Bài viết của Nhã Thanh

Những chỉ dấu sớm nhất đối với nền kinh tế Trung Quốc trong tháng 6 cho thấy rằng lĩnh vực sản xuất có thể sẵn sàng giảm tốc, trong khi các thách thức khác có thể sẽ đến trong nửa sau năm nay, ...

Những chỉ dấu sớm nhất đối với nền kinh tế Trung Quốc trong tháng 6 cho thấy rằng lĩnh vực sản xuất có thể sẵn sàng giảm tốc, trong khi các thách thức khác có thể sẽ đến trong nửa sau năm nay, Bloomberg cho hay.

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã cho thấy mức độ tin tưởng thấp nhất trong 16 tháng qua, một chỉ số đo lường sản xuất cũng giảm và tình hình trong ngành kinh doanh thép vẫn ảm đạm. Dù vậy, hiện có một số tin tốt lành: tâm lý của các giám đốc kinh doanh vẫn tích cực, và triển vọng kinh tế theo góc nhìn của các chuyên gia tài chính đã phục hồi.

Sản lượng ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đã giảm bớt trong quý 2/2017 sau khi có bước khởi đầu mạnh mẽ hồi đầu năm, thể hiện qua việc đầu tư đang chậm lại, một số hình thức tín dụng đang bị siết chặt hơn và có bằng chứng cho thấy rằng các biện pháp ngăn chặn của cơ quan quản lý đối với thị trường nhà đất đang bắt đầu có tác dụng. 

Và đây là những gì mà các chỉ dấu mới nhất trong tháng 6 cho thấy:

Doanh nghiệp nhỏ

Chỉ số niềm tin doanh nghiệp nhỏ và vừa của Standard Chartered đã giảm xuống 54.7, mức thấp nhất trong vòng 16 tháng – điều này báo hiệu rằng các công ty nhỏ hơn đang thấy khó có được tín dụng hơn vì nhà điều hành đang có những động thái nhằm giảm bớt rủi ro tài chính. Một thước đo phụ về việc cho vay cũng đã giảm xuống 50, báo hiệu một sự xấu đi, lần đầu tiên được ghi nhận, Kelvin Lau và Hunter Chan, 2 chuyên gia kinh tế về lĩnh vực ngân hàng, cho biết.

Điều đó cho thấy rằng các ngân hàng hiện đang tỏ ra do dự hơn trong việc cho các công ty nhỏ vay, khiến họ phải gánh chịu hậu quả của việc siết chặt, Lau và Chan cho hay. “Mặc dù ngân hàng trung ương nước này sẽ có thể cung cấp đủ thanh khoản để tránh một sự thiếu hụt thanh khoản, nhưng giữa tình hình các điều kiện về thanh khoản khắt khe hơn, các ngân hàng có thể vẫn thích cho doanh nghiệp lớn vay hơn”, hai chuyên gia cho biết thêm.

Góc nhìn từ vệ tinh

Góc nhìn từ vệ tinh cũng trông có vẻ yếu hơn. Theo Chỉ số sản xuất nhìn từ vệ tinh Trung Quốc, lĩnh vực sản xuất đã cho thấy sự xấu đi lần đầu tiên kể từ tháng 8 năm ngoái. Chỉ số này đã giảm xuống 49.6.

Con số này được tập đoàn SpaceKnow có trụ sở San Francisco công bố sau khi dùng hình ảnh vệ tinh thương mại để giám sát hoạt động trên khắp hàng ngàn địa điểm công nghiệp. Kết quả trên 50 báo hiệu rằng các điều kiện đang được cải thiện, trong khi dưới mức này là cho biết rằng mọi chuyện đang trở nên xấu đi.

Ngành thép ảm đạm

Chỉ số tâm lý thị trường thép Trung Quốc của S&P Global Platts vẫn nằm ở mức “u ám” khi chỉ đạt 38.12 trong thang điểm 100. Thước đo này được dựa trên một cuộc khảo sát với khoảng 75 - 90 người tham gia thị trường có trụ sở ở Trung Quốc, trong đó có các trader và những nhà máy thép.

“Những người tham gia thị trường hiện không kỳ vọng bất cứ sự cải thiện lớn nào trong tháng sắp tới. Lòng tin ở thị trường xuất khẩu đã giảm sút sau 2 tháng tăng mạnh hơn vì khách hàng ở nước ngoài hiện tỏ ra thận trọng trong việc mua khi chiều hướng giá không rõ ràng lắm”, biên tập viên điều hành cao cấp của S&P Global Platts ở Melbourne, viết trong một thông cáo báo chí.

Giám đốc kinh doanh

Các giám đốc kinh doanh hiện tỏ ra lạc quan hơn. Một thước đo tâm lý dựa trên khảo sát đã leo lên 52.5, mức cao nhất trong vòng 20 tháng qua, công ty nghiên cứu World Economics có trụ sở ở Luân Đôn cho biết.

“Nhìn chung, chúng ta sẽ được chứng kiến một mức tăng nhỏ, không có gì là ấn tượng lắm. Nếu các xu hướng tăng trưởng theo chiều hướng đi lên này trong tăng trưởng thị trường và tăng trưởng doanh số tiếp tục được duy trì thì triển vọng là tích cực”, CEO Ed Jones viết trong một bức thư điện tử gửi đến Bloomberg.

Các chuyên gia tài chính

Theo khảo sát của Hội đồng Kinh tế Trung Quốc (CEP), một dự án liên kết giữa Trung tâm Nghiên cứu châu Âu (ZEW) ở Mannheim, Đức và đại học Fudan ở Thượng Hải, niềm tin của giới đầu tư quốc tế về triển vọng của Trung Quốc đã phục hồi trong tháng này so với tháng 5.

Chỉ số ZEW về các kỳ vọng của nhà đầu tư dành cho nền kinh tế Trung Quốc trong 12 tháng sắp tới đã tăng vọt từ mức -0.1 trong tháng 5 lên 9.7, nhưng vẫn còn thấp hơn mức 17.1 của tháng 4/2017./.

Trong khi giới đầu tư dường như đã có chung quan điểm rằng đợt tăng của đồng USD sắp kết thúc thì ngân hàng Credit Agricole lại có cái nhìn ngược lại: Đồng bạc xanh vẫn còn có khả năng mạnh lên, CNBC ...

Trong khi giới đầu tư dường như đã có chung quan điểm rằng đợt tăng của đồng USD sắp kết thúc thì ngân hàng Credit Agricole lại có cái nhìn ngược lại: Đồng bạc xanh vẫn còn có khả năng mạnh lên, CNBC cho hay.

 

Vào hôm thứ Hai, David Forrester, Chiến lược gia ngoại hối của ngân hàng trên, nói với CNBC rằng các thị trường đã tập trung chủ yếu vào dữ liệu lạm phát của Mỹ và đã phản ánh luôn quan điểm thận trọng quá mức của Cục Dự trữ Liên bang (Fed). Tuy nhiên, ông nghĩ rằng Fed sẽ có thái độ “diều hâu” hơn so với những gì đang được kỳ vọng, điều mà sẽ ủng hộ cho đồng USD.

“Fed dường như đã thay đổi cơ chế phản ứng chính sách của mình. Đúng là họ sẽ chú ý đến dữ liệu, nhưng sẽ ít hơn thế. Giờ đây họ muốn bình thường hóa lãi suất của mình để thật sự có thể cắt giảm lãi suất trong đợt suy thoái tiếp theo”, Forrester nói.

“Chúng ta đừng quên điều này: tăng trưởng của Mỹ, dù nhỏ, nhưng thật sự là gần như đã chín muồi, vì thế Fed đang chuẩn bị cho đợt suy thoái kế tiếp. Đó là lý do vì sao chúng tôi nghĩ rằng họ sẽ tăng lãi suất và chúng ta sẽ thấy một sự dốc lên của đường cong lợi suất trái phiếu và điều đó sẽ hỗ trợ cho Mỹ trong tương lai”.

Credit Agricole kỳ vọng Fed sẽ có một đợt tăng lãi suất nữa trong năm nay, và 3 đợt khác trong năm 2018. Lạm phát của Mỹ – hiện vẫn dưới mục tiêu 2% của họ mặc dù tỷ lệ thất nghiệp thấp – suốt mấy ngày qua là điểm chủ chốt trong tranh luận liệu Fed có nên tiếp tục bình thường hóa lãi suất hay không.

Forrester nói rằng Mỹ không phải là quốc gia duy nhất hứng chịu sự phân kỳ giữa tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát. Trên toàn cầu, các nền kinh tế hiện phải đối mặt với những vấn đề về cấu trúc như dân số đang già đi và sự tự động hóa đang chiếm mất việc làm của người lao động, những điều mà có thể làm tăng rủi ro suy thoái.

Tuy nhiên, ông cho rằng mức lạm phát của Mỹ sẽ được cải thiện nhờ tiền lương tăng trưởng mạnh hơn và giá dầu phục hồi.

“Chúng tôi mong nền kinh tế Mỹ tiếp tục phục hồi và mạnh lên, chúng tôi sẽ tin vào đường cong Philips ở Mỹ. Chúng tôi mong tăng trưởng tiền lương sẽ tăng tốc và (các) kỳ vọng lạm phát sẽ tăng trở lại. Vì thế, nhìn chung, chúng tôi mong đợi đường cong Phillips sẽ dốc hơn”, ông nói. Đường cong Philips liên quan tới một mối tương quan nghịch chiều giữa mức thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát.

Các quan điểm của Forrester hiện tương phản với quan điểm của nhiều nhà phân tích vì họ kỳ vọng đồng USD sẽ yếu đi. Trong chương trình "Squawk Box" của CNBC, Ken Peng, Chiến lược gia đầu tư châu Á của Citi, nói rằng đồng bạc xanh đang hướng tới một “chu kỳ mới” sau đợt tăng kéo dài 6 năm kể từ năm 2011 đến nay.

Ông nói thêm rằng đồng USD yếu đi sẽ là “một trong những xu hướng thị trường lớn nhất” đối với nhà đầu tư.

“Tôi nghĩ nước Mỹ có lẽ vẫn đang cố gắng thông qua một số cải cách thuế, cắt giảm thuế, kích thích tài khóa nhưng điều đó sẽ xảy ra với quy mô nhỏ hơn nhiều. Điều đó nghĩa là thành quả kinh tế, lãi suất, lạm phát của Mỹ có lẽ sẽ không vượt quá nhiều so với phần còn lại của thế giới và có thể điều đó sẽ khiến cho đồng USD yếu hơn”, Peng phân tích.

“Trong tương lai, chúng ta sẽ thấy một chu kỳ mới đối với đồng USD. Chu kỳ này sẽ không nhỏ nhưng cũng chẳng phải là ngắn. Tôi thật sự nghĩ rằng sau đợt tăng kéo dài 6 năm, có lẽ chúng ta sẽ được chứng kiến đồng USD yếu đi trong một vài năm. Điều đó thường khiến cho đồng USD có thể bị yếu đi từ 15% đến 20% trong vài năm”./.

Hôm thứ Năm (22/06), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã công bố kết quả vòng 1 đợt sát hạch thường niên của mình với mục đích xác định các ngân hàng có đủ sức khỏe tài chính để vượt qua được một cuộc ...

Hôm thứ Năm (22/06), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã công bố kết quả vòng 1 đợt sát hạch thường niên của mình với mục đích xác định các ngân hàng có đủ sức khỏe tài chính để vượt qua được một cuộc suy thoái nghiêm trọng hay không, CNNMoney cho hay.

 

Các nhà điều hành đang thực hiện kiểm tra đối với 34 tổ chức, trong đó có Bank of America, JPMorgan Chase, và Citigroup. CIT Group là “người mới” trong đợt kiểm tra này. Các ngân hàng sẽ được đánh giá dựa trên những điều kiện kinh tế hơi khắt khe hơn so với trước đây. Cuộc kiểm tra sẽ đưa ra một kịch bản giả định có phần đáng lo ngại một chút: tỉ lệ thất nghiệp là 10%, giá nhà đất giảm mạnh và một cuộc suy thoái nghiêm trọng ở khu vực đồng tiền chung Euro (eurozone).

Bằng cách này, nhà điều hành đang tìm kiếm hai thông tin chủ chốt. Một là, liệu các ngân hàng này có đủ vốn để sống sót nổi trước sự hỗn loạn kinh tế trong hệ thống tài chính hay không. Hai là, các công ty này có giỏi nhận diện và đo lường rủi ro khi họ lên các kế hoạch của mình không.

Nhà điều hành có thể từ chối kế hoạch về vốn của một ngân hàng vì bất kỳ lý do nào không đáp ứng được hai tiêu chí trên. Đây là năm thứ 7 liên tiếp Fed tiến hành sát hạch, sau khi thế giới phải hứng chịu cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Mỗi năm, các nhà điều hành đều cải tiến cuộc kiểm tra này để bảo đảm rằng họ đang theo dõi sát sao các ngân hàng. Nhà điều hành cũng muốn xem thử khả năng chống chọi với những cú sốc tài chính có thể xảy ra của mỗi ngân hàng.

Điều đó nghĩa là ngay cả nếu một ngân hàng nào đó vượt qua được kì sát hạch năm ngoái thì chẳng có bảo đảm rằng họ sẽ làm được điều tương tự trong năm nay.

Chẳng hạn HSBC khu vực Bắc Mỹ và tập đoàn tài chính RBS Citizens đã vượt qua được kỳ sát hạch năm 2013, nhưng lại bị “rớt đài” trong năm sau đó.

Các ngân hàng sẽ có cơ hội rà soát lại các kế hoạch về vốn của mình trước khi các kết quả của tuần tới được công bố. Tuy nhiên, bất kì ngân hàng nào bị rớt sẽ phải tạm ngưng lại các kế hoạch mới và sẽ không được phép chi trả cổ tức cho các cổ đông cho tới khi được các nhà điều hành chấp thuận.

Giới quản lý ở Phố Wall mô tả các cuộc sát hạch như là một “hộp đen”, được giữ kín một cách có chủ đích nhằm tránh trường hợp các ngân hàng sẽ tìm cách lách luật. Nhà điều hành cho rằng họ đã tiếp tục cung cấp thêm hướng dẫn cho các tổ chức tài chính nhằm cải thiện các kì vọng được đặt ra.

Tổng thống Donald Trump đã hứa sẽ xóa bỏ nhiều quy định đối với các ngân hàng, đặc biệt là những quy định mà ông cho rằng đã kìm hãm việc cho vay. Ông Trump đã hứa sẽ dỡ bỏ nhiều hạn chế đối với các công ty tài chính mà đã có hiệu lực sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, trong đó có đạo luật Dodd-Frank được đưa ra năm 2010.

“Tôi hiện có rất nhiều người quen, bạn bè có được những doanh nghiệp tốt. Họ không thể vay được đồng nào vì các ngân hàng sẽ không cho họ vay do bị ràng buộc bởi các quy định trong đạo luật Dodd-Frank”, ông Trump nói hồi tháng 2.

Xem xét lại các cuộc sát hạch thường niên của Fed là một trong hơn 100 đề xuất mà chính quyền mới của ông Trump đã thực hiện nhằm giảm bớt gánh nặng cho các ngân hàng, trong đó có việc hạn chế số lượng công ty tài chính phải bị đối mặt với hình thức kiểm tra này.

Mặc dù một số ngân hàng nói rằng họ sẽ cho vay nhiều hơn nếu không có đạo luật Dodd-Frank, nhưng việc cho vay vẫn đang tăng trưởng. Dữ liệu cho thấy rằng chính do thiếu nhu cầu chứ không phải thiếu nguồn cung mới đang khiến các công ty Mỹ giảm vay tiền.

