Phải xóa độc quyền
Tăng trưởng kinh tế năm nay sẽ ra sao? Tái cấu trúc kinh tế bắt đầu từ đâu? Chính sách tỷ giá liệu đã hợp lý? Làm sao để thúc đẩy sự phát triển của khối doanh nghiệp tư nhân… Đây là những nội dung mà ông Trương Đình Tuyển - nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại - trao đổi với TBKTSG.
Ông đánh giá ra sao về bức tranh kinh tế của Việt Nam trong năm nay?
- Ông Trương Đình Tuyển: Đến nay, theo nhiều đánh giá, kinh tế thế giới đã thoát ra khỏi suy thoái và xu hướng phục hồi ngày càng sáng sủa. Theo IMF (dự báo vào tháng 1-2010) tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2010 là 3,9%, cao hơn mức dự báo tháng 10 là 3,1%. Mặc dù vậy, những nền kinh tế là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam vẫn còn nhiều khó khăn.
Ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao, nhiều ngân hàng tiếp tục lâm vào tình trạng phá sản, mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng ở Mỹ cũng có sự điều chỉnh theo hướng tiết kiệm hơn, chủ nghĩa bảo hộ đang trỗi dậy. Châu Âu đang phải đối phó với nguy cơ khủng hoảng nợ. Không chỉ Hy Lạp mà cả Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, tình trạng thâm hụt ngân sách đang làm chao đảo nền kinh tế các quốc gia này.
Ngay kinh tế Nhật Bản vẫn chưa thoát khỏi trì trệ, bởi thế một số chuyên gia kinh tế hàng đầu đã cảnh báo về một cuộc suy thoái kép. Nói như vậy, để thấy rằng tình hình còn khó khăn, kim ngạch xuất khẩu khó có sự tăng trưởng mạnh, độ rủi ro và tính bất định còn rất lớn.
Ở trong nước, chúng ta phải đương đầu với những vấn đề vĩ mô phức tạp. Sức ép về lãi suất, tỷ giá, vốn cho nền kinh tế còn lớn. Chỉ số CPI hai tháng đã ở mức 3,35%, tuy không phải là biểu hiện bất thường - do giá cả trong năm vẫn tăng vào dịp Tết và do hệ quả của gói kích thích kinh tế từ năm trước tác động vào - nhưng so với mục tiêu đặt ra cho năm 2010 là khống chế lạm phát dưới 7% thì mức tăng giá hai tháng đầu năm là cao.
Nếu điều hành vĩ mô không tốt sẽ gây ra những cú sốc không đáng có và tác động đến tăng trưởng. Vì vậy, cần có cái nhìn có hệ thống khi quyết định các chính sách vĩ mô, phải xác định mục tiêu ưu tiên, và xem xét tác động đến các mục tiêu khác khi lựa chọn mục tiêu ưu tiên.
Nếu đặt vấn đề như vậy, theo quan điểm cá nhân tôi việc điều chỉnh tỷ giá ngày 11-2 là không hợp lý về thời điểm. Mặc dầu cần hạ giá tiếp tiền đồng nhưng tại thời điểm đó chưa có sức ép lớn về ngoại tệ cho nhập khẩu, điều chỉnh lúc giá cả trong dịp Tết đang tăng sẽ gây tác động tăng giá nhiều mặt hàng, trong khi kim ngạch nhập khẩu của ta xấp xỉ 90% GDP. Chính vì điều chỉnh tỷ giá nên các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu đã tăng giá vào dịp đó, gây tác động tăng giá dây chuyền.
Việc mở rộng tín dụng thỏa thuận, trong khi vẫn duy trì trần tín dụng cũng là vấn đề cần phân tích kỹ. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Ai sẽ được vay với lãi suất trong giới hạn trần lãi suất? Và liệu các tổ chức tín dụng có dồn vốn để cho vay theo lãi suất thỏa thuận không? Tình hình đó gây ra sự không minh bạch trong việc cho vay của các tổ chức tín dụng và gây rủi ro về đạo đức trong hoạt động ngân hàng. Tóm lại bức tranh kinh tế nước ta năm 2010 không chỉ phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu mà còn phụ thuộc nhiều vào khả năng ổn định vĩ mô của nền kinh tế.
Vậy theo ông vấn đề đổi mới và tái cơ cấu nền kinh tế nên được đặt ra như thế nào để phát huy hiệu quả cao nhất? Cụ thể những vấn đề cần tái cấu trúc là gì?
- Gần đây, vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng đã được nhiều chuyên gia trong nước đề cập đến. Đây là vấn đề lớn, có nhiều nội dung, tôi chỉ đề cập những nét chính. Đối với thế giới đây không phải là vấn đề mới. Mô hình phát triển theo chiều rộng là con đường mà hầu hết (nếu không muốn nói là tất cả) các nền kinh tế phải đi qua ở giai đoạn phát triển ban đầu trong quá trình công nghiệp hóa. Vấn đề là giai đoạn này ngắn hay dài mà thôi.
