Thứ Năm, 04/02/2010 | 09:59
Đọc sách |
Thảo luận: 0 |
A
Tìm cửa rộng hơn cho trái phiếu ngoại tệ
Việc phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu (TP) ra thị trường quốc tế vừa qua, tiếp sau đợt phát hành suôn sẻ 750 triệu USD trong năm 2005, đánh dấu bước tiến đáng kể của TP Việt Nam trong nỗ lực vươn ra thị trường vốn quốc tế.
Tuy nhiên, kết quả của đợt phát hành này cũng cho thấy những thách thức trong quá trình mở cánh cửa rộng hơn để bước vào thị trường vốn quốc tế với những đòi hỏi khắc nghiệt.
Không ít ý kiến bày tỏ mức lợi tức phát hành 6,95% được coi là cao. Tuy nhiên, tại cuộc họp báo công bố kết quả đợt phát hành 1 tỷ USD TP do Bộ Tài chính tổ chức, Thứ trưởng Bộ này, ông Trần Xuân Hà, Trưởng đoàn công tác của Chính phủ về đợt phát hành TP quốc tế khẳng định, đặt trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước ở thời điểm phát hành, thì mức lợi tức trên là hợp lý.
Mức lợi tức này được hình thành dựa trên 3 yếu tố: xếp hạng định mức tín nhiệm của Việt Nam, tình hình giao dịch của TP Việt Nam đáo hạn vào năm 2016 (VN2016) và tình hình thị trường vốn quốc tế tại thời điểm phát hành.
|
Trong số 1 tỷ USD trái phiếu phát hành thành công, các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản mua 73%, các quỹ bảo hiểm và hưu trí mua 10%, ngân hàng mua 7%, còn lại là các nhà đầu tư khác. Trái phiếu được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020
| Ông Hà cho biết, Việt Nam hơn Indonesia và Philippines một bậc ở Bảng xếp hạng tín nhiệm của S&P, nhưng không được đánh giá cao bằng hai nước này, vì chưa có đà lên hạng. Trong khi đó, lợi tức của VN2016 so với lợi tức TP của Indonesia và Philippines có cùng thời gian đáo hạn (năm 2016) cao hơn từ 1,25 - 1,5%. TP có kỳ hạn còn lại 6 năm có mức chênh lợi tức khá lớn như vậy, nếu tính theo kỳ hạn 10 năm thì khả năng chênh lệch còn lớn hơn. Đó là chưa kể trong quá trình triển khai đợt phát hành này, Việt Nam phải đối mặt với không ít diễn biễn bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới. Với những yếu tố “đầu vào” như vậy, rõ ràng sức cạnh tranh của TP Việt Nam khó sánh được với TP của các nền kinh tế tương đương.
Cũng theo ông Hà, có hai điều mà bất kỳ một NĐT nào bỏ tiền ra mua TP cũng đặc biệt quan tâm là lợi tức và tính thanh khoản. Trong khi đó, do khối lượng TP Việt Nam giao dịch trên thị trường quốc tế còn mỏng, nên tính thanh khoản còn hạn chế. Do vậy, để có thể thu hút các NĐT, không có sự lựa chọn nào khác là phải dựa vào tỷ lệ lợi tức. Điều này giải thích tại sao mức lợi tức TP của đợt phát hành lần này cao hơn một số nước có điều kiện phát hành tương đương.
Để có thể không phải trả mức lợi tức cao hơn trong các đợt phát hành tới, cũng như tăng sức hấp dẫn của TP, theo ông Hà, Việt Nam cần nỗ lực hơn trong cải thiện tính thanh khoản cho TP cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.
Để đạt mục tiêu này, cần có cơ chế tháo gỡ tình trạng thành viên giao dịch trên thị trường sơ cấp vẫn chưa được thiết lập. Cũng cần có chính sách xây dựng thí điểm các nhà tạo lập thị trường, cũng như các tổ chức định mức tín nhiệm nhằm hỗ trợ cho sự phát triển năng động của thị trường TP...
Theo đại diện Bộ Tài chính, tính thanh khoản của TP phát hành ra thị trường quốc tế phụ thuộc đáng kể vào số lượng TP phát hành. Theo đó, những lô TP đưa ra phát hành tối thiểu phải từ 1 tỷ USD trở lên mới có tính thanh khoản cao.
Thực tế này đòi hỏi trong các đợt phát hành sắp tới, Việt Nam cần tuỳ thuộc vào “sức khoẻ” của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế, để quyết định thời điểm phát hành hợp lý với những lô TP có khối lượng lớn, thay vì phát hành làm nhiều đợt với khối lượng ít.