“Cho vay nhìn chung đã tăng trưởng trên toàn hệ thống ngân hàng, và cũng đã đến được tay các doanh nghiệp nhỏ”, Chủ tịch Fed, bà Janet Yellen, phát biểu hồi tháng 2. “So với các đối thủ cạnh tranh trên toàn cầu, các ngân hàng Mỹ nhìn chung hiện được xem là khá mạnh. Họ đã tạo dựng được nguồn vốn khá lớn, một phần là do chúng tôi đòi hỏi họ phải làm như thế”, bà nói thêm./.

Theo cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch Ratings, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Thái Lan có thể đạt đỉnh vào cuối năm 2017, một triển vọng có thể xoa dịu phần nào tâm lý nhà đầu tư ở một trong những thị ...

Theo cơ quan xếp hạng tín dụng Fitch Ratings, tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng Thái Lan có thể đạt đỉnh vào cuối năm 2017, một triển vọng có thể xoa dịu phần nào tâm lý nhà đầu tư ở một trong những thị trường chứng khoán có hiệu suất tệ nhất trong năm nay.

 

Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan hiện không sáng sủa lắm nhưng tương đối ổn định ở mức khoảng 3%, qua đó báo hiệu một sự tăng trưởng chậm hơn trong nợ xấu ở những tháng tới và cuối cùng sẽ đạt đỉnh vào cuối năm hoặc ngay sau đó, Parson Singha, Giám đốc cấp cao phụ trách việc theo dõi các tổ chức tài chính tại Fitch Ratings ở Bangkok, cho biết.

“Điều đó phụ thuộc nhiều vào việc chu kỳ kinh tế này diễn ra như thế nào. Tăng trưởng đã tương đối yếu suốt vài năm qua, nhưng đồng thời có vẻ như môi trường kinh doanh về cơ bản đã không còn tệ, và các ngân hàng đã và đang siết chặt các tiêu chuẩn bao tiêu phát hành chứng khoán của họ”, Parson nói trong một cuộc phỏng vấn hôm thứ Hai.

Dữ liệu của Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BoT) cho thấy tổng nợ xấu tại các ngân hàng thương mại đã leo lên đến 2.94% tổng nợ trong quý 1/2017, mức cao nhất kể từ năm 2011 đến nay. Điều này gây ra những thách thức không nhỏ cho các ngân hàng, khi nền kinh tế đang ì ạch và nợ hộ gia đình lại tăng. Vào thời điểm hiện tại, Fitch tiếp tục có một cái nhìn tiêu cực dành cho lĩnh vực ngân hàng của quốc gia này, Parson nói.

Lĩnh vực ngân hàng Thái Lan hiện có tổng giá trị thị trường khoảng 2.2 ngàn tỷ baht (tương đương với 65 tỷ USD), hay 14% của tổng giá trị thị trường của chỉ số chứng khoán Thái Lan (SET).

Nợ xấu tăng có nguy cơ gây tổn hại đến tâm lý nhà đầu tư. Chỉ số SET đã leo dốc 2.3% trong năm 2017, mức tăng thấp thứ 2 sau Trung Quốc trong các thị trường chứng khoán lớn ở châu Á.

Kế hoạch nhằm tăng tốc các dự án lớn về cơ sở hạ tầng của Chính phủ Thái Lan có thể cải thiện niềm tin của nhà đầu tư bằng cách tăng nhu cầu nợ mới và vì thế giúp giảm tỷ lệ nợ xấu, Prapas Tonpibulsak, chuyên gia đầu tư trưởng của Talis Asset Management ở Bangkok, phân tích.

Dựa trên những tính toán của riêng mình, Fitch ước tính rằng tổng tỷ lệ nợ xấu và nợ cần sự chú ý đặc biệt của Thái Lan hiện đang ở mức 6.6% trong quý đầu tiên. Được biết, nợ cần sự chú ý đặc biệt là những món nợ sẽ quá hạn trong thời gian từ 1 đến 3 tháng.

Cuối tháng 3 vừa qua, Trung Quốc đã có tỷ lệ nợ xấu là 1.74%. Ở Ấn Độ, stressed assets (là các tài sản được rao bán nhưng thường ở mức giá thấp vì người sở hữu buộc phải bán chúng) đã tăng lên khoảng 17% trong tổng nợ của họ hồi tháng 12 năm ngoái.

Theo Parson, ngay cả sau khi nợ xấu đạt đỉnh ở Thái Lan, các quy định kế toán mới sắp được thực thi trong năm 2019 sẽ ngăn không cho các ngân hàng thực hiện cho vay rất mạnh tay. Các tiêu chuẩn có tên gọi IFRS 9 này có thể dẫn tới việc tăng các khoản dự phòng và các ngân hàng đang bắt đầu chuẩn bị, ông nói.

Các ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy, kinh tế Thái Lan có thể tăng trưởng khoảng 3% trong năm 2017, xếp sau những quốc gia lân cận như Indonesia và Malaysia. Hoạt động đầu tư trong lĩnh vực tư nhân sa sút là một trong số những thách thức mà Chính phủ nước này đang phải đối mặt./.

Google và Microsoft có bao giờ lo lắng về viễn cảnh bị một nhà bán lẻ sách trực tuyến như Amazon “qua mặt” ở một trong những thị trường tăng trưởng cao nhất của họ: dịch vụ đám mây? Có bao giờ Apple ...

Google và Microsoft có bao giờ lo lắng về viễn cảnh bị một nhà bán lẻ sách trực tuyến như Amazon “qua mặt” ở một trong những thị trường tăng trưởng cao nhất của họ: dịch vụ đám mây? Có bao giờ Apple sợ rằng trợ lý ảo Alexa của Amazon sẽ “nuốt gọn” trợ lý ảo Siri của họ?

Vì vấn đề đó, ngành taxi truyền thống đã không thể tưởng tượng được rằng một startup đến từ thung lũng Silicon sẽ là mối đe dọa lớn nhất của họ, cũng như AT&T và Verizon chắc chắn đã không tưởng tượng nổi rằng một công ty truyền thông xã hội như Facebook lại có thể trở thành kẻ thống trị trong ngành viễn thông di động.

Thế nhưng đây là bản chất mới của sự phá bĩnh: cạnh tranh mang tính phá bĩnh xuất hiện một cách đột ngột và đầy ngạc nhiên. “Những người đương nhiệm” không sẵn sàng cho điều này và kết quả là, phần lớn các công ty hàng đầu ngày nay sẽ có thể trở thành “mồi ngon” trong một thập kỷ, hoặc thậm chí là chưa tới.

Hãy nhớ lại hành trình của Amazon. Đầu tiên, họ chỉ là những hiệu sách, làm những công việc xuất bản và phân phối, sau đó là cung cấp những sản phẩm làm vệ sinh, đồ điện tử và hàng gia dụng. Giờ đây Amazon có thể sẽ thống trị tất cả các hình thức bán lẻ cũng như dịch vụ đám mây, thiết bị điện tử và cho vay ở quy mô nhỏ. Và vụ thôn tính Whole Foods của họ cho thấy rằng Amazon đang phá vỡ những rào cản giữa thế giới kỹ thuật số và thế giới thực.

Đây là loại phá bĩnh mà chúng ta sẽ thấy hầu như ở mọi ngành nghề trong thập kỷ tới, khi các công nghệ tiến bộ, hội tụ, và biến những công ty đang giữ vị trí hàng đầu thành “mồi ngon”. Chúng ta đã chứng kiến những tiến bộ trong các thiết bị tính toán, với những chiếc điện thoại thông minh có khả năng tính toán còn tuyệt vời hơn cả các siêu máy tính của ngày xưa. Giờ đây, mọi công nghệ với một nền tảng tính toán đều đang tiến bộ vượt bậc - trong đó gồm các lĩnh vực như cảm biến, trí thông minh nhân tạo, ngành thiết kế và chế tạo robot, sinh học tổng hợp và in 3-D. Và khi những công nghệ hội tụ, chúng cho phép các ngành “xâm phạm lãnh thổ” lẫn nhau.

Uber đã trở thành một mối đe dọa cho ngành vận tải bằng cách tận dụng những tiến bộ trên điện thoại thông minh, cảm biến GPS, và mạng internet. Airbnb cũng làm tương tự trong lĩnh vực khách sạn bằng cách dùng những công nghệ tiến bộ này để kết nối mọi người qua việc cung cấp chỗ ở. Khả năng sử dụng kết nối internet của Netflix đã khiến cho Blockbuster phá sản. WhatsApp của Facebook và Skype của Microsoft đã giúp giảm mạnh chi phí nhắn tin và gọi điện thoại, khiến cho các công ty viễn thông mất khoảng 386 tỷ USD trong giai đoạn 2012 – 2018.

Tương tự, sau khi đã chứng tỏ rằng những chiếc xe điện có thể tồn tại được, Tesla đang xây dựng các công nghệ bằng pin và năng lượng mặt trời, điều mà có thể gây “sốc” cho ngành năng lượng toàn cầu. Giờ đây các công ty công nghệ đang xây dựng những thiết bị cảm biến giám sát sức khỏe. Với trí thông minh nhân tạo, những công ty này sẽ có thể cung cấp sự phân tích dữ liệu y khoa tốt hơn cả bác sĩ. ResearchKit của Apple đang thu thập nhiều dữ liệu đến nỗi nó có thể sẽ đánh bại được ngành dược phẩm bằng cách thiết lập nên mối tương quan giữa sự hiệu quả và tác dụng phụ của những loại thuốc mà chúng ta uống.

Google, Facebook, SpaceX, và Oneweb cũng đang chạy đua nhau để cung cấp wifi miễn phí khắp nơi thông qua những máy bay không người lái, những vệ tinh siêu nhỏ và các khinh khí cầu. Đầu tiên, họ sẽ sử dụng các công ty viễn thông để cung cấp dịch vụ, sau đó họ sẽ biến các công ty đó thành “mồi ngon”. Đừng quên rằng động lực của ngành công nghệ là giúp mọi người lên mạng mọi lúc. Các mô hình kinh doanh của họ sẽ biến dữ liệu thành tiền thay vì là tính phí truy cập hay phí dữ liệu. Rồi cuối cùng họ cũng sẽ “nuốt” luôn ngành giải trí điện tử – cũng như mọi ngành nghề có liên quan đến việc xử lý thông tin.

Những vụ phá bĩnh này không xảy ra trong một ngành, vì các quản lý doanh nghiệp ấy đã được dạy dỗ bởi các nhà thông thái như Clayton Christensen, tác giả của quyển kinh thánh về quản lý “The Innovator’s Dilemma”.Thay vào đó, chúng đến từ nơi mà bạn sẽ ít mong đợi nhất. Christensen cho rằng các công ty có khuynh hướng “ngó lơ” những thị trường mà dễ bị tổn thương nhất với những sáng tạo mang tính phá bĩnh vì các thị trường này thường khó kiếm lợi nhuận hoặc có lợi nhuận quá thấp, khiến cho các đối thủ cạnh tranh khởi đầu bằng cách cung cấp những sản phẩm có giá thấp hơn và sau đó phát triển dần lên, hoặc tìm “ngỏ ngách” trong một thị trường mà các công ty đang giữ vị trí dẫn đầu đang không chú ý đến. Tuy nhiên, sự cạnh tranh đó không còn đến từ những công ty nhỏ hơn của một thị trường, mà là đến từ những ngành hoàn toàn khác.

Vấn đề cho các công ty dẫn đầu thị trường là họ hiện không sẵn sàng cho sự phá bĩnh này và thường không thừa nhận thực tế.

Vì đã thành công trong quá khứ, nên các công ty đó tin rằng họ có thể thành công trong tương lai, và rằng các mô hình kinh doanh cũ có thể hỗ trợ cho những sản phẩm mới. Những công ty lớn thường được tổ chức thành những bộ phận và các rào cản chức năng khác nhau, trong đó mỗi bộ phận có sự phát triển sản phẩm, bán hàng, marketing, hỗ trợ khách hàng và chức năng tài chính riêng. Mỗi bộ phận hoạt động riêng và tập trung vào thành công riêng. Bên trong pháo đài bảo vệ cho ý tưởng của mình, họ có lãnh đạo và văn hóa riêng. Và các nhân viên tập trung vào những vấn đề của riêng bộ phận mình – chứ không phải những vấn đề của công ty. Điều rất thường xảy ra là các bộ phận này xem đối thủ của họ là những bộ phận khác trong công ty, họ không thể hình dung ra được những ngành mới hay thấy được mối đe dọa ấy từ những ngành nghề khác.

Đây là lý do vì sao phần lớn những công ty hàng đầu hiện nay có thể đi theo “vết xe đổ” của Blockbuster, Motorola, Sears và Kodak, vốn từng là người dẫn đầu trong cuộc chơi cho tới khi các thị trường của họ bị phá bĩnh, khiến cho họ bị quên lãng.

Các công ty giờ đây phải sẵn sàng “chiến đấu”. Họ cần học hỏi về tiến bộ công nghệ và xem mình giống như cách của một startup công nghệ ở thung lũng Silicon: là mục tiêu béo bở cho sự phá bĩnh. Họ phải nhận thấy rằng mối đe dọa đó có thể xuất hiện từ bất kỳ một ngành nào, với bất kỳ công nghệ mới nào. Các công ty cần một sự chung tay – với tất cả các bộ phận cùng làm việc với nhau, dùng lối suy nghĩ mới, táo bạo để tìm ra cách thay đổi mình hoàn toàn và tự bảo vệ mình khỏi cuộc tấn công của sự cạnh tranh mới.

Tóm lại, chọn lựa mà cách nhà lãnh đạo đang đối mặt là phá bĩnh chính mình hay là sẽ bị phá bĩnh./.

MarketWatch

Sự hồi phục kinh tế “khiêm tốn” trong những năm qua khiến Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Janet Yellen, và những người đứng đầu các ngân hàng trung ương khác đang xem xét một vấn đề từng được ...

Sự hồi phục kinh tế “khiêm tốn” trong những năm qua khiến Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Janet Yellen, và những người đứng đầu các ngân hàng trung ương khác đang xem xét một vấn đề từng được xem là không thể tưởng tượng được: đó là từ bỏ những nỗ lực lâu nay nhằm giữ lạm phát ở mức thấp và cho phép những kỳ vọng về giá cả tăng lên, Reuters cho hay.

 

Trong nhận định của mình hôm thứ Tư vừa qua, bà Yellen đã gọi cuộc tranh luận về việc nâng các mục tiêu lạm phát toàn cầu đang nổ ra là một trong những câu hỏi quan trọng nhất mà chính sách tiền tệ đang đối mặt, khi lãnh đạo của các ngân hàng trung ương hiện phải vất vả tìm giải pháp cho một lối mòn kinh tế, trong đó tăng trưởng thấp, lãi suất thấp và giá cả yếu và tăng lương đang củng cố sức mạnh cho nhau.

Mục đích sẽ là một sự thay đổi tâm lý của doanh nghiệp và các hộ gia đình, đồng thời thuyết phục họ rằng giá cả sẽ tăng đủ nhanh trong tương lai, và họ sẽ giàu có hơn khi vay mượn và tiêu xài nhiều hơn trong thời đại ngày nay.

Ở thập kỷ 80 và 90, giữ được lạm phát ổn định là ưu tiên hàng đầu của ngân hàng trung ương ở các quốc gia phát triển.

Tiêu chí đó đã trở thành một mục tiêu cốt lõi của Fed và là niềm tin sâu sắc cho ngân hàng Bundesbank của Đức, và sau này là Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) – vốn được thành lập vào năm 1998 với nhiệm vụ duy trì sự ổn định giá cả mà theo định nghĩa là lạm phát dưới 2%.

Mục tiêu 2% đó, vốn được hiểu là giá cả sẽ tăng gấp đôi cứ mỗi 35 năm và được xem là vừa mang lại sự ổn định vừa là bước đệm đầy đủ để chống lại giảm phát, hiện rất phổ biến đối với các ngân hàng trung ương ở những nước phát triển.