Tái cấu trúc nền kinh tế được đặt ra do sự phát triển của khoa học công nghệ và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi tương quan về sức cạnh tranh giữa các quốc gia. Nếu vẫn giữ cơ cấu cũ thì quốc gia đó không phát triển được. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng là nội dung cốt lõi của tái cấu trúc, là cái hình thành quá trình tái cấu trúc nhưng tái cấu trúc có nội dung rộng hơn. Để tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần:
1. Xác định những tiền đề của tái cấu trúc. Những tiền đề đó gồm: (1) Hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, gắn với cải cách hành chính, phát triển mạnh thị trường công nghệ; tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ độc quyền, kiểm soát độc quyền tự nhiên. Thực hiện điều này sẽ buộc các doanh nghiệp phải phát huy lợi thế so sánh riêng có và luôn tìm cách tạo ra lợi thế so sánh mới (trong đó có việc áp dụng những tiến bộ về khoa học công nghệ trong sản xuất và quản lý...) để nâng cao khả năng cạnh tranh;
(2) Phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao cả về chuyên môn và ngoại ngữ, coi đây là lợi thế cạnh tranh dài hạn, là yêu cầu bất biến trong một thế giới toàn cầu hóa và biến đổi không ngừng. Ngoài ra, có một yêu cầu tuy không xếp vào những tiền đề nhưng rất quan trọng hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, đó là: Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông, hạ tầng đô thị, nhằm giảm chi phí vận chuyển, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Những tiền đề và điều kiện này đã từng bước hình thành, phải tiếp tục bổ sung và hoàn thiện.
2. Xác định nội dung của tái cấu trúc. Chủ yếu là (1) Tái cấu trúc các ngành sản xuất, dịch vụ gắn với các vùng kinh tế. Hướng chính là chuyển từ nền công nghiệp gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp, sang sản xuất các sản phẩm có hàm lượng nội địa và giá trị gia tăng cao, có lợi nhuận lớn trong chuỗi giá trị. Đây chính là nội dung chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp: khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại.
(2) Tái cấu trúc doanh nghiệp theo hướng phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, sắp xếp lại và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Và, điều quan trọng là tái cấu trúc trong từng doanh nghiệp, theo một mô hình tổ chức kinh doanh và quản lý mới, bảo đảm có thể áp dụng và phát huy hiệu quả của thiết bị công nghệ và những thay đổi của sức sản xuất và thị trường… Cần thấy rằng thực hiện hai nội dung tái cấu trúc trên đây là nhằm tăng giá trị nội địa và xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc- yêu cầu quan trọng trong việc tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
(3) Tăng nhanh tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ để chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế. Sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và toàn cầu hóa kinh tế làm cho quá trình phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc và do đó các quan hệ kinh tế, các mối liên kết ngày càng phức tạp, nhu cầu của sản xuất và đời sống ngày càng đa dạng. Điều đó đặt ra yêu cầu và khả năng phát triển nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ. Một trong những hướng chính trong phát triển công nghiệp là phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ theo cụm nhóm sản phẩm, có tính liên kết cao, lấy công nghiệp chế tạo làm trung tâm. Trong những năm gần đây, khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định. Riêng năm 2009, tốc độ tăng trưởng trong ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp.
(4) Điều chỉnh chiến lược phát triển thị trường.
Theo đó, tiếp tục mở rộng thị trường xuất khẩu theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa, chú ý khai thác các thị trường có hiệp định mậu dịch tự do mà Việt Nam là thành viên (ASEAN, ASEAN+), Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Nhật Bản (EPA) đồng thời quan tâm hơn đến khai thác thị trường nội địa, một thị trường gần 87 triệu người, doanh số bán lẻ và tiêu dùng dịch vụ năm 2009 xấp xỉ 65 tỉ đô la Mỹ, và đang tăng với mức trên 10%, cao hơn mức tăng GDP.
Để hỗ trợ quá trình tái cấu trúc, cần điều chỉnh chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài. Theo đó, cần ưu tiên các dự án đầu tư vào công nghiệp chế tác, công nghiệp hỗ trợ, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao đi đôi với thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài.
Thưa ông, với khu vực kinh tế tư nhân, cần nhìn nhận ra sao để cho khu vực kinh tế này tiếp tục phát triển?
- Với việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2000, kinh tế tư nhân phát triển mạnh trở thành động lực của nền kinh tế.
Trong nhiều năm, ngay cả những thời đoạn khó khăn nhất như hai năm 2008-2009, kinh tế tư nhân vẫn phát triển với tốc độ cao nhất và tạo ra nhiều việc làm nhất so với khu vực doanh nghiệp nhà nước và đầu tư nước ngoài. Đảng và Nhà nước ta đã từng khẳng định trong nhiều nghị quyết là khuyến khích mạnh kinh tế tư nhân phát triển, không giới hạn quy mô.
Tuy nhiên, doanh nghiệp tư nhân ở nước ta phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trên thực tế, khả năng tiếp cận đất đai, nguồn tín dụng, thị trường cũng còn khó khăn, trình độ quản lý và chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế.
Chúng ta cần chuyển chủ trương khuyến khích phát triển khu vực tư nhân thành hành động cụ thể, có cơ chế chính sách hỗ trợ khu vực này phát triển; các lĩnh vực không nhất thiết Nhà nước phải làm, khu vực tư nhân hoàn toàn có khả năng thay thế thì không nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả phát triển, chèn lấn sự phát triển của khu vực tư nhân. Tôi nghĩ, Chính phủ nên chuyển mạnh chức năng của ngân hàng phát triển sang việc hỗ trợ khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Lê Đăng Hà thực hiện
TBKTSG