Khi tổng khối lượng TP Việt Nam được niêm yết trên TTCK quốc tế có “độ dày” đáng kể, khoảng từ hàng chục tỷ USD trở lên, thì mới có thể cải thiện được tính thanh khoản cho “mặt hàng” này, qua đó tạo cơ sở để hy vọng lợi tức TP Việt Nam không quá chênh với TP của các nền kinh tế có trình độ phát triển tương đương.
Đã có câu hỏi đặt ra là, tại sao phải phát hành TP bằng ngoại tệ ra thị trường nước ngoài với lợi tức cao, chi phí tốn kém, trong khi không phát hành trong nước để hưởng điều kiện ngược lại? Ông Hà cho biết, về chủ trương thì cho phép phát hành TP ngoại tệ trong nước và năm 2009 đã sử dụng biện pháp này. Tuy nhiên, cách làm này không thể kéo dài vì nguồn lực của NĐT trong nước có hạn. Hơn nữa, theo quan điểm của Bộ Tài chính, không nên phát hành TP bằng ngoại tệ tại thị trường nội địa, vì sẽ rơi vào tình trạng đô la hoá nền kinh tế.
Điều này cho thấy, xu hướng tiếp tục phát hành TP ra thị trường vốn quốc tế trong thời gian tới là bước đi tất yếu, nên để tạo thuận lợi cho việc phát hành thành công, nhất là với mức lợi tức “mềm”, Việt Nam sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong cải thiện sức hấp dẫn của TP.
Không thể phủ nhận năm 2009, do tỷ giá USD/VND biến động khá mạnh đã làm xuất hiện những nghi ngại về lạm phát cao có nguy cơ tái xuất hiện, nên các NĐT nuớc ngoài vẫn ngần ngại quay trở lại thị trường TP Việt Nam. Thái độ thận trọng này của các NĐT, theo ông Hà một lần nữa được các NĐT đưa ra chất vấn các thành viên trong Đoàn công tác. Ngoài ra, họ còn yêu cầu phía Việt Nam làm rõ tình hình dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách tỷ giá hối đoái, lãi suất… cả ở hiện tại cũng như tương lai trước khi quyết định rút hầu bao mua TP Việt Nam.
Hữu Hòe
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
Tìm cửa rộng hơn cho trái phiếu ngoại tệ
Việc phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu (TP) ra thị trường quốc tế vừa qua, tiếp sau đợt phát hành suôn sẻ 750 triệu USD trong năm 2005, đánh dấu bước tiến đáng kể của TP Việt Nam trong nỗ lực vươn ra thị trường vốn quốc tế.
Tuy nhiên, kết quả của đợt phát hành này cũng cho thấy những thách thức trong quá trình mở cánh cửa rộng hơn để bước vào thị trường vốn quốc tế với những đòi hỏi khắc nghiệt.
Không ít ý kiến bày tỏ mức lợi tức phát hành 6,95% được coi là cao. Tuy nhiên, tại cuộc họp báo công bố kết quả đợt phát hành 1 tỷ USD TP do Bộ Tài chính tổ chức, Thứ trưởng Bộ này, ông Trần Xuân Hà, Trưởng đoàn công tác của Chính phủ về đợt phát hành TP quốc tế khẳng định, đặt trong bối cảnh nền kinh tế trong và ngoài nước ở thời điểm phát hành, thì mức lợi tức trên là hợp lý.
Mức lợi tức này được hình thành dựa trên 3 yếu tố: xếp hạng định mức tín nhiệm của Việt Nam, tình hình giao dịch của TP Việt Nam đáo hạn vào năm 2016 (VN2016) và tình hình thị trường vốn quốc tế tại thời điểm phát hành.
|
Trong số 1 tỷ USD trái phiếu phát hành thành công, các quỹ đầu tư và công ty quản lý tài sản mua 73%, các quỹ bảo hiểm và hưu trí mua 10%, ngân hàng mua 7%, còn lại là các nhà đầu tư khác. Trái phiếu được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán Singapore và đáo hạn vào ngày 29/1/2020
| Ông Hà cho biết, Việt Nam hơn Indonesia và Philippines một bậc ở Bảng xếp hạng tín nhiệm của S&P, nhưng không được đánh giá cao bằng hai nước này, vì chưa có đà lên hạng. Trong khi đó, lợi tức của VN2016 so với lợi tức TP của Indonesia và Philippines có cùng thời gian đáo hạn (năm 2016) cao hơn từ 1,25 - 1,5%. TP có kỳ hạn còn lại 6 năm có mức chênh lợi tức khá lớn như vậy, nếu tính theo kỳ hạn 10 năm thì khả năng chênh lệch còn lớn hơn. Đó là chưa kể trong quá trình triển khai đợt phát hành này, Việt Nam phải đối mặt với không ít diễn biễn bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới. Với những yếu tố “đầu vào” như vậy, rõ ràng sức cạnh tranh của TP Việt Nam khó sánh được với TP của các nền kinh tế tương đương.