Nâng mục tiêu lạm phát đó lên 3% hay thậm chí 4% như một số nhà kinh tế học đề nghị sẽ thay đổi triển vọng của các công ty nói riêng, cho phép họ tính phí nhiều hơn đối với hàng hóa và trả tiền công lao động nhiều hơn mà không sợ rằng một ngân hàng trung ương sẽ can thiệp.

Để có hiệu quả, Fed sẽ phải ủng hộ mục tiêu mới đó với tốc độ nâng lãi suất chậm hơn so với mức mà họ cho là phù hợp.

Điều đó có thể mang đến rủi ro cho Fed, vốn đã nhiều lần bỏ lỡ mục tiêu hiện tại của mình và khiến cho mọi người quen kỳ vọng giá sẽ giảm và lương sẽ tăng, Ryan Sweet, chuyên gia phân tích của Moody, nói.

Ở một phương diện nào đó, Fed có thể là nạn nhân của sự thành công của chính họ và trong quá khứ, bà Yellen từng tỏ ra hoài nghi rằng liệu Fed có thể thay đổi được những kỳ vọng gắn liền với khả năng giữ lạm phát thật sự ở mức thấp của họ suốt nhiều năm bằng cách đơn giản là nâng mục tiêu của mình lên hay không.

Bằng cách cho phép lạm phát cao hơn, Fed sẽ tạo ra nhiều không gian hơn để lãi suất danh nghĩa tăng sau này mà không hạn chế tăng trưởng kinh tế, những người ủng hộ phân tích.

Với lãi suất được kỳ vọng vẫn duy trì ở mức thấp lịch sử, bà Yellen và những người đồng cấp của mình hiện lo lắng rằng ngay cả một cuộc suy thoái nhỏ cũng sẽ buộc họ phải giảm lãi suất về mức 0 và triển khai những công cụ thời khủng hoảng, như chương trình mua tài sản – một điều mà họ có thể tránh được nếu lãi suất cao hơn.

Tuy nhiên, những người hoài nghi lại đặt câu hỏi là liệu việc nâng mục tiêu lạm phát sẽ có tác động lâu dài lên hoạt động kinh tế không.

Nâng hay không nâng?

Trong suốt đợt hồi phục 8 năm qua, Fed đã liên tục giảm ước tính của họ về tiềm năng kinh tế Mỹ, về lãi suất cần có để đạt được điều đó, và nhìn chung đã không đưa lạm phát về được trở lại mức 2%. Hôm thứ Tư vừa qua, bà Yellen nói rằng có thể giờ là lúc xem xét lại.

“Chúng tôi đã học được nhiều điều”, bà Yellen nói về khoảng thời gian kể từ năm 2012 đến nay khi Fed ấn định mục tiêu lạm phát. Một bài học đã được rút ra là lãi suất sẽ bị kẹt ở các mức thấp lịch sử trừ khi có điều gì đó thay đổi. Nâng mục tiêu lạm phát với hy vọng điều đó có thể là chất xúc tác cho sự thay đổi hay không là một trong những quyết định quan trọng nhất của chúng tôi, bà nói.

Những người đứng đầu các ngân hàng trung ương ở châu Âu, Nhật Bản, Anh và những nơi khác cũng đã bắt đầu thảo luận chi tiết về phương án này, trong khi Ngân hàng Trung ương Canada (BoC) cứ 5 năm một lần lại xem xét lại mục tiêu lạm phát của họ.

Bất kỳ động thái nào cũng không có khả năng xảy ra trong tương lai gần.

Những nhà hoạch định chính sách có thể không muốn bỏ lỡ các mục tiêu của họ, nhưng họ cũng nhận ra lợi ích của những đợt tăng giá khiêm tốn xuất phát từ các chính sách của ngân hàng trung ương và một nền kinh tế toàn cầu hóa, giúp thúc đẩy chi phí sản xuất giảm xuống mang lại.

Kể từ đầu thập kỷ 1990 đến nay, thu nhập bình quân của hộ gia đình Mỹ và lạm phát tiêu dùng chung hầu như đồng bộ hoàn hảo với nhau. Chi phí giáo dục và chăm sóc sức khỏe đã tăng nhanh hơn, nhưng giá quần áo, đồ đạc trong nhà và thực phẩm nhìn chung đã tăng ít hơn hoặc không tăng so với thu nhập của hộ gia đình –  điều này mang lại lợi ích cho những người nghèo bị tác động nhiều nhất trong suốt các đợt lạm phát cao.

Tuy nhiên, điều đó cũng có thể đã tạo nên sức ỳ.

Chính sách tiền tệ hiện đại chủ yếu dựa trên khả năng tạo ra kỳ vọng của một ngân hàng trung ương, và Fed cùng với các ngân hàng trung ương khác đã rất thành công trong việc giữ lạm phát ở mức thấp đến nỗi giờ đây họ dường như không thể thay đổi tâm lý đó theo chiều ngược lại.

Fed cũng không còn khá chắc chắn về việc một số khía cạnh cơ bản của nền kinh tế đang hoạt động thế nào trong thời đại ngày nay.

Tỷ lệ thất nghiệp hiện thấp nhất trong 15 năm qua với 4.3%, nhưng tăng trưởng tiền lương ở mức thấp và gần đây, lạm phát đã trượt xa hơn khỏi mục tiêu của Fed./.

Mối đe dọa từ các Chính phủ của chủ nghĩa dân túy, các cuộc đàm phán Brexit và một nền kinh tế đình trệ đã vẽ nên một bức tranh u tối cho châu Âu khi bước vào năm 2017. Tuy nhiên, nửa chặng đường đã ...

Mối đe dọa từ các Chính phủ của chủ nghĩa dân túy, các cuộc đàm phán Brexit và một nền kinh tế đình trệ đã vẽ nên một bức tranh u tối cho châu Âu khi bước vào năm 2017. Tuy nhiên, nửa chặng đường đã qua và giờ nhà đầu tư đang tỏ ra là mình đã sẵn sàng cho các cải cách về mặt chính trị mới mẻ và một nền kinh tế tăng trưởng đang mang đến những cơ hội phía trước, CNBC cho hay.

Thủ tướng Đức, Angela Merkel (bên trái) và Tổng thống Pháp, Emmanuel Macron (bên phải)

“Năm nay được cho là năm mà những sự kiện rủi ro về mặt chính trị sẽ ‘ám’ châu Âu, với tất cả sự bất ổn và lo âu cùng với nó”, Jan Randolph, Giám đốc mảng rủi ro nợ công tại IHS Markit, nói với CNBC.

“Tuy nhiên, hóa ra là các nền kinh tế khu vực đồng tiền chung euro (eurozone) đang gây ngạc nhiên theo chiều hướng tích cực: tăng trưởng GDP cao hơn là tốt cho cổ phiếu nói chung. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng điều đó đã cản trở những cuộc bầu cử gần đây ở Anh. Thật sự đã không có bất kỳ sự thất vọng lớn nào về mặt chính trị, tình hình vẫn đang ủng hộ các cổ phiếu nhưng hơi tiêu cực đối với trái phiếu”, ông nói thêm.

Dữ liệu được công bố hồi tuần trước cho thấy rằng trong quý 1 năm nay, eurozone đã tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất kể từ năm 2015. Các dữ liệu về thất nghiệp và việc làm cũng được cải thiện trong suốt vài quý vừa qua. Kết quả là sau cuộc họp chính sách tiền tệ vào hôm thứ Năm tuần trước, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã cập nhật chính sách tiền tệ tương lai của họ, với mức rủi ro thấp hơn dành cho thành quả kinh tế.

Mối đe dọa từ chủ nghĩa dân túy đã giảm đáng kể

Ngoài dữ liệu kinh tế tích cực ra, những nỗi sợ về kết quả bầu cử tại những quốc gia quan trọng ở châu Âu cũng đã dần biến mất.

Ở Hà Lan và Pháp, cử tri đã nói không với một Chính phủ chủ nghĩa dân túy. Theo lịch trình, hiện vẫn còn vài cuộc bầu cử nữa ở Đức và Italy, nhưng mối đe dọa từ chủ nghĩa dân túy đã không còn.

Trong trường hợp cụ thể của Pháp, cử tri đã chọn ứng viên độc lập và ủng hộ châu Âu, Emmanuel Macron, và hiện tại ông cũng có thể thắng lớn trong các cuộc bầu cử Quốc hội, qua đó góp phần bảo đảm thêm rằng ông sẽ có được sự ủng hộ chính trị cần thiết để thông qua chương trình nghị sự của mình, trong đó có những cải cách về thị trường lao động và hội nhập sâu hơn với eurozone.

Những cuộc thăm dò ở các khu vực trong lãnh thổ Italy vào cuối tuần qua đã cho thấy lợi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của nước này đã giảm 7 điểm cơ bản hồi thứ Hai, khiến lợi suất của họ rơi về mức thấp nhất trong 6 tháng qua.

“Quan trọng nhất là chẳng có gì ngạc nhiên khi chúng ta vẫn có một vấn đề liên quan đến toàn bộ hệ thống ngân hàng châu Âu”, Richard Hodges, trưởng bộ phận thu nhập cố định không giới hạn tại Nomura Asset Management, nói với CNBC hôm thứ Hai. Đồng thời, ông lưu ý rằng: “Chúng ta đang cố gắng giải quyết vấn đề này và thật sự ECB cũng như lĩnh vực ngân hàng châu Âu đang xem xét giải quyết vấn đề này và đã làm như thế suốt 2-3 năm vừa qua”.

EU ích kỷ khiến cho Brexit trở nên ít quan trọng hơn

Đồng thời, các tổ chức lớn của châu Âu dường như đoàn kết hơn trước khi những cuộc đàm phán Brexit diễn ra, và cũng tập trung vào việc làm thế nào để đưa khối này tiến về phía trước.

Tuần trước, Ủy ban Châu Âu (EC) đã công bố một đề xuất dành cho liên minh phòng thủ châu Âu – điều mà nước Anh từ trước đến giờ luôn phản đối – và một số kế hoạch hợp nhất khác. Cùng với cách tiếp cận “ngồi và chờ đợi” với vấn đề Brexit, điều này đã làm cho hình ảnh về việc thực hiện chính sách của EU trở nên tốt hơn.

Trò chuyện với CNBC vào hôm thứ Hai vừa qua, Dan Collins, CEO của CCO Global, cho rằng EU đã và đang cho thấy những dấu hiệu của “sự ổn định”.

“’Hard Brexit’(ra đi trong khó khăn) hiện không còn là vấn đề được bàn tới vào thời điểm hiện tại và mãi mãi”, ông nói, sau khi Đảng Bảo thủ của bà Theresa May đã đánh mất đa số ghế trong Quốc hội Anh sau cuộc tổng tuyển cử hồi tuần trước và hậu quả là mất luôn vị thế đàm phán của mình.

Collins cũng nhắc lại phát biểu gần đây của Thủ tướng Đức, Angela Merkel, trong đó bà nói rằng EU có thể không còn phụ thuộc vào những đối tác chủ chốt nữa, trong đó có Mỹ, một điều cho thấy rằng EU đang tìm kiếm sự độc lập.

Nhưng vẫn còn một số điểm lo ngại

“Nói chung, eurozone là điều ngạc nhiên lớn của năm nay. Điều này có liên quan tới khuynh hướng phóng đại của những thị trường tại chính, ở cả hai hướng”, Carsten Brzeski, Chuyên gia kinh tế trưởng tại ING, viết trong một lá thư điện tử gửi tới CNBC. “Ngoài ra, dù eurozone không có nguy cơ tan rã vào đầu năm nay, nhưng có lẽ khu vực này cũng không phải đang ở thời điểm khởi đầu của một thiên đường mới. Với khoảng thời gian 6 tháng thì eurozone chỉ mới đâu đó ở giữa chặng đường. Vẫn còn sẽ phải tiến hành nhiều cải cách nữa, cả về kinh tế lẫn về mặt tổ chức”, ông nói thêm./.

Theo thăm dò của Reuters, một lượng lớn chuyên viên giao dịch (trader) ở các thị trường tài chính Trung Quốc nghĩ rằng Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) có thể nâng lãi suất ngắn hạn trong tuần ...

Theo thăm dò của Reuters, một lượng lớn chuyên viên giao dịch (trader) ở các thị trường tài chính Trung Quốc nghĩ rằng Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) có thể nâng lãi suất ngắn hạn trong tuần này nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định nâng lãi suất chính sách chủ chốt của họ, Reuters cho hay.

 

PBoC đã gây ngạc nhiên cho các thị trường hồi giữa tháng 3/2017 bằng việc nâng lãi suất liên ngân hàng ngắn và trung hạn sau khi Fed nâng lãi suất vay qua đêm.

Động thái đó khiến một số chuyên gia phân tích suy luận rằng PBoC đã quyết định “đồng bộ” các bước đi của họ với Fed nhằm giảm áp lực mất giá dai dẳng lên đồng Nhân dân tệ (NDT) so với đồng USD và nhằm làm nản lòng những người muốn chuyển vốn ra khỏi Trung Quốc.

Điều đó cũng phù hợp với các cam kết của Trung Quốc nhằm xử lý những rủi ro đến từ đà tăng mạnh của nợ ở quốc gia này.

Trong số 10 trader trên các thị trường tiền tệ, ngoại hối và trái phiếu của Trung Quốc được Reuters thăm dò, có 6 người tin rằng Trung Quốc cũng sẽ nâng lãi suất nếu Fed nâng lãi suất.

Tuy nhiên, quy mô của lần nâng lãi suất sắp tới sẽ ở mức nhỏ hơn, và sẽ có thể chỉ xảy ra với các lãi suất trên những Nghiệp vụ Thị trường Mở (OMO), các trader nói.

Họ không kỳ vọng PBoC sẽ nâng lãi suất cho vay tiêu chuẩn, vì gần 2 năm qua, điều này chưa hề xảy ra.

Fed được kỳ vọng sẽ nâng lãi suất thêm 0.25% sau cuộc họp chính sách ngày 13-14/06 tới.

Một vài đợt tăng do PBoC thực hiện hồi đầu năm nay chỉ ở mức 10 điểm cơ bản, và các trader mong đợi bất kỳ sự thay đổi nào trong tuần này cũng sẽ có quy mô tương tự.

Các cổ phiếu Trung Quốc đã tăng nhẹ sau khi Fed tăng lãi suất hồi tháng 3/2017. Thời điểm ấy cũng có rất ít phản ứng trên các thị trường tiền tệ và ngoại hối Trung Quốc.

“Hiện có những chênh lệch đáng kể giữa lãi suất của OMO và lãi suất thị trường. Vì vậy, một mức tăng nhẹ sẽ là khá bình thường”, một trader của một ngân hàng Trung Quốc có trụ sở tại Thâm Quyến cho biết.

Người này cho rằng bất kỳ tác động nào từ lãi suất thị trường cao hơn cũng sẽ không nhanh chóng phản ánh vào nền kinh tế thật sự, dù hầu hết các chuyên gia phân tích tin rằng việc siết chặt tín dụng từ từ và chi phí tài chính cao hơn sẽ bắt đầu tắc động tiêu cực đến nhiều hoạt động trong những tháng tới.

Tuy nhiên, 4 trong 10 trader trên nói rằng họ không nghĩ PBoC sẽ có thể nâng lãi suất trong tuần này.

Họ tranh luận rằng chính sách tiền tệ vốn đang thắt chặt vì Bắc Kinh tiếp tục quyết tâm với chiến dịch giảm bớt đòn bẩy nhằm ngăn chặn và giảm rủi ro trong hệ thống tài chính, và vì các ngân hàng trở nên thận trọng hơn với việc cho vay khi họ chuẩn bị cho một đợt kiểm tra số sách gắt gao theo quý do PBoC tiến hành.

