏng. Dự đoán được thời điểm điều chỉnh chính sách là rất quan trọng đối với các quyết định kinh doanh của các NĐT.
Thanh Hoa - Trường Giang
LAO ĐỘNG