Cũng theo ông Hà, có hai điều mà bất kỳ một NĐT nào bỏ tiền ra mua TP cũng đặc biệt quan tâm là lợi tức và tính thanh khoản. Trong khi đó, do khối lượng TP Việt Nam giao dịch trên thị trường quốc tế còn mỏng, nên tính thanh khoản còn hạn chế. Do vậy, để có thể thu hút các NĐT, không có sự lựa chọn nào khác là phải dựa vào tỷ lệ lợi tức. Điều này giải thích tại sao mức lợi tức TP của đợt phát hành lần này cao hơn một số nước có điều kiện phát hành tương đương.
Để có thể không phải trả mức lợi tức cao hơn trong các đợt phát hành tới, cũng như tăng sức hấp dẫn của TP, theo ông Hà, Việt Nam cần nỗ lực hơn trong cải thiện tính thanh khoản cho TP cả ở thị trường trong nước lẫn quốc tế.
Để đạt mục tiêu này, cần có cơ chế tháo gỡ tình trạng thành viên giao dịch trên thị trường sơ cấp vẫn chưa được thiết lập. Cũng cần có chính sách xây dựng thí điểm các nhà tạo lập thị trường, cũng như các tổ chức định mức tín nhiệm nhằm hỗ trợ cho sự phát triển năng động của thị trường TP...
Theo đại diện Bộ Tài chính, tính thanh khoản của TP phát hành ra thị trường quốc tế phụ thuộc đáng kể vào số lượng TP phát hành. Theo đó, những lô TP đưa ra phát hành tối thiểu phải từ 1 tỷ USD trở lên mới có tính thanh khoản cao.
Thực tế này đòi hỏi trong các đợt phát hành sắp tới, Việt Nam cần tuỳ thuộc vào “sức khoẻ” của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế, để quyết định thời điểm phát hành hợp lý với những lô TP có khối lượng lớn, thay vì phát hành làm nhiều đợt với khối lượng ít.
Khi tổng khối lượng TP Việt Nam được niêm yết trên TTCK quốc tế có “độ dày” đáng kể, khoảng từ hàng chục tỷ USD trở lên, thì mới có thể cải thiện được tính thanh khoản cho “mặt hàng” này, qua đó tạo cơ sở để hy vọng lợi tức TP Việt Nam không quá chênh với TP của các nền kinh tế có trình độ phát triển tương đương.
Đã có câu hỏi đặt ra là, tại sao phải phát hành TP bằng ngoại tệ ra thị trường nước ngoài với lợi tức cao, chi phí tốn kém, trong khi không phát hành trong nước để hưởng điều kiện ngược lại? Ông Hà cho biết, về chủ trương thì cho phép phát hành TP ngoại tệ trong nước và năm 2009 đã sử dụng biện pháp này. Tuy nhiên, cách làm này không thể kéo dài vì nguồn lực của NĐT trong nước có hạn. Hơn nữa, theo quan điểm của Bộ Tài chính, không nên phát hành TP bằng ngoại tệ tại thị trường nội địa, vì sẽ rơi vào tình trạng đô la hoá nền kinh tế.
Điều này cho thấy, xu hướng tiếp tục phát hành TP ra thị trường vốn quốc tế trong thời gian tới là bước đi tất yếu, nên để tạo thuận lợi cho việc phát hành thành công, nhất là với mức lợi tức “mềm”, Việt Nam sẽ phải nỗ lực rất nhiều trong cải thiện sức hấp dẫn của TP.
Không thể phủ nhận năm 2009, do tỷ giá USD/VND biến động khá mạnh đã làm xuất hiện những nghi ngại về lạm phát cao có nguy cơ tái xuất hiện, nên các NĐT nuớc ngoài vẫn ngần ngại quay trở lại thị trường TP Việt Nam. Thái độ thận trọng này của các NĐT, theo ông Hà một lần nữa được các NĐT đưa ra chất vấn các thành viên trong Đoàn công tác. Ngoài ra, họ còn yêu cầu phía Việt Nam làm rõ tình hình dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán quốc tế, chính sách tỷ giá hối đoái, lãi suất… cả ở hiện tại cũng như tương lai trước khi quyết định rút hầu bao mua TP Việt Nam.
Hữu Hòe
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
|