Lãi suất liên ngân hàng Thượng Hải (SHIBOR) kỳ hạn 1 tháng đã tăng lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2015.

“Khoảng thời gian giữa năm nay là tương đối nhạy cảm, và thêm vào đó là các lãi suất ngắn hạn hiện không phải là thấp. Nâng lãi suất thêm sẽ tạo ra nhiều áp lực cho thị trường”, một trader của ngân hàng khu vực phân tích.

Bất ổn chính sách cũng leo thang sau khi đồng NDT đột ngột tăng mạnh trong những tuần qua – điều mà một số chuyên gia phân tích tin là do PBoC tạo ra như một biện pháp nhằm ngăn chặn bán khống trước khi Fed tăng lãi suất và xoa dịu áp lực giảm giá có thể xảy ra trong tương lai.

Những người tham gia thị trường đã có các ý kiến khác nhau về việc PBoC có nâng lãi suất của kênh cho vay trung hạn (MLF) hay không. Suốt thời gian qua, PBoC đã cho vay với thời gian đáo hạn lâu hơn, qua đó khiến chi phí vay của các ngân hàng tăng lên.

Thông thường, tháng 6 là tháng khá căng thẳng đối với tính thanh khoản của hệ thống tài chính, vì các công ty phải nộp thuế và ngân hàng cạnh tranh nhau để có đủ lượng tiền đáp ứng được cuộc “kiểm tra sức khỏe” theo quý.

Giới phân tích nói rằng dù PBoC đã thực hiện một số bước đi nhằm làm rõ ý định của mình, nhưng họ vẫn chưa rõ ràng trong chuyện truyền tải thông điệp về các động thái liên quan đến lãi suất.

Thống đốc PBoC, Zhou Xiaochuan, trước đây từng tỏ ra do dự khi tiết lộ quá nhiều về các chính sách của PBoC. Thậm chí, trong một cuộc phỏng vấn với Caixin hồi năm ngoái, ông đã so sánh ngân hàng này với một kỳ thủ không sẵn lòng tiết lộ các “mánh khóe” cho đối thủ biết./.

Các bạn có còn nhớ thời điểm Donald Trump chỉ trích người tiền nhiệm Barack Obama (và thường là) về sự hồi phục kinh tế yếu như thế nào trong suốt thời ông Obama làm Tổng thống không? Đó là mức tăng ...

Các bạn có còn nhớ thời điểm Donald Trump chỉ trích người tiền nhiệm Barack Obama (và thường là) về sự hồi phục kinh tế yếu như thế nào trong suốt thời ông Obama làm Tổng thống không? Đó là mức tăng trưởng yếu nhất thời kỳ hậu suy thoái, ông Trump nhắc lại. Và ông ấy đã đúng về chuyện đó. Nếu dự báo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) – được công bố trong tuần này – về tăng trưởng GDP toàn cầu là đúng thì ông Trump sẽ ao ước có được những con số của ông Obama, Forbes cho hay.

Tiêu đề phụ trong báo cáo của WB nói lên tất cả: “Một sự hồi phục mong manh”. Đó là những gì chúng ta kế thừa từ vụ vỡ bong bóng thị trường nhà đất và chứng khoán phái sinh của giai đoạn 2008 – 2009, và sự dễ vỡ là một yếu tố cơ bản của “giai đoạn bình thường mới” trong sự tăng trưởng thấp và chậm, được hỗ trợ bởi các chi phí tín dụng gần như bằng 0.

Tính theo tăng trưởng thực (có trừ đi lạm phát), nền kinh tế Mỹ được kỳ vọng sẽ tăng trưởng 2.1% trong năm 2017. Con số đó là tốt hơn so với năm 2016, năm tại vị cuối cùng của cựu Tổng thống Obama. Tuy nhiên, khi nhìn lại giai đoạn 2014-2015 và 2018-2019 thì bạn thấy rằng 2 năm cuối của ông Obama sẽ có tốc độ tăng trưởng tốt hơn so với 2 năm lãnh đạo đầu tiên của ông Trump, các chuyên gia kinh tế của WB viết.

Trong năm 2014 và 2015, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng lần lượt là 2.4% và 2.6%. Trong năm 2018 và 2019, WB đang dự báo GDP của Mỹ sẽ tăng 2.2% và 1.9%, nghĩa là kinh tế dưới thời ông Trump tăng trưởng chậm hơn thời ông Obama.

WB cho rằng tổng GDP trên thế giới sẽ tăng trưởng tương đối yếu với 2.7%, chỉ đủ giúp làm tăng số lượng tầng lớp trung lưu ở phần lớn các quốc gia đang phát triển, chứ khó mà xảy ra ở các nền kinh tế đang giữ vai trò quan trọng.

Ngoài ra, mặc dù báo cáo của WB chỉ ra rằng châu Âu và châu Á sẽ là động lực tăng trưởng trong 2 năm tới, nhưng thật sự thì chỉ có một nhóm quốc gia nhỏ ở châu Á mới có thể làm điều đó, vì châu Âu hiện đang rơi vào tình trạng bất ổn, và chỉ cần khu vực này ổn định thôi là đã đủ tốt rồi.

Khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro (eurozone) được dự báo sẽ tăng trưởng 1.7% trong năm nay, và giảm trong năm 2018 khi GDP Mỹ tăng trưởng. Eurozone sẽ tăng trưởng ổn định ở mức 1.5% trong năm 2018 và 2019 nếu tất cả mọi chuyện đều diễn ra theo kịch bản cơ sở là: hòa hợp chính trị, không có khủng hoảng ngành ngân hàng và tranh chấp thương mại. Tin tốt lành ở châu Âu là châu lục này không còn bị suy thoái nữa, mọi thứ đều khá rẻ. Tiền đang lưu thông tự do. Châu lục này không đang tăng trưởng nhiều hơn Mỹ, nhưng sự thật là thương mại thế giới đang được hỗ trợ nhờ sự tăng trưởng của nó.

Trong khi đó, châu Á đang được dẫn dắt bởi Trung Quốc và một thị trường mới nổi ưa thích của Phố Wall – Ấn Độ. Trung Quốc được cho là sẽ tăng trưởng chậm lại, từ 6.5% xuống còn 6.3%, cho đến năm 2019. Và Ấn Độ sẽ tăng từ 7.2% lên 7.7% trong cùng giai đoạn. Những nền kinh tế có thể đầu tư dễ dàng khác như Indonesia và Thái Lan cũng sẽ tăng trưởng, với Indonesia được dự báo là tăng từ 5.2% lên 5.4% và Thái Lan tăng từ 3.2% lên 3.4% từ đây cho đến năm 2019.

WB nói gì về nước Mỹ dưới thời Donald Trump?

Cắt giảm thuế doanh nghiệp, bảo hiểm y tế với giá phải chăng, và chi tiêu mạnh cho cơ sở hạ tầng là một phần trong câu chuyện tăng trưởng của ông Trump. Tới thời điểm này, vẫn không có câu chuyện nào trong số trên xảy ra. Cắt giảm thuế doanh nghiệp thì không có khả năng xảy ra cho tới tận năm 2018 khi sắp có cuộc bỏ phiếu về Quốc hội Mỹ vì thế nhà đầu tư nên mong đợi một cuộc chiến, dù Đảng Cộng hòa đang nắm quyền kiểm soát ở cả Thượng viện lẫn Hạ viện.

Khi ông Trump nhậm chức hồi tháng 1/2017, hoạt động kinh tế của Mỹ tạm thời bị “níu chân” do người tiêu dùng giảm chi tiêu, phần lớn là vì những yếu tố như năng lượng. Cụ thể, không phải vì người Mỹ không đang tiêu tiền và đầu tư mà là vì mùa đông ấm áp hơn nên người tiêu dùng ít phải tốn tiền hơn cho nhiên liệu sưởi ấm.

Chi tiêu vốn trong lĩnh vực năng lượng đã cho thấy các dấu hiệu chạm đáy sau hai năm giảm chi tiêu mạnh vì giá dầu thấp. Tuy nhiên, trong cái rủi lại có cái may vì các công ty đã biết cách tăng sản lượng trong lĩnh vực dầu đá phiến với mức chi phí thấp hơn, nghĩa là họ không còn cần giá dầu cao hơn để hòa vốn.

Các điều kiện của thị trường lao động tiếp tục cải thiện trong năm 2017, nhưng tiền lương và tăng trưởng năng suất vẫn ì ạch trong quý đầu tiên của ông Trump, giống như thời ông Obama. Năng suất đình trệ phần lớn là do thiếu công ty mới gia nhập vào thị trường, trong đó có sự sụt giảm trong tỷ lệ startup ở những ngành sáng tạo chủ chốt, các chuyên gia kinh tế của WB cho biết.

Theo những bình luận gần đây của chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Janet Yellen, sự uể oải trong nền kinh tế vẫn còn, như được phản ánh ở tình trạng thiếu việc làm và công suất không sử dụng hết tại các nhà máy sản xuất. Tính trung bình, các mức đó vẫn còn cao hơn những gì được thấy ở các mức đỉnh mang tính chu kỳ trước đây. Bà cũng lưu ý rằng sự trì trệ đang giảm xuống, và tỷ lệ thất nghiệp hiện gần với mức cân bằng dài hạn. Sau đợt nâng lãi suất hồi tháng 3/2017 của Fed, tổ chức này được kỳ vọng sẽ tiếp tục siết chặt chính sách tiền tệ - nhưng với một tốc độ dần dần hơn so với 3 chu kỳ thắt chặt chính sách vừa qua.

Các kế hoạch cắt giảm thuế và chi tiêu cho cơ sở hạ tầng của ông Trump có thể dẫn tới tăng trưởng cao hơn mong đợi, nhưng cũng khiến cho lãi suất tăng nhanh hơn. Nhu cầu vay nhiều hơn cũng sẽ dẫn tới lãi suất cao hơn. Nếu những thay đổi quan trọng trong các chính sách thương mại của ông Trump nổi lên, như rút khỏi Hiệp định Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), sẽ gây ra những biện pháp trả đũa từ Mexico và Canada, làm phá hủy chuỗi cung cấp Bắc Mỹ và tạo ra những hỗn loạn kinh tế khi các công ty cố gắng tìm ra những mặt tích cực và mặt tiêu cực trong thỏa thuận mới. Phố Wall cũng sẽ vất vả định giá lại nhiều công ty bị “kẹt” trong cuộc chiến đàm phán lại NAFTA./.

Vào ngày 05/06/2017, Ả-rập Xê-út và các đồng minh chủ chốt của họ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, nhà cung cấp nguồn khí thiên nhiên hóa lỏng hàng đầu thế giới, Reuters cho hay.

Vào ngày 05/06/2017, Ả-rập Xê-út và các đồng minh chủ chốt của họ đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Qatar, nhà cung cấp nguồn khí thiên nhiên hóa lỏng hàng đầu thế giới, Reuters cho hay.

 

Ả-rập Xê-út cùng với Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Ai Cập và Bahrain cho biết họ sẽ cắt đứt mọi mối quan hệ, kể cả trong lĩnh vực vận chuyển với Qatar. Được biết, quốc gia này cũng bán các sản phẩm dầu mỏ, như khí ngưng tụ, nhưng không phải là một nhà xuất khẩu dầu thô quy mô lớn.

Sự đổ vỡ về ngoại giao này không ảnh hưởng ngay đến sản lượng dầu được bán ra, nhưng cũng phần nào ảnh hưởng đến giá dầu. Trong những ngày gần đây, giá dầu đã biến động mạnh trước mối lo ngại về tình trạng căng thẳng ở vùng Trung Đông.

Động thái này xảy ra sau khi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) – trong đó, Ả-rập Xê-út, UAE, và Qatar đều là thành viên – đã đồng ý kéo dài thời hạn cắt giảm sản lượng để siết chặt thị trường và hỗ trợ giá dầu.

Hiện tại, vẫn không rõ là cuộc khủng hoảng chính trị này sẽ ảnh hưởng thế nào đến việc đưa ra các chính sách của OPEC, trong đó Ả-rập Xê-út là nhà xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới và được xem là quốc gia đứng đầu của tổ chức.

Một nguồn tin trong ngành dầu mỏ của Ả-rập Xê-út cho biết động thái này không hề tác động quá nhiều đến việc đưa ra quyết định của OPEC, đồng thời lưu ý rằng những xung đột chính trị trong nội bộ OPEC, kể cả giữa Ả-rập Xê-út và Iran, trước đây chưa từng khiến OPEC phải bất đồng về chính sách dầu mỏ.

Tác động lên sản lượng khí thiên nhiên hóa lỏng là vẫn chưa rõ ràng

Các chuyên viên giao dịch cho rằng còn quá sớm để nói rằng liệu cuộc bất đồng này sẽ có tác động nào đến sản lượng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trong khu vực hay không, khi cả Ai Cập lẫn UAE vẫn đang đều đặn lấy hàng từ Qatar.

Qatar hiện đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu LNG trên toàn cầu và Ai Cập – quốc gia đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu điện của mình – đã nhập khẩu trung bình khoảng 857,000 m3 LNG mỗi tháng từ Qatar kể từ tháng 1/2016 đến nay, dữ liệu từ Thomson Reuters Eikon cho thấy.

Phần lớn nhiên liệu này được dùng cho máy phát điện.

Năm ngoái, Ai Cập đã quyết định tăng mạnh nguồn cung cho năm 2017, phần lớn trong số này được lấy từ Qatar, mặc dù các chuyên viên nói rằng sản lượng nội địa ngày càng tăng và những nguồn thay thế khác từ Na Uy, Nigeria và Mỹ có thể lấp đầy khoảng cách này.

UAE đã nhập trung bình khoảng 190,000 m3 LNG mỗi tháng từ Qatar kể từ tháng 1/2016.

Tuy nhiên, giới trader đã chỉ ra rằng những thành viên khác của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) như Kuwait – một quốc gia thường làm theo những quyết định do Ả-rập Xê-út đưa ra – đã không có hành động nào chống lại Qatar, ít nhất là đến thời điểm này.

Dữ liệu cho thấy Kuwait đã nhập trung bình khoảng 283,000 m3 LNG mỗi tháng từ Qatar kể từ năm 2016 đến nay.

“Tôi không nghĩ rằng sẽ có tác động nào lên hoạt động nhập khẩu LNG. Chúng tôi nhập khí gas trực tiếp từ Qatar bằng đường biển”, R.K. Garg, trưởng bộ phận tài chính của Petronet, công ty nhập khẩu LNG của Ấn Độ, nói với Reuters.

Theo công ty tư vấn năng lượng Wood Mackenzie, Ấn Độ là khách hàng lớn thứ hai của nguồn LNG từ Qatar, sau Nhật Bản.

Một chuyên viên giao dịch LNG của Nhật Bản cũng nói rằng ông không cho rằng nguồn cung sẽ bị gián đoạn ngay lập tức.

Qatar cũng là quốc gia xuất khẩu lớn của khí ngưng tụ, một dạng siêu nhẹ của dầu thô, cũng như khí đốt hóa lỏng (LPG), và phần lớn nguồn cung của hai loại nhiên liệu này có điểm đến là Nhật Bản và Hàn Quốc dưới dạng hợp đồng cung cấp dài hạn./.

Các cổ phiếu ngân hàng đã tăng vọt sau khi Donald Trump được bầu làm Tổng thống với hy vọng rằng ông sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bằng một gói kích thích khổng lồ, CNNMoney cho hay.

Các cổ phiếu ngân hàng đã tăng vọt sau khi Donald Trump được bầu làm Tổng thống với hy vọng rằng ông sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bằng một gói kích thích khổng lồ, CNNMoney cho hay.

Tổng thống Mỹ Donald Trump

Dù liên tục chỉ trích Phố Wall (cùng những mối quan hệ với các ngân hàng lớn của đối thủ ông là bà Hillary Clinton) trong suốt chiến dịch tranh cử, nhưng rốt cuộc ông Trump đã mời một số cựu nhân viên của Goldman Sachs về nắm giữ những vị trí chủ chốt ở Nhà Trắng.

Hai nhân vật đáng chú ý nhất là Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steven Mnuchin và Giám đốc Hội đồng Kinh tế Quốc gia (NEC) Gary Cohn, người từng từ chức giám đốc điều hành (COO) của Goldman để về đảm nhận chức vụ này. Vì thế, dường như rằng mọi chuyện sẽ toàn là “màu hồng” cho các cổ phiếu tài chính.

Hóa ra mọi chuyện đã không diễn ra theo cách đó. Chỉ riêng trong năm 2017, tính đến thời điểm này cổ phiếu của Goldman Sachs đã giảm 11%. JPMorgan Chase giảm 5% và cổ phiếu của Morgan Stanley cũng giảm nhẹ. Cổ phiếu của Citigroup khả quan hơn, nhưng chỉ tăng 2% - ít hơn mức tăng của toàn thị trường.

Điều gì đang diễn ra? Khá mỉa mai là thị trường chứng khoán hiện đang trong giai đoạn trầm lắng lạ thường, dù rằng tình hình chính trị ở Washington không hề yên ắng chút nào.

Chỉ số đo lường trạng thái biến động CBOE (VIX), thước đo tốt nhất về mức độ sợ hãi trên Phố Wall, đã trở về các mức giống như ngay trước đợt hoảng sợ ngắn ngủi của thị trường hồi tháng trước, thời điểm mà chỉ số Dow Jones giảm gần 373 điểm ngay sau khi các cáo buộc liên quan đến bộ ba Comey-Trump-Flynn xảy ra.

Chỉ số Tham lam và Sợ hãi (Fear & Greed Index) của CNNMoney, gồm VIX và 6 chỉ dấu khác về tâm lý thị trường, dao động ở vùng “trung tính”. Chưa có dấu hiệu nào khác về những đợt “chán chường” điển hình của Phố Wall trong giai đoạn đầu hè này.

Dĩ nhiên, đây là tin tuyệt vời cho hầu hết nhà đầu tư.

Lợi nhuận trong quý 1 là khá tốt, phần lớn nhờ vào những kết quả khả quan từ các công ty công nghệ lớn, dù nhiều công ty trong số đó bất đồng với những quan điểm của ông Trump về vấn đề nhập cư và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, biến động thường là người bạn tốt nhất đối với các công ty lớn ở Phố Wall. Mức biến động thấp đôi khi cũng cho thấy sự bất thường.

Tại một hội nghị đầu tư của Deutsche Bank trong ngày 24/05, Marianne Lake, Trưởng bộ phận tài chính của JPMorgan Chase, cho biết tính tới thời điểm này trong quý 2, khối lượng giao dịch đã giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, phần lớn là ở bộ phận thu nhập cố định của họ.

Phát biểu tại hội nghị Sanford C. Bernstein trong ngày 31/05, CEO Brian Moynihan của Bank of America, nói rằng khối lượng giao dịch hiện giảm 10% đến 20% trong quý 2.

Và trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại với Bloomberg, từ Bắc Kinh, CEO James Gorman của Morgan Stanley đã phát biểu rằng công ty ông đang thấy những xu hướng tương tự ở bộ phận giao dịch của mình. Ông nói thêm rằng: “Tất cả chúng tôi đều có khách hàng tương tự nhau, nếu không muốn nói là giống nhau”.

Cũng trong cuộc phỏng vấn ấy, ông Gorman cho biết những nhận định từ Lake và Moynihan đang phản ánh thực tế và ông không nghĩ rằng họ quá khác nhau.

Một vấn đề khác cho các ngân hàng lớn là gì? Đó là lãi suất vẫn đang ở mức tương đối thấp.

Cụ thể hơn, mức chênh lệch giữa lợi suất trái phiếu dài hạn và ngắn hạn hiện đang tương đối hẹp, điều mà Phố Wall thường gọi là “đường cong lợi suất đi ngang”. Và đó cũng không phải là tin tuyệt vời cho các ngân hàng.

Điều đó hiện khiến cho các mảng cho vay tạo ra lợi nhuận thấp hơn. Cả Lake lẫn Moynihan đều thừa nhận rằng “đường cong lợi suất đi ngang” cũng là yếu tố tác động tiêu cực đến lợi nhuận của họ.

Và có thể các ngân hàng này cũng không nhận được nhiều sự giúp đỡ từ ông Trump hoặc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cho vấn đề đó.

Một số người nghĩ rằng kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng của ông Trump sẽ giúp làm tăng lợi suất trái phiếu dài hạn vì nguồn tài chính cho kế hoạch này một phần là đến từ việc bán trái phiếu chính phủ. Tuy nhiên, hiện vẫn không rõ ông Trump và Quốc hội Mỹ sẽ có thể thông qua được những gì trong năm nay.

Trong khi đó, Fed có khả năng tiếp tục tăng lãi suất một cách chậm rãi. Tất cả những điều này có thể là thông tin tuyệt vời cho người tiêu dùng và hầu hết nhà đầu tư. Dẫu vậy, nó sẽ không giúp được gì cho những người bạn của ông Trump trên Phố Wall./.

Cảnh báo lợi nhuận được đưa ra vào lúc 20h37 tối (giờ Singapore) vào một ngày thứ Ba đầu tháng 5. Đó là đêm trước ngày nghỉ lễ ở đảo quốc này, nơi mà các cổ phiếu của tập đoàn Noble được giao dịch. ...

Cảnh báo lợi nhuận được đưa ra vào lúc 20h37 tối (giờ Singapore) vào một ngày thứ Ba đầu tháng 5. Đó là đêm trước ngày nghỉ lễ ở đảo quốc này, nơi mà các cổ phiếu của tập đoàn Noble được giao dịch. Thị trường chứng khoán sẽ đóng cửa vào ngày hôm sau nên nhà đầu tư sẽ có hơn 24 tiếng để tiếp nhận thông tin này. Đến ngày thứ Năm tuần đó thì cổ phiếu này đã rớt mất 32%, mức giảm trong ngày lớn nhất mà họ phải chịu từ trước đến nay. Và kể từ đó, nó tiếp tục rớt giá thêm, Bloomberg cho hay.

Đặt trụ sở ở Hồng Kông, Noble từng là công ty giao dịch hàng hóa lớn nhất châu Á, với giá trị thị trường hơn 10 tỷ USD, nhờ đó cải thiện đáng kể thương mại toàn cầu về kim loại, khoáng sản, dầu khí, và hàng hóa nông nghiệp.

“Giờ đây, Noble đang đấu tranh cho sự sống còn của mình”, Owen Gallimore, Trưởng bộ phận chiến lược tín dụng tại Tập đoàn ngân hàng Australia & New Zealand, phát biểu trong một cuộc phỏng vấn hôm 23/5.

Ông Richard Elman 

Công ty này được thành lập bởi Richard Elman, một người Anh đã rời khỏi trường từ hồi trung học và từng làm việc trong lĩnh vực phế liệu ngay từ khi còn niên thiếu. Công ty được đặt tên theo Noble House, một tiểu thuyết của James Clavell, có bối cảnh là một công ty trading (giao dịch) ở Hồng Kông. Ông Elman tạo dựng công ty để tận dụng sự bùng nổ kinh tế thiếu cân bằng của Trung Quốc bắt đầu hồi đầu những năm 2000. “Họ đã ở vị trí rất thuận lợi”, Nicholas Teo, chiến lược gia về giao dịch của KGI Securities Singapore, nói.

Các chuyên viên giao dich (trader) của Noble có thể dùng tiền vay mượn để tài trợ cho hoạt động mua hàng hóa, từ dầu, đồng, than đá cho đến đậu nành. Công ty này sẽ tích trữ, hay xử lý những nguyên vật liệu đó trước khi vận chuyển chúng đến các khách hàng trên toàn cầu. Họ thỉnh thoảng kiếm lợi nhuận bằng cách khai thác sự chênh lệch giá cả ở các thị trường khu vực. Họ cũng có thể kiếm tiền bằng cách tích trữ hàng hóa và bán những hợp đồng tương lai để giao hàng ở một thời điểm trễ hơn với giá cao hơn.

Được một thời gian, nhu cầu tăng vọt của Trung Quốc đã khiến cho giá cả mọi thứ đều tăng, tạo ra điều mà mọi người gọi là “siêu chu kỳ của thị trường hàng hóa” (commodities supercycle). “Hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng Trung Quốc hết sức tấp nập, và với điều đó, nhìn chung các thị trường hàng hóa đã phình lên”, Teo phân tích. Nhận thấy dễ vay với lãi suất thấp, Noble đã vay hàng tỷ USD và dùng số tiền này để mở rộng các hoạt động giao dịch của mình.

Giờ đây họ phải đối mặt với một “cú đấm” kép: Các thị trường nghi ngờ về tình trạng tín dụng của Noble – các tổ chức xếp hạng lớn đã hạ bậc tín nhiệm của Noble xuống mức có rủi ro tín dụng cao nhất (Junk status) – và khả năng giao dịch của họ. Trong cảnh báo lợi nhuận gần đây, công ty này nói rằng họ sẽ phải hứng chịu một mức thua lỗ quý không mong đợi khoảng 130 triệu USD. Và họ đổ lỗi cho một vụ đặt cược vào than đá, đề cập tới một chênh lệch giữa giá dành cho than đá thực tế và giá của hợp đồng mà họ đã dùng để phòng ngừa cho những cam kết mua bán đó. Nói cách khác, hoạt động phòng ngừa mà Noble đã thực hiện để bảo vệ mình khỏi những biến động trong giá than đá đã không có tác dụng. “Lời giải thích mà họ đưa ra là một sai lầm lớn. Sau chuyện này, ai mà không đặt câu hỏi về điều đó chứ? Đổ lỗi cho thị trường để giải thích rằng rủi ro cơ bản đột nhiên mất kiểm soát là thiếu khôn ngoan”, Jean-Francois Lambert, Chuyên viên tư vấn và cựu lãnh đạo bộ phận tài chính giao dịch hàng hóa toàn cầu tại HSBC, phân tích.

Năm 2015, công ty này là tâm điểm của một loạt báo cáo ẩn danh từ một công ty không ai biết đến trước đó tên là Iceberg Research và các báo cáo này chỉ trích vào các phương pháp kế toán của họ. Noble cho rằng những việc này là do một cựu nhân viên của họ làm và đã khởi kiện để làm rõ mọi chuyện (vụ kiện này vẫn đang tiếp diễn). Một báo cáo đã tập trung vào phương pháp “giá trị hợp lý” được Noble sử dụng để ghi nhận lợi nhuận từ các dự án và hợp đồng mà có thể phải mất hàng năm trời mới có được. Cách thức Noble sử dụng, vốn tuân theo các quy định kế toán hợp pháp, có thể làm tăng thu nhập hiện tại của họ ngay cả khi dòng tiền hoạt động là âm. Vì thế, khi công ty này báo cáo tài chính, Iceberg Research tranh luận rằng Noble thường tiêu tiền rất nhanh và phung phí, và sẽ cần nguồn vốn mới để trả các khoản nợ của mình.

Noble bác bỏ các cáo buộc của Iceberg Research về việc sử dụng lợi nhuận từ “giá trị hợp lý” của họ. Một cuộc xem xét lại do công ty kế toán PwC thực hiện vào năm 2015 nói rằng việc này là phù hợp với các tiêu chuẩn trong ngành này. Tuy nhiên, một số đối thủ lớn nhất của Noble như Vitol và Trafigura hiếm khi ghi nhận lợi nhuận trên những hợp đồng kỳ hạn để tránh làm tăng giá trị cổ phần của nhân viên.

Ngay sau “phát súng” đầu tiên từ Iceberg, Noble đã phải ghi nhận thua lỗ hàng quý lần đầu tiên trong hơn 3 năm. Các câu hỏi về kế toán do Iceberg đưa ra, cộng với sự bùng nổ hàng hóa đáng thất vọng và những lo lắng về nợ của công ty này, đã khiến nhà đầu tư nghi ngờ. Dù ông Elman đã đứng ra để mua lại cổ phần, nhưng giá cổ phiếu của công ty này vẫn lao dốc 65% trong năm 2015 và mất thêm 44% trong năm 2016. Trong ngày 05/06/2017, cổ phiếu Noble sụt 11% xuống còn 28.5 xu Singapore. Tính chung trong năm 2017, cổ phiếu này trượt dốc 83%, đồng thời giảm giá trị vốn hóa xuống 280 triệu USD.

Noble đã phải cắt giảm nhân sự và đóng cửa hầu hết các bàn giao dịch kim loại của mình để giảm chi phí và nhu cầu vốn hoạt động. Họ đã bán các hợp đồng giao dịch khí đốt và năng lượng châu Âu của mình và đơn vị giao dịch sản phẩm nông nghiệp cho Cofco International của Trung Quốc. Họ cũng đang huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu, trong đó có lượng trái phiếu rác (junk bond) trị giá 750 triệu USD hồi đầu tháng 3. Phần lớn các trái phiếu rác này đã được dùng để thanh toán những món nợ đáo hạn trong tháng 5.

Ngày 11/05, ông Elman đã rời vị trí Chủ tịch điều hành. Trong thư gửi các cổ đông, ông nói rằng công ty này không thể vay từ các ngân hàng mà không cần phải bảo đảm bằng số hàng hóa mà họ đang giao dịch. Người kế nhiệm ông, Paul Brough, đang chỉ đạo việc xem xét lại chiến lược của doanh nghiệp này”, phát ngôn viên của Noble cho biết.

Công ty này vẫn còn một số tài sản đặc biệt giá trị mà họ có thể bán, chẳng hạn như cơ sở giao dịch dầu mỏ hóa lỏng ở Houston, Mỹ. “Họ sẽ tiếp tục bán tài sản, và bạn sẽ cuối cùng thấy họ trở lại cái thời mà họ khởi nghiệp”, Teo nói. Noble cũng đang tìm kiếm nhà đầu tư để giải cứu họ.

Brough có nhiều kinh nghiệm với những công ty có vấn đề vì thiếu tài chính. Gần đây, ông từng đảm nhiệm các vị trí thanh lý tài sản của Lehman Brothers ở châu Á và điều hành tập đoàn gỗ Sino-Forest từng bị phá sản của Trung Quốc. Lèo lái Noble thoát khỏi cuộc khủng hoảng sẽ là một nhiệm vụ khó khăn nữa dành cho ông.

Điều quan trọng nhất: Tập đoàn Noble từng thịnh vượng nhờ vào các khoản vay dồi dào và rẻ. Nhưng giờ đây, các khoản nợ ấy đang “nhấn chìm” họ./.

Nhà đầu tư nên dè chừng một cuộc suy thoái trong 5 năm tới bằng cách tích trữ tiền mặt cho ngày mà cổ phiếu và trái phiếu bị “bán đổ bán tháo” – như chúng thường vẫn bị trong các cuộc suy thoái, ...

Nhà đầu tư nên dè chừng một cuộc suy thoái trong 5 năm tới bằng cách tích trữ tiền mặt cho ngày mà cổ phiếu và trái phiếu bị “bán đổ bán tháo” – như chúng thường vẫn bị trong các cuộc suy thoái, Washington Post cho hay.

Đây là một dự báo của Pacific Management Investment Co., hay còn gọi là Pimco, “gã khổng lồ” trong lĩnh vực quỹ tương hỗ trái phiếu.

Giám dốc điều hành công ty Pimco Emmanuel Roman

“Nhà đầu tư nên sử dụng các đợt tăng mang tính chu kỳ để tạo dựng tiền mặt nhằm có cái mà dùng khi các thị trường tiến hành điều chỉnh và các rủi ro được định giá lại”, theo báo cáo triển vọng thực tế thường niên của Pimco vừa được công bố hôm thứ Tư vừa qua.

Công ty đang quản lý lượng tài sản có giá trị lên đến 1.51 ngàn tỷ USD này hiện dự báo xác xuất xảy ra suy thoái trong 5 năm tới là 70%.

Trong ngắn hạn, họ dự báo đề xuất thuế của Tổng thống Donald Trump sẽ không có nhiều cải cách mà nghiêng về việc cắt giảm thuế.

Mặc dù thế giới đang có sự bấp bênh, nhưng báo cáo của Pimco vẫn nhận thấy đồng euro sẽ tiếp tục tồn tại. Họ cho rằng Italy sẽ ở lại khu vực sử dụng đồng tiền chung euro (eurozone). Ngoài ra, Pimco dự báo nước Mỹ sẽ tăng trưởng ở mức 2% và lạm phát 2%.

“Tất cả 3 rủi ro chủ chốt mà chúng tôi thấy sắp xảy ra – đó là tỷ lệ nợ tăng, việc không thể sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ trong cuộc suy thoái kế tiếp và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy – đã trở thành hiện thực hoặc là đã trở nên thực tế hơn. Có ai từng nghĩ rằng nước Anh sẽ chọn cách ủng hộ Brexit, Donald Trump sẽ được bầu làm Tổng thống Mỹ, Italy sẽ không chọn con đường cải cách và các thị trường lại thích những điều đó không chứ?”, báo cáo viết.

Báo cáo trên là sản phẩm của một diễn đàn kéo dài 3 ngày do công ty Pimco tổ chức hồi tháng 5 năm ngoái, bao gồm các nhà đầu tư của công ty, các chuyên gia phân tích, các nhà quản lý và các diễn giả, trong đó có cả cựu Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Lawrence H. Summers, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ben S. Bernanke, và cựu Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) Jean-Claude Trichet.

Theo Pimco, giá cổ phiếu và trái phiếu hiện quá đắt vì có “nhiều tin tốt lành” được phản ánh vào thị trường. Các cổ phiếu đã liên tục leo lên những mốc cao kỷ lục suốt vài tháng qua, nhờ được tiếp sức bởi các kỳ vọng rằng Tổng thống Trump sẽ thúc đẩy các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp. Thị trường cũng được hưởng lợi nhờ lợi nhuận doanh nghiệp trong quý 1 khá mạnh.

Nước Mỹ đã trải qua 11 cuộc suy thoái trong 70 năm qua kể từ khi Thế chiến thứ 2 kết thúc, với lần gần đây nhất là năm 2008. Như vậy, nếu tính theo chu kỳ 5 năm thì 2020 sẽ là đợt tiếp theo.

Pimco, vốn nổi tiếng với các quỹ trái phiếu có thu nhập cố định của mình, cho rằng khi một cuộc suy thoái xảy ra, các chính phủ sẽ hết sức khó khăn để tìm giải pháp vì lãi suất hiện đang ở mức quá thấp. Cả Fed và ECB đều đã tạo ra các khoản vay có lãi suất thấp (easy money) bằng cách giảm lãi suất xuống mức gần 0%.

“Trái với những đợt suy thoái trước, hiện không có nhiều công cụ có thể sử dụng được trong bộ công cụ chính sách”, Richard Clarida, một trong những tác giả của báo cáo và cũng là Giám đốc điều hành của Pimco, cho biết. Clarida gọi việc thiếu chọn lựa về chính sách tiền tệ cũng giống như là “lái xe mà không có một vỏ xe dự phòng”.

Clarida chia sẻ: “Mọi người cần nhớ rằng vào năm 2001, Fed đã giảm lãi suất 5 điểm phần trăm. Trong cuộc suy thoái tiếp theo, Fed sẽ không có cơ hội để giảm 5 điểm phần trăm nữa”.

“Điều quan trọng nhất mà chúng tôi muốn nói là các thị trường hiện được nới lỏng quá mức”, Clarida nói./.

Từng được xem là “những người có trí tuệ phi thường” của Phố Wall, những giám đốc quỹ đầu cơ đã “sống khỏe” suốt một thời gian dài nhờ một niềm tin thiếu căn cứ khá đơn giản rằng: Họ thông minh hơn ...

Từng được xem là “những người có trí tuệ phi thường” của Phố Wall, những giám đốc quỹ đầu cơ đã “sống khỏe” suốt một thời gian dài nhờ một niềm tin thiếu căn cứ khá đơn giản rằng: Họ thông minh hơn nhà đầu tư bình thường và có thể tạo ra lợi nhuận lớn hơn, Washington Post cho hay.

 

Hình ảnh một chuyên viên giao dịch (trader) khéo léo, có mối quan hệ tốt với những lần đặt cược “dũng cảm” lên đến hàng trăm triệu USD đó đã thu hút được hàng ngàn tỷ USD từ những nhà đầu tư giàu có, các quỹ hưu trí và những nguồn hiến tặng mà sẵn lòng trả phí cao và giao hơn 20% lợi nhuận nào cho tầng lớp trader ưu tú ấy.

Giờ đây, nhiều nhà đầu tư đang xem xét lại điều này. Theo Hedge Fund Research, năm 2016, các quỹ đầu cơ chỉ tạo ra được lợi nhuận khoảng 5%, thấp hơn so với mức tăng 10% của chỉ số S&P 500.

Theo eVestment – một công ty chuyên về dữ liệu nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư đã phản ứng bằng cách rút 111 tỷ USD ra khỏi ngành này trong năm 2016. Năm ngoái, hơn 1,000 quỹ đã phải đóng cửa, con số lớn nhất kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đến nay.

Nhiều lợi thế mà ngành này dựa vào trong suốt nhiều thập kỷ qua đã bắt đầu biến mất, các chuyên gia trong ngành cho biết. Hiện đang có thêm nhiều quỹ đầu cơ đặt cược tương tự nhau. Và việc tìm ra một ý tưởng độc nhất – chẳng hạn như một công ty được định giá chưa đúng mức hay một công ty có sai sót mà không ai khác phát hiện ra – đang trở nên khó hơn, đặc biệt là vào thời điểm mà rất nhiều cổ phiếu đang tăng, các chuyên gia cho hay.

“Ngành quỹ đầu cơ đã bắt đầu sụp đổ. Có quá nhiều công ty đặt cược giống nhau”, Charles Geisst, sử gia về Phố Wall tại đại học Manhattan, New York, cho biết.

Những rắc rối của ngành này bắt đầu xuất hiện sau cuộc khủng hoảng tài chính, khi các nhà đầu tư bị sốc đã nhìn thấy giá trị những thương vụ đầu tư của họ lao dốc, các chuyên gia cho hay. Trước đó, họ kỳ vọng những người chọn cổ phiếu có hiểu biết sẽ bảo vệ họ khỏi những thua lỗ mà nhà đầu tư phải đối mặt mỗi ngày.

Thật vậy, trong quá trình hồi phục kinh tế – điều mà đã đẩy thị trường chứng khoán lên các mức kỷ lục – những người bỏ tiền vào các vụ đầu tư thụ động đã được tưởng thưởng. Theo Morningstar, suốt 10 năm qua, lợi nhuận dành cho các nhà đầu tư thụ động là 5.7%/năm, trong khi những người bỏ tiền ở các quỹ quản lý theo phương pháp chủ động (active fund) chỉ có lợi nhuận là 5.3%/năm.

Các quỹ đầu cơ cũng đang mất đi sự ủng hộ từ một số khách hàng quan trọng nhất của mình. Hệ thống hưu trí California Public Employees đã rút 4 tỷ USD khỏi các quỹ đầu cơ, vì cho rằng các quỹ này tính phí quá đắt và phức tạp. Vào năm ngoái, Hệ thống hưu trí New York cũng đã rút khỏi ngành này.

Dù vậy, theo một báo cáo gần đây của tạp chí Alpha của tổ chức Institutional Investor, 25 nhà quản lý quỹ đầu cơ hàng đầu đã kiếm được tổng cộng 11 tỷ USD trong năm 2016. Đứng đầu trong số này là ông James Simons của quỹ Renaissance Technologies, với 1.6 tỷ USD/năm, hay 4.3 triệu USD/ngày.

Cũng theo tạp chí này, quỹ đầu cơ của Simons đã ghi nhận lợi nhuận ở mức 2 con số. Tuy nhiên, gần phân nửa 25 nhà quản lý hàng đầu đã khép lại năm 2016 với lợi nhuận ở mức 1 con số.

“Phần lớn các quỹ đầu cơ hoạt động không tốt, qua đó khiến lợi nhuận cả ngành này bị giảm”, Don Steinbrugge, Giám đốc điều hành tại Agecroft Partners, lên tiếng. Tuy vậy, ông cho rằng các quỹ đầu cơ được quản lý tốt nhất tiếp tục mang lại lợi nhuận kỷ lục. Và quy mô ngành này vẫn rất lớn, với lượng tài sản trị giá hơn 3 ngàn tỷ USD.

Sự sụt giảm gần đây của ngành này có thể là tạm thời, một số chuyên gia phân tích tài chính tranh luận. Các quỹ đầu tư theo phương pháp thụ động được thiết kế để bám sát thành quả của thị trường. Nếu thị trường chứng khoán trở nên biến động hơn hay bị giảm giá thì các quỹ đầu cơ có thể hấp dẫn trở lại.

Tuy nhiên, một vài sự biến động trong thời gần đây đã để lại ấn tượng không tốt về ngành này.

Hãy lấy Bill Ackman làm ví dụ. “Nhà thông thái” trong ngành quỹ đầu cơ này đã tạo được tiếng tăm là nhà chọn lựa cổ phiếu hàng đầu. Những vụ đặt cược “mạnh tay” của Ackman đã tạo ra lợi nhuận 2 con số cho các nhà đầu tư của ông ta – 40% trong năm 2014 – và mang lại hàng trăm triệu USD từ khoản phí dành cho ông và cả công ty của ông là Pershing Square Capital Management.

Thế nhưng, trong năm 2015, Ackman đã thực hiện vụ đặt cược lớn nhất trong đời vào công ty dược phẩm Valeant – công ty mà ông thậm chí lớn tiếng ủng hộ ngay cả khi nó đối diện với những điều tra của nhà điều hành về cách quy định giá thuốc và những bê bối trong sổ sách. Trong lúc những người hoài nghi bắt đầu “bán đổ bán tháo” cổ phiếu của công ty này thì Ackman lại mua thêm. Cuối cùng, cổ phiếu của công ty này trượt dốc chỉ còn 8 USD và ông Ackman đã chịu tổn thất vô cùng lớn.

Trước khi Ackman thừa nhận thất bại và bán cổ phần của Pershing trong công ty dược phẩm Valeant thì quỹ này đã mất 4 tỷ USD. Trong bức thư thường niên năm 2016 của Pershing Square, Ackman hối tiếc viết: “Vụ đặt cược tồi tệ này đã khiến tất cả chúng ta mất đi một số tiền khổng lồ, và làm tiêu tan lịch sử thành công của công ty chúng ta”.

Ackman – người từ chối đưa ra lời bình luận cho bài báo này – không phải là nhà quản lý quỹ đầu cơ duy nhất gặp khó khăn trong thời gian gần đây.

Năm ngoái, Richard Petty, người được xem là một trong những nhà đầu tư thành công nhất trong ngành quỹ đầu cơ, đã phải đóng cửa quỹ của mình là Perry Capital sau những đợt thua lỗ nặng nề. Quỹ Eton Park Capital Management ở New York do một cựu thành viên của Goldman Sachs thành lập, cũng đã đóng cửa trong năm nay.

Ngay cả John Paulson, người từng có giao dịch được gọi là “vĩ đại nhất lịch sử Phố Wall” do từng mang về cho công ty mình 15 tỷ USD bằng cách đặt cược rằng thị trường nhà đất sẽ sụp đổ, cũng gặp khó khăn trong thời gian gần đây. Theo LCH Investments, quỹ của ông đã mất 3 tỷ USD hồi năm ngoái. Paulson mất tiền do đầu tư vào Valeant và một số công ty dược phẩm khác.

Với nhà đầu tư “lão làng” Warren Buffett, những vụ sụp đổ gần đây của ngành quỹ đầu cơ là có thể đoán trước được. Ông Buffett từng chỉ trích những mức phí cao ngất mà hầu hết các nhà quản lý quỹ đưa ra – 2% phí quản lý và 20% lợi nhuận kiếm được. Trong khi đó, mức phí đầu tư vào các quỹ chỉ số thụ động có thể rẻ hơn nhiều, nhìn chung rất thấp, chỉ khoảng 0.1% trong một số trường hợp.

Cách đây 9 năm, ông Buffett và Giám đốc điều hành của Hidden Brook Investments là Ted Seides đã cược với nhau 500,000 USD để xem một quỹ đầu tư theo chỉ số S&P 500 có thành quả tốt hơn một quỹ đầu cơ hay không.

Cho đến nay, quỹ đầu tư theo chỉ số của ông Buffett đã đạt được mức lợi nhuận hàng năm là 7%, trong khi các quỹ đầu cơ của ông Seide chỉ mang về lợi nhuận 2.2%/năm. Điều đó nghĩa là một nhà đầu tư có 1 triệu USD mà làm theo lời ông Buffett sẽ kiếm được 854,000 USD, trong khi những người theo Seides sẽ chỉ kiếm được 220,000 USD. Trong một bài báo gần đây, Seides đã thừa nhận thất bại rằng “Vụ cá cược đã chấm dứt. Tôi đã thua”./.

Nhiều ngân hàng ở châu Á đã phải chứng kiến chất lượng tài sản trở nên xấu đi trong môi trường hậu khủng hoảng đầy khó khăn, nhưng sự gia tăng nợ xấu nên được đánh giá trong ngữ cảnh của môi trường ...

Nhiều ngân hàng ở châu Á đã phải chứng kiến chất lượng tài sản trở nên xấu đi trong môi trường hậu khủng hoảng đầy khó khăn, nhưng sự gia tăng nợ xấu nên được đánh giá trong ngữ cảnh của môi trường đó, người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Singapore lên tiếng vào hôm thứ Hai, CNBC cho hay.

 

“Ngân hàng là ngành kinh doanh với những rủi ro trung gian. Khi các rủi ro trở thành hiện thực, vì chúng thỉnh thoảng vẫn như thế khi người vay gặp khó khăn, thì nợ xấu phải tăng”, Ravi Menon, Giám đốc điều hành của Cơ quan Quản lý tiền tệ Singapore, nói trong phát biểu khai mạc của mình tại Hội nghị Ngân hàng và Tài chính châu Á năm 2017 ở đảo quốc này.

“Có thể ‘kỳ lạ’ khi một nhà điều hành nói như thế này, nhưng nếu nợ xấu không tăng chút nào cả trong các thời điểm khó khăn thì các ngân hàng ấy có thể đang không cho vay đủ mức. Họ đang không chấp nhận đủ rủi ro để thúc đẩy việc mở rộng kinh doanh hay doanh nghiệp”, ông nói thêm.

Theo người đứng đầu Ngân hàng Trung ương Singapore, nợ xấu đã tăng tại các ngân hàng châu Á, nhưng họ đang tăng trưởng tốt hơn so với các ngân hàng châu Âu.

Một cuộc phân tích dữ liệu của Reuters hồi năm ngoái phát hiện rằng nợ xấu tại 74 ngân hàng châu Á lớn có niêm yết trên các sàn chứng khoán, trừ các ngân hàng của Ấn Độ và Nhật Bản, đã lên tới 171 tỷ USD vào cuối năm 2015. Đó là mức cao nhất kể từ năm 2008 và cao hơn 28% so với năm trước đó. Những lo ngại về chuyện nợ tăng ở châu Á đã dẫn đến một vài thay đổi trong khu vực này, trong đó có việc gần đây Trung Quốc bị Moody’s hạ bậc tín nhiệm.

Nợ xấu tăng, cùng với tăng trưởng kinh tế yếu hơn và chính sách tiền tệ dễ dàng kéo dài cũng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng châu Á, Menon lưu ý.

Tuy nhiên, các ngân hàng châu Á hiện đang tăng trưởng tốt hơn so với các “đồng nghiệp” ở châu Âu, khi một vài trong số đó đã rút khỏi khu vực này bằng cách bán lại các đơn vị kinh doanh của họ ở châu Á, Menon cho biết. Ông lưu ý rằng tăng trưởng của châu Á hiện được kỳ vọng sẽ đạt trung bình khoảng 6% trong 5 năm tới so với mức bình quân trên toàn cầu là 3.7%.

Về vấn đề nợ xấu, ông cho rằng điều quan trọng hơn là các ngân hàng cần quản lý rủi ro đó bằng cách “chủ động và dè dặt” bằng cách dành ra một lượng tiền đủ để bù đắp cho các khoản vay đó.

“Hãy lấy Singapore làm ví dụ. Nợ xấu đã gia tăng trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng yếu đi và xuất hiện các rủi ro về chất lượng tài sản trong lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt. Đây cũng là lĩnh vực bị thiệt hại nặng nề do giá dầu xuống thấp trong thời gian qua. Tuy nhiên, các ngân hàng ở Singapore đã có những chuẩn bị tương ứng về mặt tài chính. Tổng nguồn cung dự phòng cho toàn hệ thống ngân hàng, tính theo phần trăm của tổng nợ xấu không được bảo đảm, là khoảng 100%. Nguồn dự phòng của các ngân hàng địa phương thậm chí còn cao hơn, ở mức trên 200%”, ông nói.

“Tin tốt lành cho các ngân hàng châu Á là những trở ngại mang tính chu kỳ này sẽ kịp trôi qua. Tăng trưởng đang hồi phục, chính sách tiền tệ đang bình thường hóa và giá cả hàng hóa đang ổn định”./.

Sự tăng trưởng mạnh của Malaysia trong quý 1/2017 xuất phát từ nhiều yếu tố như số lượng vi mạch bán ra mạnh hơn nhờ vào nhu cầu toàn cầu về hàng hóa công nghệ cao được cải thiện, cũng như kim ngạch ...

Sự tăng trưởng mạnh của Malaysia trong quý 1/2017 xuất phát từ nhiều yếu tố như số lượng vi mạch bán ra mạnh hơn nhờ vào nhu cầu toàn cầu về hàng hóa công nghệ cao được cải thiện, cũng như kim ngạch xuất khẩu dầu cọ của quốc gia này tăng sau một đợt thiếu nguồn cung trên thế giới, Forbes cho hay.

Tuy nhiên, hiện có nhiều điều hơn thế. Quốc gia giàu có với 31 triệu dân ở khu vực Đông Nam Á này thường được xem là một trong những nơi tốt nhất ở châu Á dành cho nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong khi đó, các quốc gia châu Á khác có thể chưa thể thu hút được nhiều FDI chỉ vì chi phí đất đai và chi phí nhân công cao. Một số khác, như Nhật Bản chẳng hạn, lại được biết đến là quốc gia có những chính sách mang tính bảo hộ. Các quốc gia đang phát triển như Campuchia thì thiếu cơ sở hạ tầng giao thông.

Sau đây là 5 quốc gia điển hình, được các chuyên gia tư vấn doanh nghiệp, ngân hàng và nhà đầu tư xem là những nơi tốt nhất cho người người nước ngoài muốn đầu tư ở châu Á:

1. Malaysia

Quốc gia này là một trong những nơi nhận được FDI hàng đầu hiện nay, được phản ánh qua mức tăng cực lớn (64%) trong nguồn vốn nước ngoài năm 2016 so với năm 2015. Chính phủ của Thủ tướng Najib Razak được xem là ủng hộ doanh nghiệp. Trên website của mình, Healy Consultants cho biết quốc gia này hiện có chính sách giảm thuế dành cho những chi phí vốn dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D), miễn thuế dành cho các mặt hàng nhập khẩu được các công ty kỹ thuật cao sử dụng và giảm thuế 10 năm, với giá trị lên đến 70%, dành cho các công ty trong các lĩnh vực ưu tiên như du lịch, sản xuất và đào tạo kỹ thuật. Tuy không phải là “gian hàng giá rẻ” của châu Á, nhưng giá cả ở Malaysia là khá phải chăng.

2. Singapore

Đảo quốc hiện đại với 5.8 triệu dân này có cách tiếp cận “mở” đối với nhà đầu tư từ nước ngoài vào. Trung tâm tài chính vùng Đông Nam Á này không có nạn tham nhũng như các nơi khác ở châu Á. Nhà đầu tư nước ngoài không cần tham gia vào các công ty liên doanh. Theo một website của Healy Consultants PLC, Singapore không hạn chế việc mang lợi nhuận về quê nhà. Hệ thống tòa án ở đây luôn đề cao tính ràng buộc của các hợp đồng. Quyết định của họ là minh bạch và được thực thi một cách hiệu quả.

3. Việt Nam

Giá đất và lương tối thiểu thấp (tính ra chỉ vài USD/ngày), cộng với tăng trưởng kinh tế kỳ vọng nhiều vào sự đầu tư nước ngoài hiện đang thu hút được sự quan tâm từ các nhà sản xuất trên thế giới. Có mặt trong số các nhà đầu tư vào thời điểm hiện tại là Ford Motor, Intel và Samsung Electronics. Trong một cuộc khảo sát hồi năm 2010, PricewaterhouseCoopers cho biết nhà đầu tư nói rằng họ thích Việt Nam vì sự ổn định chính trị. Những cải thiện nhanh trong cơ sở hạ tầng giao thông và sự chú ý dành cho việc kiểm soát pháp luật cũng đạt được sự tin tưởng của các nhà tư bản nước ngoài. Đây cũng là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất ở châu Á.

4. Indonesia

Sự ổn định chính trị của Indonesia cũng đã giúp thu hút nguồn vốn nước ngoài. Cụ thể, trong đó quý 1/2017, nguồn vốn nước ngoài tăng gần 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Quần đảo với hơn 10,000 hòn đảo này có những khoáng sản riêng và và hiện đang tiếp tục công bố các cải cách chính sách nhằm giảm bớt nạn quan liêu. Nhà đầu tư có khuynh hướng theo đuổi các ngành khai khoáng, năng lượng, đồn điền và dịch vụ tài chính. Nhiều thủ tục quan liêu đã bị xóa bỏ hồi năm 2007 với chính sách “một cửa”, cho phép người nước ngoài có được giấy phép đầu tư sau khi chỉ cần làm thủ tục tại một nơi, qua đó đẩy nhanh quá trình so với trước đây. Theo ChinaGoAbroad.com, quá trình này có thể chỉ mất vài tháng. Chi phí lao động thấp, ngoài ra dân số Indonesia đủ lớn để các hàng hóa sản xuất ra có thể tiêu thụ trong nước.

5. Ấn Độ

Tiền lương thấp và dân số trẻ – phân nửa 1.25 tỷ người của Ấn Độ hiện ở độ tuổi từ 20 đến 59 – đã giúp Ấn Độ lọt vào “tầm ngắm” của nhiều nhà đầu tư tương lai. Chương trình trọng tâm của Chính phủ Ấn Độ kể từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1991 để tự do hóa các ngành công nghiệp đã thu hút mạnh nhiều công ty nước ngoài đến với một quốc gia hiện có mức tăng trưởng khoảng 7%/năm. Nhà đầu tư đang theo đuổi ngành sản xuất ô tô, viễn thông và công nghệ sinh học, bằng cách tận dụng sự khuyến khích của Chính phủ trong một số trường hợp. Vào năm 2014, chính phủ Ấn Độ đưa ra kế hoạch “sản xuất ở Ấn Độ” mang tính ủng hộ nhà đầu tư. Kế hoạch này đã mở cửa 25 lĩnh vực cho nguồn vốn nước ngoài. Kết quả là lượng vốn nước ngoài đã tăng 46% suốt trong năm tiếp theo và trong giai đoạn 2015 – 2016, Ấn Độ được ghi nhận có nguồn vốn FDI đổ vào cao nhất với 55.5 tỷ USD./.

Tuần trước, giới phân tích đã nói về tầm quan trọng của những lời nói đến từ hai quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới trong một cuộc họp hồi cuối tuần là Ả-rập Xê-út và Nga. Cả hai đều phát biểu ...

Tuần trước, giới phân tích đã nói về tầm quan trọng của những lời nói đến từ hai quốc gia sản xuất dầu lớn nhất thế giới trong một cuộc họp hồi cuối tuần là Ả-rập Xê-út và Nga. Cả hai đều phát biểu rằng bằng “mọi giá” để cắt giảm nguồn cung (nghĩa là họ sẽ làm bất cứ chuyện gì để đẩy giá dầu lên cao hơn), Forbes cho hay.

“Khi bạn nghe những lời này được nói ra từ các nhà làm chính sách, những người mà có thể hoạch định kết quả, thì nó sẽ thu hút được sự chú ý của mọi người”, một chuyên gia phân tích cho hay. Điều đó đã có tác dụng từ ông Mario Draghi và đang có hiệu quả với chính quyền Nhật Bản. Và dường như cũng có tác dụng với Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC).

Lần đầu tiên trong 8 năm, OPEC đã cắt giảm sản lượng hồi tháng 11/2016. Tuy nhiên, giá dầu thô đã không thể dao động theo ý họ. Giá dầu vẫn bị “mắc kẹt” giữa khoảng 43-55 USD/thùng. Và sắp có một cuộc họp của OPEC vào ngày thứ 5, với những kỳ vọng rằng thỏa thuận cắt giảm sẽ được kéo dài đến hết tháng 3 năm sau.

Nên nhớ rằng, chính OPEC đã gây ra đợt lao dốc giá dầu bắt đầu vào đêm lễ Tạ ơn năm 2014 (khi ấy khoảng 70 USD/thùng) và kết thúc ở mức trên 26 USD/thùng trong 1.5 năm sau đó. Quyết định từ chối cắt giảm của họ vào cuối năm 2014 đã khơi mào cho cơn lao dốc, với mục đích là nhằm “nghiền nát” ngành dầu đá phiến của Mỹ. Điều đó suýt có tác dụng. Trước tháng 1 vừa qua, ai cũng nghĩ rằng phân nửa các nhà sản xuất dầu đá phiến của Mỹ sẽ bị phá sản trước khi cơn lao dốc giá dầu chấm dứt. Rốt cuộc, hơn 100 công ty nhỏ có liên quan đến dầu ở Mỹ đã đệ đơn xin phá sản.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, mọi người thấy rằng giá dầu rẻ không những đe dọa ngành dầu đá phiến của Mỹ (mà hóa ra là cũng đe dọa đến hệ thống tài chính và kinh tế toàn cầu), mà còn gây khó khăn cho cả các quốc gia thành viên trong OPEC.

Quốc gia đứng đầu tổ chức này là Ả-rập Xê-út đã bị mất doanh thu nghiêm trọng từ những đợt lao dốc giá dầu do mình tự gây ra, khiến họ đang phải “ôm” một quả bom hẹn giờ không mong muốn về mặt kinh tế. Vương quốc của những ông hoàng Ả-rập này hiện mất khoảng 80% nguồn thu từ dầu, khiến thâm hụt ngân sách lên đến hơn 15% GDP.

Để tiện so sánh, châu Âu cũng đã có một trường hợp tương tự, đó là Hy Lạp, thành viên “xác sống” nổi tiếng của khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro (eurozone) suốt thời gian qua, cũng từng bị thâm hụt ngân sách 15%, mức tồi tệ nhất hồi năm 2009.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hiện cho rằng Ả-rập Xê-út cần dầu đạt mức 83 USD/thùng để cân bằng lại ngân sách của mình. Và dường như họ đang cố gắng giải quyết chuyện này./.

Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây ra một vụ nổ bong bóng bất động sản kéo dài 6 năm ở Hồng Kông, làm giá nhà đất giảm hơn 2/3 và khiến Hồng Kông rơi vào tình trạng đình trệ kinh tế ...

Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã gây ra một vụ nổ bong bóng bất động sản kéo dài 6 năm ở Hồng Kông, làm giá nhà đất giảm hơn 2/3 và khiến Hồng Kông rơi vào tình trạng đình trệ kinh tế và giảm phát, Bloomberg cho hay.

 

Giờ đây, khi Hồng Kông đang chuẩn bị kỷ niệm 20 năm ngày được trao trả lại cho Trung Quốc – một sự kiện diễn ra ngay khi cuộc khủng hoảng châu Á bắt đầu lan ra – thì nỗi đau đó dường như đã bị lãng quên. Giá nhà hiện vẫn ở mức cao nhất mọi thời đại. Tiền vay mua nhà đang bùng phát. Các công ty phát triển bất động sản đang đua nhau đẩy giá đất lên mức kỷ lục. Cả người già lẫn người trẻ đang rồng rắn xếp hàng mua các căn hộ mới được xây xong. Nhìn chung, bầu không khí của cuộc vỡ bong bóng nhà đất lần trước đang trở lại.

Điều đó khiến các chuyên gia lo lắng về những hậu quả tồi tệ có thể xảy ra, nếu thành phố 7.4 triệu dân này trải qua một cú sốc nữa. Theo một vài chỉ báo, Hồng Kông hiện dễ bị tổn thương hơn quanh thời điểm này. Vào ngày thứ Sáu tuần trước, Ngân hàng Trung ương Hồng Kông đã đưa ra động thái thứ hai chỉ trong vòng 1 tuần là công bố các biện pháp để phòng ngừa những rủi ro.

Vì các ngân hàng trung ương cung cấp quá nhiều khoản vay có lãi suất thấp (cheap money) vào nền kinh tế thế giới suốt thập kỷ qua nên các thị trường bất động sản ở những thành phố lớn, từ Sydney đến Stockholm, đều tăng vọt. Và có lẽ không đâu rõ điều này hơn so với Hồng Kông, nơi mà nhu cầu đến từ những người mua ở đại lục Trung Quốc đã góp phần rất lớn vào cuộc bùng nổ trên.

Hồng Kông đặc biệt dễ bị tổn thương về mặt tài chính vì một lượng tích lũy tài sản khổng lồ từ các hộ gia đình đã được đổ vào bất động sản và ngành ngân hàng là một trong những trụ cột chính của nền kinh tế của thành phố này. Một cuộc sụp đổ bất động sản có thể làm suy yếu các ngân hàng và dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính toàn diện, Xia Le, chuyên gia kinh tế trưởng của Banco Bilbao Vizcaya Argentaria SA, phân tích.

Theo một cuộc nghiên cứu của Peter Richmond và Bertrand M. Roehner trong báo cáo Evolutionary and Institutional Economics Review, giá các căn hộ ở Hồng Kông đã tăng gần 4 lần trong giai đoạn 2003-2015. Và kể từ đầu năm 2016 đến nay, giá tiếp tục tăng 15%.

Bên cạnh đó, vì lương bổng gần như không tăng nên giờ đây một hộ gia đình ở Hồng Kông phải mất bình quân 18 năm thu nhập mới mua được nhà, nhiều hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới, dữ liệu của Demographia cho thấy. Trong khi đó, Sydney chỉ mất trên 12 năm, Luân Đôn 8.5 năm, và New York là dưới 6 năm.

Nhờ vị trí là cửa ngõ đến với nền kinh tế thứ 2 thế giới với những bảo hộ luật pháp theo kiểu phương Tây, nên Hồng Kông đã thu hút được dòng người mua ổn định đến từ đại lục.

Bằng cách nào và khi nào cuộc bùng nổ này chấm dứt là điều vẫn chưa ai đoán được, nhưng với một Chính phủ liên tục thất bại trong việc “thuần hóa” giá nhà thì các rủi ro ngày càng gia tăng, trong đó dễ thấy nhất là một cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính trầm trọng ở Trung Quốc sẽ lan sang nền kinh tế càng ngày càng liên quan với đại lục của Hồng Kông.

Đặc biệt, có một chỉ báo khiến giới quan sát thị trường phải suy nghĩ nghiêm túc. Đó là tính đến hết tháng 12 năm ngoái, giá trị của những món nợ hiện hữu đã tăng hơn 1/3 trong 5 năm và giờ đây đã chiếm đến 47% GDP, cao hơn 10% so với đầu năm 1997.

Những công ty phát triển địa ốc hung hăng

Vì các công ty phát triển địa ốc vay nợ nhiều hơn để cung cấp vốn cho những thương vụ mua đất đắt đỏ và để gia tăng tính cạnh tranh với ngân hàng trong việc cung cấp các khoản vay mua nhà, nên rủi ro đang lan rộng khắp cả nền kinh tế, khiến Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông (HKMA) lo ngại. Vào ngày 12/5 vừa qua, HKMA đã siết chặt luật cho vay sau khi tỏ ra lo ngại về phần tiền mà các ngân hàng đang dành cho lĩnh vực bất động sản.

Thông báo đó được đưa ra ngay khi các công ty phát triển địa ốc tranh nhau đấu giá dành cho một lô đất thương mại ở khu kinh doanh trung tâm, khiến giá của nó bị đẩy lên mức kỷ lục là 3 tỷ USD. Một tuần sau, HKMA tiếp tục tung ra những hạn chế đối với các khoản vay mua nhà thứ hai cũng như những người mua có thu nhập chủ yếu là từ nước ngoài.

‘Rủi ro của sự tập trung’

Theo Raymond Yeung, chuyên gia kinh tế trưởng của Greater China tại Australia & New Zealand Banking Group Ltd, các khoản vay mua nhà càng ngày càng tập trung nhiều ở những người mua ở độ tuổi 25 – 40. Điều đó nghĩa là những người trẻ có việc làm ở độ tuổi lập gia đình rất nhạy cảm với lãi suất, có nguy cơ khiến cho khoảng cách giàu nghèo ở một trong những xã hội bất bình đẳng nhất thế giới này ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Lãi suất vay mua nhà tăng có thể khiến cho sức chi tiêu của người tiêu dùng nhanh chóng bị yếu đi.

Vì đồng tiền Hồng Kông được neo theo đồng USD nên vận mệnh kinh tế của những hộ gia đình đó – và rộng hơn là thị trường bất động sản – sẽ được quyết định bởi một nơi cách Hồng Kông 8,000 dặm, đó là  Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở Washington. Chủ tịch Janet Yellen đã bắt đầu các biện pháp thắt chặt tiền tệ và được kỳ vọng sẽ nâng lãi suất ít nhất một lần nữa trong năm nay, có khả năng là vào tháng 6. “Ngân hàng Trung ương Hồng Kông” sẽ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm theo.

Quay sang bố mẹ

Nhiều người mong muốn có được ngôi nhà đầu tiên đang phải vay từ các công ty phát triển bất động sản, nơi mà không đòi hỏi phải tuân theo quy tắc vay theo giá trị như các ngân hàng. Đồng thời họ cũng quay sang bố mẹ nhờ giúp đỡ.

Chẳng hạn, Terry Wong, 32 tuổi, đã nhờ sự giúp đỡ của bố mẹ để trả bớt 20% giá trị của căn hộ trị giá 5 triệu đô la Hồng Kông (khoảng 643,000 USD) hồi tháng 3 sau khi anh lập gia đình. Phần còn lại anh được một ngân hàng và Hong Kong Mortgage Corp cho vay.

Tại dự án Eight Regency Sun Hung Kai Properties ở khu New Territories của Hồng Kông, các căn hộ nhanh chóng được bán hết trong lần mở bán đầu tiên hồi tháng 4. Khoảng 40 khách hàng mua căn hộ mà Midland Realty đang xây là dưới 30 tuổi, và gần 1/3 trong số họ là nhờ vào nguồn tiền của bố mẹ để có được một khoản trả trước, Sammy Po, CEO của công ty bất động sản này cho biết.

Các yếu tố bi quan đang hội tụ

Thất bại trong việc hạ nhiệt thị trường này của Chính phủ nghĩa là sức khỏe kinh tế của thành phố này đang bị ràng buộc chặt hơn với bất động sản. Giá cả tăng vọt cũng đồng nghĩa với việc nhiều tài sản hơn đang bị “chôn” trong bất động sản, và các công dân ít có khuynh hướng tích lũy các loại tài sản khác, Ryan Lam, Trưởng bộ phận nghiên cứu của Shanghai Commercial Bank, cho biết.

Theo ông Lam, nếu mọi thứ trở nên xấu đi thì giá nhà đất có thể giảm từ 10% đến 20% trong một khoảng thời gian ngắn. Và không chỉ có mình anh nghĩ thế, Morgan Stanley hiện dự báo giá nhà ở Hồng Kông sẽ bước vào một đợt giảm trong nhiều năm, bắt đầu với mức 5% trong năm nay. Còn Cusson Leung của JPMorgan Chase & Co. thì cho rằng giá nhà là “không bền vững” về mặt kinh tế và cảnh báo rằng các hộ gia đình sẽ bị “lãnh hậu quả” nếu thị trường này xoay chiều.

Và nếu mọi chuyện thật sự tồi tệ hơn, một cuộc sụp đổ sẽ ảnh hưởng nặng nề đến nguồn thu của Chính phủ, sức khỏe các hộ gia đình và lòng tin của người tiêu dùng và có thể gây ra giảm phát khi nền kinh tế bước vào “vòng xoáy đi xuống”, Xia của BBVA nói.

Quan điểm bi quan ấy hiện đã có tiền lệ: Nước Anh trao trả Hồng Kông lại cho Trung Quốc vào năm 1997 với một nền kinh tế tăng trưởng 7.5%/năm, tỷ lệ thất nghiệp là 2.4% và tình hình lạm phát “tương đối ổn”. Vậy mà, vào năm 2002, giảm phát đã bủa vây thành phố này, tỷ lệ thất nghiệp đã tăng gấp ba và tăng trưởng kinh tế giảm sút.

Và có lẽ câu nói của Michael Every, người đứng đầu nhóm nghiên cứu thị trường tài chính khu vực châu Á -Thái Bình Dương của Rabobank International ở Hồng Kông, là phản ánh đúng tình hình nhất: “Đáng buồn rằng nền kinh tế của Hồng Kông là thị trường nhà đất”./.

Cỗ máy kinh tế Nhật Bản có thể chưa hẳn là đang “gầm lên” nhưng chắc chắn là sắp sửa “có tiếng nói”, NY Times cho hay.

Cỗ máy kinh tế Nhật Bản có thể chưa hẳn là đang “gầm lên” nhưng chắc chắn là sắp sửa “có tiếng nói”, NY Times cho hay.

Tính đến đầu năm 2017, nền kinh tế nước này đã tăng trưởng 5 quý liên tiếp, và đây là đợt tăng trưởng dài nhất trong hơn một thập kỷ. Suốt 4 năm rưỡi qua, Chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã cố gắng thúc đẩy nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng mạnh hơn. Và dù đang giữ vị trí thứ 3 thế giới về mặt kinh tế, sau Mỹ và Trung Quốc, nhưng Nhật Bản vẫn không thể tăng trưởng ổn định – vì những trở ngại đến từ hậu quả của dân số giảm và giảm phát.

Chuyện gì đã xảy ra?

Trong một ước tính sơ bộ vào hôm thứ Năm (18/05), Văn phòng Nội các của Chính phủ Nhật Bản cho biết, tính đến hết tháng 3 năm nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Nhật Bản đã tăng 2.2% trong 3 tháng đầu năm 2017. Nền kinh tế nước này giờ đây đang tăng trưởng trong một giai đoạn dài hơn bất kỳ thời điểm nào kể từ năm 2005-2006 đến nay, khi đó nền kinh tế tăng trưởng liên tục trong 6 quý.

Tốc độ tăng trưởng cũng tăng nhanh so với quý trước, và mạnh hơn so với mong đợi của các chuyên gia kinh tế. Giới phân tích được các hãng tin khảo sát đã dự báo rằng tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản sẽ đạt trung bình 1.7%.

Điều gì đang thúc đẩy tăng trưởng?

Kim ngạch xuất khẩu đã tăng mạnh kể từ khi bắt đầu tăng trưởng, và tiếp tục lặp lại trong quý vừa qua. Kinh tế toàn cầu đang hồi phục trên diện rộng cũng góp phần trợ giúp cho nền kinh tế Nhật Bản, vì đồng yên yếu hơn khiến cho xe hơi và các sản phẩm điện tử cũng như các mặt hàng khác của Nhật Bản trở nên rẻ hơn ở nước ngoài (Thặng dư thương mại của Nhật Bản đã làm cho chính quyền ông Trump “nổi cáu” và đã có lời chỉ trích đối với một số chính sách của quốc gia này).

Trước đây, thị trường nội địa của nền kinh tế Nhật Bản chưa được chắc chắn, khi chi tiêu của người tiêu dùng và doanh nghiệp hầu như rất yếu và không ổn định. Tuy nhiên, trong quý gần nhất, cả tiêu dùng lẫn đầu tư cho doanh nghiệp đều tăng.

Có phải nền kinh tế Nhật Bản đang gặp vận may?

Dĩ nhiên là cũng có. Tổng sản lượng đã tăng 1% trong tất cả các quý của năm 2016 – dù chưa đạt được tốc độ nhanh chóng như Trung Quốc, nhưng gần gấp đôi những gì mà các chuyên gia kinh tế ước tính Nhật Bản sẽ có thể đạt được nếu xét đến sự suy giảm trong lực lượng lao động và người tiêu dùng. Trong vài năm đầu sau khi Thủ tướng Abe lên nắm quyền vào năm 2012, với cam kết là sẽ thúc đẩy tăng trưởng, nền kinh tế nước này còn tròng trành giữa hai trạng thái tăng trưởng và thu hẹp. Giờ đây, nó dường như đã tìm được đà tăng ổn định hơn.

Chính sách kinh tế của Thủ tướng Abe (Abenomics) đang thành công?

Chính phủ và ngân hàng trung ương nước này đã và đang rót tiền vào nền kinh tế, và gần như chắc chắn rằng những động thái đó đã giúp nước này có được tăng trưởng.

Tuy nhiên, một thành phần rất quan trọng đang bị bỏ qua, đó là lạm phát.

Ý tưởng lớn đằng sau Abenomics là làm cho giá tiêu dùng tăng, khiến cho lợi nhuận doanh nghiệp và lương nhân công tăng theo. Chính phủ nói rằng điều đó sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng không những nhanh hơn mà còn ổn định hơn. Tuy nhiên, giá cả hầu như chỉ nhích nhẹ, khiến nhiều nhà kinh tế suy đoán rằng quãng thời gian tươi đẹp hiện tại, dù đang được chào đón nhiệt liệt, cũng sẽ đến hồi kết./.

Chẳng có gì là bất thường khi thấy mọi người thật sự lo lắng rằng Tổng thống Mỹ sẽ (dù là cố tình hay tình cờ) đem lại một cú sốc nào đó đến thế giới, MarketWatch đưa tin.

Chẳng có gì là bất thường khi thấy mọi người thật sự lo lắng rằng Tổng thống Mỹ sẽ (dù là cố tình hay tình cờ) đem lại một cú sốc nào đó đến thế giới, MarketWatch đưa tin.

Tuy nhiên, nếu như có một lãnh đạo nào đó sẽ đem lại một cú sốc cho nền kinh tế thế giới, thì dường như nhiều khả năng đó sẽ là Thủ tướng Đức Angela Merkel hơn là Tổng thống Mỹ Donald Trump.

 

Vào hôm thứ Hai vừa qua, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã công bố bảng đánh giá mới nhất về nước Đức. Cơ quan quốc tế này tỏ ra không mấy hài lòng khi Đức lại từ chối hoặc là chi tiêu nhiều hơn hoặc là đánh thuế ít hơn dù đạt thặng dư ngân sách.

“Thặng dư tài khóa có sẵn nên được dùng cho các kế hoạch tăng cường tiềm năng tăng trưởng, như là đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật số và vật chất, chăm sóc trẻ em, giúp người tị nạn hòa nhập, và giảm bớt gánh nặng thuế lên người lao động”, IMF nói với giọng điệu khô khan của mình.

Chỉ trong tuần trước, một ước tính mới được công bố cho biết rằng nước Đức sẽ thu về được nhiều hơn 54 tỷ Euro từ thuế so với mức mà họ kỳ vọng trước đây. Thủ tướng Merkel và Bộ trưởng Bộ Tài chính Đức, Wolfgang Schaeuble, ngay lập tức nói rằng không có khả năng cắt giảm thuế nhiều hơn những gì đã được công bố trước đây.

Thật khó hiểu được tại sao nước Đức lại cứ áp dụng chính sách “thắt lưng buộc bụng” lên chính họ.

Thị trường việc làm của Đức hiện đã “chật chội”, nhưng không phải là vì quốc gia này đang tăng trưởng nhanh –chỉ có thể đạt mức tăng 1.6% trong năm 2017, theo các ước tính của IMF, giảm nhẹ so với mức tăng trưởng 1.8% hồi năm ngoái.

Lợi suất trái phiếu Đức kỳ hạn 10 năm hiện chỉ là 0.42% tính đến hôm thứ Hai vừa qua, vì thế thị trường trái phiếu đang rất mong được chi tiêu nhiều hơn, hoặc là cắt giảm thuế, để kích thích hoặc hỗ trợ tăng trưởng.

Trong khi đó, lĩnh vực tài chính của nước Đức hiện vẫn có quá nhiều ngân hàng đang mang nợ quá nhiều. Khả năng sinh lời thấp phản ánh tính kém hiệu quả trong cấu trúc, các vấn đề về khủng hoảng tiếp tục tồn tại, các khoản dự phòng cho các vụ vi phạm nguyên tắc, và nhu cầu cần được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường điều hành mới là cách mà IMF mô tả tình hình tài chính của nước Đức.

Đó là chưa kể đến những người bạn hàng xóm trong khu vực sử dụng đồng tiền chung Euro (Eurozone) của Đức. Bảy năm sau khi đòi một cuộc giải cứu, Hy Lạp hiện vẫn chìm trong một cuộc suy thoái kinh tế. Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy phong trào Năm Sao mang màu sắc chủ nghĩa dân túy có thể giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sắp tới ở Italy, và khiến cho sự tồn tại của đồng euro vẫn là một dấu chấm hỏi. Do đó, không có gì phải ngạc nhiên khi nền kinh tế lớn thứ 8 thế giới vẫn tiếp tục đình trệ.

Cả Hy Lạp và Italy có thể sử dụng một phần hỗ trợ nhỏ từ Đức, hoặc là bằng cách tăng nhu cầu hoặc là thông qua lợi thế cạnh tranh nho nhỏ mà họ sẽ có được nếu người Đức đồng ý tăng lương công nhân.

Nhưng câu trả lời của Đức vẫn là “Không”.

Thật dễ để nói rằng bà Merkel là nhà lãnh đạo mới của thế giới tự do, và có lẽ về những vấn đề xã hội thì bà là mẫu người lãnh đạo lý tưởng. Nhưng trong quãng thời gian hơn 1 thập kỷ điều hành kinh tế thì bà có lúc cũng bất cẩn của ông Trump vậy./.

It's me

Nhã Thanh

Tôi là giáo viên tiếng Anh, thích viết báo.

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán