Bài viết của Nhã Thanh

Trong số những cuộc ra đi khỏi Sàn giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) trong năm vừa qua, một số công ty đã “thu hút sự ý” vì có những điểm chung sau đây: họ đến từ Trung Quốc và nằm trong số các ...

Trong số những cuộc ra đi khỏi Sàn giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) trong năm vừa qua, một số công ty đã “thu hút sự ý” vì có những điểm chung sau đây: họ đến từ Trung Quốc và nằm trong số các công ty góp phần vào làn sóng IPO ở đảo quốc này cách đây khoảng 1 thập kỷ, CNBC cho hay. 

 

Các công ty Trung Quốc niêm yết ở Singapore, được biết đến như là các S-chip, đã dẫn đầu thị trường IPO ở đây từ năm 2005-2007 trước khi chững lại vào giữa năm 2012. Theo hồ sơ chứng khoán do CNBC thu thập được, trong những tháng gần đây, các công ty này đã rời khỏi SGX với số lượng lớn hơn, một cách tự nguyện hoặc sau khi không đáp ứng được các yêu cầu niêm yết.

CNBC thấy rằng 6 trong 10 công ty rút lui khỏi sàn giao dịch trong năm nay là các công ty Trung Quốc, so với con số 8 trong cả năm ngoái.

China New Town Development - một công ty bất động sản ngưng niêm yết ở SGX hồi tháng 2 nhưng vẫn có mặt ở Hồng Kông - cho biết việc rút lui khỏi Singapore sẽ giúp họ tiết kiệm các chi phí trong việc tuân thủ quy định và tài nguyên quản lý.

“Một vụ niêm yết có thể giúp củng cố việc giao dịch các cổ phiếu và dẫn tới thanh khoản tốt hơn, là điều sẽ giúp mở rộng số lượng cổ đông và tăng sức hấp dẫn của công ty như là một mục tiêu đầu tư. Sự gia tăng tính thanh khoản như thế thường là một xem xét quan trọng cho các chỉ số thị trường trong việc xác định các cổ phiếu cấu thành của các chỉ số ấy”, một công ty cho biết.

Max Loh, đồng quản lý của EY phụ trách khu vực châu Á và Singapore, nói rằng việc xây dựng sự nhận biết sản phẩm và thương hiệu gần với thị trường quê nhà là điều hợp lý cho các công ty như China New Town Development. Ông cũng lưu ý rằng các S-chip có thể đã không thấy lợi ích mà họ mong muốn từ nhà đầu tư ở Singapore.

“Có lẽ rằng họ không đang đạt đủ giá trị và sự quan tâm từ giới đầu tư trên SGX. Ngoài ra, những trải nghiệm không thuận lợi trong lịch sử với một số công ty S-chip tiếp tục làm hỏng hình ảnh của toàn bộ các công ty trên sàn này”, ông nói.

Loh đã đề cập tới việc gian lận trong kế toán và những vụ tai tiếng khác trong số vài công ty S-chip từng làm rúng động thị trường chứng khoán Singapore hồi đầu những năm 2010. Điều này làm ảnh hưởng xấu đến danh tiếng của các công ty Trung Quốc, qua đó khiến giá cổ phiếu của họ bị sụt giảm mạnh do hậu quả của sự kiện này.

Sau đó, những nghi vấn về quản trị doanh nghiệp và các vấn đề kế toán đã khiến cho SGX đưa nhiều công ty S-chip vào sự giám sát chặt chẽ. Kết quả là, một số công ty đã bị buộc phải ngưng niêm yết sau khi không đáp ứng được các quy định.

“Sàn giao dịch này sẽ hành động nếu công ty đó không đáp ứng được hiệu suất tài chính tối thiểu trong một khoản thời gian nhất định. Ngoài ra, vì thị trường giá giảm thường xảy ra khi thành quả kinh tế tệ hại và kết quả là, thành quả tài chính của các công ty này cũng sẽ tồi tệ. Vì thế, những công ty này có thể quyết định ngưng niêm yết và không còn bán cổ phiếu trên sàn nữa”, Sundaram Janakiramanan, giáo sư tài chính tại Đại học Khoa học Xã hội của Singapore, phân tích.

Đợt tai tiếng đó dẫn đến kết quả là số vụ IPO của các công ty Trung Quốc, vốn ưa thích Hồng Kông hơn Singapore, cũng diễn ra chậm lại. Tuy nhiên, việc ngày càng nhiều các công ty Trung Quốc rời khỏi SGX cũng không ảnh hưởng đến sức thu hút của thị trường vốn ở đảo quốc này, Loh Boon Chye, CEO của SGX, nói. Ông cho biết sàn giao dịch này vẫn là một trong những nơi giao dịch mang tính quốc tế nhất trên toàn cầu với khoảng 40% các công ty niêm yết đến từ bên ngoài Singapore.

Các công ty đến từ Trung Quốc cũng đã quay trở lại niêm yết trên SGX, Chew Sutat, người đứng đầu bộ phận thu nhập cố định và cổ phiếu của sàn giao dịch này, cho biết.

Hiện có hơn 100 S-chip trong số khoảng 800 công ty được niêm yết ở Singapore.

“Có một số công ty tên tuổi nhỏ hơn đã ngưng niêm yết, nhưng chỉ trong nửa năm qua, chúng tôi đã có EC World REIT, China Jinjiang Environment Holding, Dasin Retail Trust và mỗi công ty trong số họ có giá trị vốn hóa thị trường là từ 0.5 đến 1 triệu đô-la Singapore, lớn hơn nhiều so với những công ty ngưng niêm yết trong cùng thời gian này”, Chew nói./.

Nền kinh tế ở khu vực đồng tiền chung euro (eurozone) đang có vẻ tốt hơn nhiều. Sau nhiều năm đình trệ, cuối cùng tăng trưởng đã quay trở lại và tỷ lệ thất nghiệp đang giảm xuống. Những nỗi sợ về một ...

Nền kinh tế ở khu vực đồng tiền chung euro (eurozone) đang có vẻ tốt hơn nhiều. Sau nhiều năm đình trệ, cuối cùng tăng trưởng đã quay trở lại và tỷ lệ thất nghiệp đang giảm xuống. Những nỗi sợ về một giai đoạn giảm phát cũng dần suy giảm. Tuy nhiên, hiện có một nguy cơ đã trở lại – và vòng lặp u ám trong ngành ngân hàng châu Âu chính là lý do, Bloomberg cho hay.

 

Các mối liên kết chặt chẽ giữa các nguồn tài chính Chính phủ và hệ thống ngân hàng là nguyên nhân chính của sự sụp đổ ở Tây Ban Nha, Ireland, Hy Lạp. Bên cạnh đó, các nhà làm chính sách đã làm quá ít để phá vỡ mối liên kết đó. Trong một báo cáo được công bố tuần này, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thẳng thắn nhấn mạnh vào mối nguy hiểm này: Chừng nào mà mối liên kết này còn tồn tại thì châu Âu sẽ tiếp tục là mối đe dọa đối với sự ổn định tài chính trên toàn thế giới.

Có 2 mặt đối với mối liên kết giữa các chính phủ và những tổ chức cho vay. Khi nhà đầu tư tin rằng một chính phủ sẽ giải cứu một ngân hàng yếu kém thì các rắc rối trong hệ thống tài chính đó có thể khiến cho lợi suất trái phiếu chính phủ tăng. Ngược lại, khi các tổ chức cho vay nắm giữ quá nhiều nợ chính phủ thì các mối nghi ngờ về sức khỏe tài chính của một quốc gia có thể lan sang các ngân hàng.

Công bằng mà nói thì eurozone đã có một số bước đi để cắt bỏ sự liên kết này. Ủy ban châu Âu (EC) đã đưa ra những quy định mới bắt buộc nhà đầu tư trái phiếu phải chịu lỗ trước khi các chính phủ có thể giải cứu một ngân hàng. Giới điều hành cũng đã bắt buộc các tổ chức cho vay phải tăng thêm vốn, qua đó sẽ giảm nguy cơ phải cần đến những cuộc giải cứu mới.

Tuy nhiên, những nỗ lực này vẫn chưa đủ để phá vỡ mối liên kết trên. Cụ thể, Italy đang lợi dụng một “lỗ hổng” trong các quy định trên để cứu 3 ngân hàng trong khi không gây thiệt hại gì cho những người nắm giữ trái phiếu ưu tiên, điều mà cho thấy rằng kỷ nguyên giải cứu vẫn chưa kết thúc. Trong khi đó, các tổ chức cho vay ở những quốc gia yếu kém về mặt tài chính tiếp tục làm gia tăng thêm nợ chính phủ.

Eurozone nên mạnh tay hơn trong việc phá vỡ sự liên kết này. Những gì cần làm là một thỏa thuận lớn giữa những quốc gia dễ bị tổn thương hơn như Italy và những nền kinh tế mạnh hơn như Đức.

Những quốc gia dễ bị tổn thương hơn nên chấp nhận rằng phải có giới hạn về lượng nợ chính phủ mà các ngân hàng châu Âu có thể nắm giữ, dù quá trình này phải diễn ra từ từ để hạn chế tối đa sự bất ổn. Thêm vào đó, những quy định hiện tại đối với việc giải cứu ngân hàng cần được thực thi khắc khe hơn.

Đồng thời, chính phủ Đức nên hiểu rằng những quốc gia thành viên yếu kém hơn không thể giải quyết các vấn đề trong ngành ngân hàng khi không có sự giúp đỡ. Cơ quan Bình ổn châu Âu (ESM) - quỹ giải cứu của eurozone - hiện can thiệp chủ yếu bằng cách cho các chính phủ vay, qua đó khiến cho gánh nặng nợ nần của họ càng tăng thêm. Thay vào đó, ESM nên can thiệp trực tiếp.

Những biện pháp này sẽ tạo ra khó khăn về mặt chính trị cho tất cả các bên, nhưng là cần thiết để củng cố eurozone trước cuộc khủng hoảng tiếp theo./.

John Bogle, nhà sáng lập của tập đoàn Vanguard, khuyên đừng bao giờ ngừng đầu tư, ngay cả trong những khoảng thời gian bất ổn nhất.

John Bogle, nhà sáng lập của tập đoàn Vanguard, khuyên đừng bao giờ ngừng đầu tư, ngay cả trong những khoảng thời gian bất ổn nhất.

Ông là người từng trải qua cuộc Đại suy thoái, sống sót sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai và vượt qua được ngày Thứ hai Đen tối, vụ vỡ bong bóng công nghệ và khủng hoảng tài chính.

Ít nhà đầu tư nào từng trải như Jack Bogle, quán quân tiên phong của đầu tư chỉ số và cũng là nhà sáng lập tập đoàn Vanguard, nhà cung cấp quỹ tương hỗ lớn nhất thế giới với tổng tài sản toàn cầu đang quản lý có giá trị lên đến 4 ngàn tỷ USD.

Giờ đây, ở tuổi 87, cựu binh ngành tài chính này đang phải đối mặt với một thế giới mà chỉ cần 1 dòng tweet từ Tổng thống Donald Trump có thể làm chao đảo các cổ phiếu. Tuy nhiên, các con số lại là điều ông ưa thích: với sự nghiệp kéo dài hơn 66 năm, ông đã chứng kiến 13 đời Tổng thống Mỹ và một vài lần thị trường sụp đổ. Như thế là quá nhiều để áp dụng vào môi trường tài chính và chính trị hiện tại.

Nhà sáng lập tập đoàn Vanguard John Bogle

“Rất khó cho tôi hình dung ra được giai đoạn này có những điểm gì tốt đẹp hơn”, ông nói với MarketWatch.

“Những gì các thị trường dường như đang cho chúng ta biết hiện nay ở Mỹ là có một ít điều lạc quan đang diễn ra với chính quyền mới, khi họ quyết tâm vay nhiều để xài nhiều”, ông nói thêm.

Câu hỏi lớn đối với Bogle là bao nhiêu phần trong chương trình cải cách và thuế của ông Trump sẽ trở thành hiện thực. Đó là một dấu hỏi lớn nhưng ông hiện biết rất ít về việc mọi chuyện có thể diễn ra như thế nào.

“Cảm giác của tôi là bất kỳ điều gì làm tăng khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ đều là xấu cho xã hội chúng ta và cho các thị trường. Bất kỳ điều gì làm tăng sự chia rẽ chủng tộc ở đất nước này là tệ hại cho nền kinh tế”, ông nói.

“Vì thế chúng ta đang có một trận chiến giữa ‘tạm thời’ (short run) và ‘lâu dài’ (long run). Short run thì lạc quan, long run thì bi quan hơn”.

Xét theo điều đó, Bogle hiện không thấy khả năng vài năm tới có thể mang lại lợi nhuận cổ phiếu giống như mức tăng bình quân 11% trong suốt sự nghiệp của ông. Thay vào đó, nhà đầu tư nên kỳ vọng lợi nhuận thường niên khoảng 4% dành cho cổ phiếu, ông nói. Còn đối với trái phiếu, lợi nhuận có thể thậm chí thấp hơn.

 “Chúng ta vẫn sẽ có – tôi khá chắc chắn – lợi nhuận cho cổ phiếu và trái phiếu trong thập kỷ tới. Nhưng chúng sẽ thấp”, ông nói.

“Tôi không có ý bi quan. Tôi chỉ muốn nói là chúng ta nên thực tế”, ông nói thêm.

Nhưng dự đoán bi quan đó không phải là lý do để ngưng đầu tư, Bogle nói. Ông đề cập tới hai nguyên tắc chủ chốt của mình được đúc kết qua nhiều năm:

“Giả sử bạn đang tích lũy tiền bạc và tiết kiệm cho tương lai. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đừng ngừng làm việc đó. Đó là nguyên tắc đầu tiên. Đừng ngừng đầu tư”, ông nói.

“Nguyên tắc thứ hai là, đặc biệt là dành cho người trẻ hơn, một đợt sụt giảm mạnh trên thị trường là một điều may mắn. Nếu bạn đầu tư mỗi tháng thì bạn sẽ có cơ hội mua cổ phiếu với các mức giá càng ngày càng thấp hơn. Đừng tức giận vì điều đó; hãy sử dụng nó như là cơ hội của cả đời”.

Cựu binh của Vanguard nói rằng nhà đầu tư nên luôn sẵn sàng cho chuyện thị trường sẽ giảm 20% đến 30% - hay thậm chí sâu hơn. Ngay tại lúc này, các cổ phiếu Mỹ đang tăng gần 15% suốt 12 tháng qua và gần với các mức cao kỷ lục. Xét theo điều đó, các cổ phiếu đó hiện đã có giá “kịch trần”, do vậy một đợt sụt giảm có thể sẽ đến trong năm nay hoặc năm tới, Bogle phân tích.

Dù 2 nguyên tắc của Bogle nghe giống như những lời khuyên đơn giản, nhưng ông nói rằng mọi người thường hay làm ngược lại. Thay vì đi theo một lối đi có nguyên tắc do suy nghĩ có lý trí dẫn dắt, những nhà đầu tư trẻ và ít kinh nghiệm hơn lại để cảm xúc dẫn dắt – đặc biệt là vào những thời điểm căng thẳng.

“Trong một thị trường giá lên, mọi người cảm thấy tốt, họ cảm thấy lạc quan, họ muốn đầu tư thêm vào cổ phiếu. Nếu có một thị trường giá xuống, mọi người sợ chết khiếp và muốn rút tiền ra khỏi cổ phiếu. Họ muốn bỏ thêm tiền vào khi giá cao và lấy tiền ra khi giá thấp – chương trình đầu tư của họ sẽ là một thất bại hoàn toàn. Vì thế bạn cần phải có khả năng kiềm chế”, ông nói.

Bị ám ảnh bởi cuộc Đại suy thoái

Tuy nhiên, nhà đầu tư đến từ New Jersey này thừa nhận rằng không phải lúc nào ông cũng làm theo những chiến lược đầu tư tốt nhất. Ra đời trước cuộc sụp đổ thị trường năm 1929 chỉ 5 tháng, ông chỉ là một đứa trẻ khi kinh tế Mỹ rơi vào cuộc Đại suy thoái, khiến gia đình ông mất cả của cải thừa kế lẫn ngôi nhà. Ông giải thích rằng lớn lên trong hoàn cảnh đó đã để lại một dấu ấn khó phai trong thái độ của ông đối với tiền bạc, biến ông thành con người “bảo thủ” hơn cần thiết.

Chẳng hạn, ông luôn có một ít tiền đầu tư vào thị trường trái phiếu, ngay cả khi ném tất cả vào trái phiếu được cho là khôn ngoan hơn.

“Có thể tôi đã trở nên giàu có suốt một thời gian dài, nhưng tôi sẽ đã hạnh phúc hơn nếu như bắt đầu với 100% cổ phiếu”, Bogle nói.

“Nhưng tôi không hối tiếc gì về điều đó. Tôi chỉ là một người cố gắng dành dụm tiền cho thời gian hưu trí của mình, cho con cái đóng học phí,... Tôi nghĩ mình đã quá bảo thủ, nhưng tôi không bận tâm về điều đó”, ông nói.

Với người trẻ, Bogle khuyên nên bỏ hết 100% tiền vào cổ phiếu trong những năm đầu tư ban đầu, sau đó dần dần mua thêm trái phiếu cho tới khi chúng đạt tỷ lệ 75%-25% quanh thời điểm họ về hưu. Với bản thân ông, ông đã chọn một phương pháp “né tránh rủi ro” nhiều hơn là 50%-50% cho kế hoạch về hưu của mình.

Đó là vì cùng với những hướng dẫn đó, mọi người nên nghiêm túc xem xét tính cách, hay sức chịu đựng “nỗi đau” của họ khi đầu tư, ông nói. Dù vậy, nhìn chung, ý tưởng đó là đừng bị áp lực từ những lần lên xuống mỗi ngày trên thị trường.

“Đừng chú ý đến nó. Báo cáo tài chính của bạn, quỹ hưu trí 401K của bạn, thư thông báo lương hưu của bạn hay bất kỳ thứ gì đi nữa – đừng mở nó ra cho tới khi bạn về hưu”, Bogle nói.

“Và khi bạn mở báo cáo phúc lợi hưu trí hay bất kỳ cái gì đó ra sau 50 năm bắt đầu đầu tư, thì bạn nên có một chuyên gia tim mạch đứng cạnh bên. Bởi vì sẽ có rất nhiều tiền ở trong đó, bạn sẽ bị... đau tim”./.

Goldman Sachs có thể có Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin, cựu Giám đốc tác nghiệp (COO) Gary Cohn và vài cựu nhân viên khác trong chính quyền của Tổng thống Donald Trump.

Goldman Sachs có thể có Bộ trưởng Tài chính Steven Mnuchin, cựu Giám đốc tác nghiệp (COO) Gary Cohn và vài cựu nhân viên khác trong chính quyền của Tổng thống Donald Trump.

Tuy nhiên, dù Goldman Sachs có thể đang được ưu ái ở Washington, nhưng công ty bị một số người xem như là “ma cà rồng của Phố Wall” này có thể đang kém thành công hơn so với một đối thủ chính của mình: Morgan Stanley.

Cổ phiếu của Morgan Stanley đã tăng 3% hôm thứ Tư vừa qua nhờ kết quả lợi nhuận và doanh thu của mảng giao dịch (trading) khá tốt trong quý 1. Điều này xảy ra một ngày sau khi đối thủ trực tiếp của họ là Goldman Sachs gây thất vọng cho Phố Wall bằng những kết quả tệ hại, khiến cổ phiếu của họ rớt mất 5%.

Và những ngân hàng khác, trong đó đáng chú ý nhất là Bank of America và JPMorgan Chase, gần đây cũng báo cáo những kết quả quý khá tốt.

Morgan Stanley làm đặc biệt tốt ở đơn vị giao dịch trái phiếu của họ. Doanh thu từ mảng giao dịch các tài sản có thu nhập cố định tăng gần gấp đôi so với cách đây một năm.

James Gorman, Chủ tịch và cũng là CEO của Morgan Stanley, nói rằng đó là một trong những quý mạnh nhất trong các năm gần đây” đối với công ty này và ngân hàng này vẫn giữ được sự tự tin mặc dù môi trường vẫn còn bất ổn.

Ông Gorman không nói rõ thêm những bất ổn đó chính xác là gì. Nhưng những lo ngại về khả năng thúc đẩy chi tiêu và cải cách thuế của chính quyền ông Trump có thể khiến Morgan Stanley và các ngân hàng khác lo lắng.

Ông Trump từng kêu gọi Quốc hội rút lại phần lớn đạo luật cải cách tài chính Dodd-Frank. Dù vậy hiện không chắc là điều đó sẽ được thực hiện vào lúc nào. Vì thế, nhiều cổ phiếu ngân hàng đã giảm giá mạnh so với các mức cao mà họ từng đạt được trong thời kỳ hậu bầu cử Tổng thống Mỹ.

Thế nhưng, ông Gorman dường như tin rằng những thay đổi đối với Dodd-Frank vẫn sẽ được thực hiện. Tại cuộc họp của công ty hồi sáng ngày thứ Tư, ông nói với các chuyên gia phân tích rằng khó mà tưởng tượng được gánh nặng điều hành tăng lên từ thời điểm này trở đi và một số đề xuất chính sách được đưa ra là hợp lý.

Hỗn loạn ở châu Âu, nơi mà các mối lo lắng về làn sóng chủ nghĩa dân túy đang gia tăng sau sự kiện Brexit và những cuộc bầu cử sắp tới của Pháp, cũng khiến một số nhà đầu tư lo lắng.

Jonathan Pruzan, Giám đốc tài chính (CFO) của Morgan Stanley, lưu ý rằng các cuộc bầu cử ở châu Âu có thể tác động đến môi trường dành cho các cổ phiếu và trái phiếu mới, điều mà có thể ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp bảo lãnh phát hành IPO của Morgan Stanley.

Morgan Stanley là một trong những công ty bảo lãnh hàng đầu trong thương vụ IPO đình đám của Snapchat năm nay.

Tuy nhiên, Pruzan vẫn hy vọng nhu cầu IPO sẽ vẫn ở mức cao dù có một số lo ngại rằng thị trường sẽ biến động nhiều hơn.

Nhà đầu tư rõ ràng cũng không tỏ ra lo lắng. Cổ phiếu của Morgan Stanley đã có sự thể hiện tốt hơn Goldman Sachs trong năm nay – và chuyện này cũng đã diễn ra như thế kể từ cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi tháng 11 và suốt 12 tháng qua.

Cổ phiếu của Morgan Stanley giờ đây đã trở lại phạm vi tăng điểm tính từ đầu năm 2017 đến nay, nhờ đợt tăng hôm thứ Tư. Còn cổ phiếu của Goldman Sachs hiện giảm 10%, khiến nó trở thành một trong cổ phiếu tệ nhất của chỉ số Dow Jones trong năm 2017 cùng với 2 gã khổng lồ ngành dầu khí là Chevron và Exxon Mobil.

Vì thế, dù Goldman Sachs hiện quen biết các nhân vật quan trọng trong chính quyền ông Trump, nhưng dường như chưa có nghĩa rằng điều đó sẽ giúp họ tăng trưởng trong lợi nhuận. Trái lại, Morgan Stanley đang tiến lên một cách vững chắc – và kết quả là đang được Phố Wall chấp nhận./.

Những ngày “tối tăm” của cuộc khủng hoảng tài chính dường như đã kết thúc đối với các ngân hàng ở khu vực Bắc Mỹ khi một chuyên gia phân tích nói với CNBC rằng lãi suất tăng sẽ thúc đẩy lợi nhuận ...

Những ngày “tối tăm” của cuộc khủng hoảng tài chính dường như đã kết thúc đối với các ngân hàng ở khu vực Bắc Mỹ khi một chuyên gia phân tích nói với CNBC rằng lãi suất tăng sẽ thúc đẩy lợi nhuận biên và làm gia tăng tâm lý lạc quan sau một giai đoạn điều chỉnh lại đối với các ngân hàng ở Phố Wall.

 

“Khi chúng ta nhìn vào bức tranh chung, tôi cho rằng các ngân hàng Mỹ dường như rõ ràng đang kết thúc chu kỳ khủng hoảng 8 năm (hay còn gọi là chu kỳ xây dựng lại). Chúng ta đã thấy các dấu hiệu rằng các ngân hàng Mỹ đang thật sự bước sang chu kỳ mới”, David Benamou, Giám đốc điều hành tại Axiom Alternative Investments, nói với CNBC hôm thứ Ba.

Những lời của ông Benamou được đưa ra ngay giữa mùa công bố báo cáo lợi nhuận trên Phố Wall. Trong ngày thứ Năm tuần trước, JPMorgan đã báo cáo lợi nhuận quý 1 và doanh thu của họ đã vượt mức mong đợi khi tăng trưởng tín dụng và doanh số giao dịch (trading) cao hơn. Cụ thể, doanh thu của họ đã đạt 25.586 tỷ USD, cao hơn nhiều so với dự báo 24.877 tỷ USD từ các chuyên gia phân tích. Trong khi đó, Citigroup cũng báo cáo lợi nhuận quý 1 cao hơn mong đợi, với mức thu nhập ròng cao hơn 17% so với cùng kỳ năm ngoái, nhờ doanh thu tăng và chi phí tín dụng thấp hơn. Mảng giao dịch các tài sản có thu nhập cố định của ngân hàng này đã tăng vọt, với 19% cao hơn so với cùng kỳ năm ngoái.

Vì Goldman Sachs và Bank of America Merrill Lynch đang chuẩn bị công bố báo cáo lợi nhuận của họ nên Benamou nói với CNBC rằng mọi người nên kỳ vọng điều tích cực tương tự tuần trước sẽ được lặp lại. Thật vậy, các kỳ vọng về lãi suất cao hơn ở Mỹ là một trong những động lực chính của sự lạc quan đang vây quanh các ngân hàng Mỹ hiện nay vì những điều này sẽ thúc đẩy lợi nhuận biên của các ngân hàng.

Lợi nhuận của ngành ngân hàng đã bị kìm hãm trong môi trường lãi suất thấp gần đây, nhưng các ngân hàng có khuynh hướng làm tốt khi lợi suất tăng vì họ có thể áp đặt lãi suất cho vay cao hơn và thu về lợi nhuận cao hơn cho tất cả các kiểu đầu tư mang lại lợi suất tốt hơn.

Hôm thứ Năm tuần trước, Chris Wheeler, một chuyên gia phân tích các ngân hàng Mỹ tại Atlantic Equities, lưu ý rằng các kết quả thu nhập cố định tốt hơn nhiều so với thời điểm này năm trước cũng góp phần hỗ trợ thành quả của các ngân hàng. Chiến thắng của ông Donald Trump trong cuộc đua vào chiếc ghế Tổng thống Mỹ đã gia tăng niềm tin rằng lạm phát sẽ tăng cao, qua đó dẫn đến sự tái định vị mạnh mẽ trên các thị trường trái phiếu. Và điều này đã giúp cho các ngân hàng Phố Wall kiếm được thêm lợi nhuận.

Tuy nhiên, ông Wheeler cảnh báo rằng mảng cho vay thương mại đã sụt giảm. “Cho vay thương mại đặc biệt tăng trưởng mạnh trong 2 hay 3 năm qua, nhưng kể từ cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đến nay, mảng này tăng trưởng rất chậm”, ông nói với CNBC.

“Sự lạc quan là khá cao nhưng mọi người hơi lo lắng về việc khi nào chúng ta nên tham gia vào thị trường, Tổng thống sẽ làm gì, sẽ có những thay đổi nào xảy ra, vì thế mọi người đang lưỡng lự, do vậy tăng trưởng tín dụng sẽ là một trọng tâm trong các báo cáo lợi nhuận của ngân hàng”, ông nói thêm.

Ngoài ra, những lời hứa hẹn sẽ nới lỏng quy định và đầu tư vào cơ sở hạ tầng từ chính quyền mới cũng đã góp phần thúc đẩy giá cổ phiếu của các ngân hàng./.

 

Người Mỹ đã trở nên lười biếng, chuyên gia kinh tế Tyler Cowen tranh luận. Họ không lập doanh nghiệp nhiều như trước đây. Họ không di chuyển thường như họ đã từng. Và họ hiện sống tách biệt như những ...

Người Mỹ đã trở nên lười biếng, chuyên gia kinh tế Tyler Cowen tranh luận. Họ không lập doanh nghiệp nhiều như trước đây. Họ không di chuyển thường như họ đã từng. Và họ hiện sống tách biệt như những năm 1960, CNNMoney cho hay.

 

Tất cả những điều này đang khiến cho nước Mỹ bị đình trệ cả về mặt kinh tế và chính trị. Tăng trưởng chậm hơn nhiều so với những năm 60, 70 và 80, và tăng trưởng năng suất rất đáng thất vọng, dù ai cũng cho rằng họ đang làm việc rất chăm chỉ. Cowen, Giáo sư kinh tế tại trường Đại học George Mason, đã viết như vậy trong cuốn sách mới có tựa đề "The Complacent Class: The Self-Defeating Quest for the American Dream" của mình.

“Đổi mới bao giờ cũng đi kèm với đau đớn. Đó là lý do tại sao chúng ta không thực hiện đổi mới nhiều”, Cowen nói với CNNMoney. Trong cuốn sách, ông lý giải rằng tất cả các biến động lớn của những năm 1960, 1970 khiến cho mọi người muốn được an toàn và “giữ nguyên trạng” trong những thập kỷ sau đó.

“Hãy nhìn cách mọi người nuôi nấng con cái thời nay. Họ thậm chí còn không cho con cái ra ngoài”, ông nói.

Ngay cả công nghệ, lĩnh vực đã chứng kiến một số đổi mới trong những năm gần đây, thành quả của chúng khiến cho chúng ta muốn ở nhà và thư giãn.

“Công nghệ thật tuyệt! Nó thật thú vị. Tôi đã nhận được 4 kiện hàng của Amazon ngay trước cửa nhà mình. Nhưng chúng ta lại đang gặp vấn đề với chính điều này bởi vì nó thú vị và thoải mái. Tất cả những đổi mới công nghệ này hiện đang khuyến khích chúng ta thư giãn và ở mãi trong nhà.”

Cowen tin rằng chúng ta đã đi quá xa trong việc cố gắng tạo ra cuộc sống hoàn hảo và tách biệt cho mình và cho con cái. Do không nhận thấy điều đó nên chúng ta đã tạo ra những thế giới bong bóng mà chúng ta sợ thay đổi.

Ông cho rằng, sự tách biệt hiện đang có mặt khắp ở mọi nơi, cả theo chủng tộc lẫn theo tầng lớp. Ở miền Nam, số học sinh gốc Phi theo học ở những trường mà học sinh da trắng chiếm đa số đã đạt mức đỉnh vào năm 1988, với 43.5%. Ngày nay, con số đó chỉ là 23.2%, tương đương với mức của những năm 1960.

Cuốn sách của ông chỉ ra rằng trong năm 2015, đàn ông da trắng kiếm được ít hơn so với năm 1969. Ông gọi đó là “một trong những sự thật kinh ngạc về nước Mỹ đương đại”.

Dự báo cho tương lai

Thế thì nước Mỹ có thể thoát ra khỏi tình trạng tự mãn này như thế nào? Cowen cảnh báo rằng khi nhìn lại, lịch sử cho thấy rằng việc này thường đòi hỏi một tổn thương lớn, như một cuộc chiến hay một đợt thiên tai khổng lồ.

Nhưng ông cũng cho rằng nước Mỹ hiện có một khả năng tự tái sinh tuyệt vời, vì thế có thể sẽ không tốn một điều gì đó cực lớn để đánh thức lại khả năng chấp nhận mạo hiểm kỳ diệu của nước Mỹ.

Lời khuyên của ông dành cho mọi người là hãy mạo hiểm hơn trong cuộc đời của mình, cho dù đó là trong sự nghiệp hay cuộc sống cá nhân.

“Nếu bạn đang nghĩ đến chuyện thay đổi công việc, thì có lẽ bạn nên làm điều đó. Những người thay đổi thường có kết thúc hạnh phúc hơn nhiều so với những người không thay đổi”.

Ông đề cập tới nghiên cứu mới của chuyên gia kinh tế Steven Levitt, tác giả của cuốn sách đang rất phổ biến "Freakonomics". Levitt đã làm một thử nghiệm lớn, trong đó ông chọn ra những người hay gặp vấn đề khi đưa ra quyết định trong cuộc sống và bảo họ tung đồng xu để quyết định xem họ nên làm gì.

“Những người mà thay đổi (bất chấp kết quả tung đồng xu là gì) cho biết họ đang hạnh phúc hơn nhiều trong 2 tháng và 6 tháng sau”, Levitt phát hiện như thế.

Để giúp khởi động tinh thần chấp nhận mạo hiểm, Cowen đang kêu gọi ông Trump và Quốc hội chi nhiều tiền hơn cho nghiên cứu (cái thường được gọi là R&D). Ông nghĩ rằng chúng ta cần một khoảnh khắc “có người đặt chân trên mặt trăng” nữa, hay thậm chí tốt hơn là một đột phá y khoa lớn. Ông cũng nghĩ rằng cải cách vấn đề nhập cư là rất quan trọng.

“Dân nhập cư là những người dám chấp nhận mạo hiểm nhất. Họ là tầng lớp ít tự mãn nhất”, ông nói./.

Vào ngày 23/4 tới, các công dân Pháp sẽ đi bỏ phiếu bầu Tổng thống tương lai của họ. Cho tới thời điểm này, cuộc bầu cử đã tạo ra một bầu không khí bất ổn về những gì sẽ xảy ra với nền kinh tế và hệ ...

Vào ngày 23/4 tới, các công dân Pháp sẽ đi bỏ phiếu bầu Tổng thống tương lai của họ. Cho tới thời điểm này, cuộc bầu cử đã tạo ra một bầu không khí bất ổn về những gì sẽ xảy ra với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của Pháp nếu bà Marine Le Pen chiến thắng, vì bà có thể rút nước Pháp ra khỏi Liên minh châu Âu (EU), sử dụng lại đồng franc và tạo ra một trật tự kinh tế hoàn toàn mới cho quốc gia này.

Để hiểu được những gì có thể xảy ra với hệ thống ngân hàng Pháp, trước hết chúng ta phải nhìn vào sức khỏe hiện tại của các ngân hàng Pháp nhằm hiểu được mức độ mà họ có thể bị ảnh hưởng bởi các kết quả chính trị. Chúng ta cũng cần nhìn ra ngoài nước Pháp để thấy được các ngân hàng Đức có thể bị tác động như thế nào bởi những sự kiện ở Pháp trong trường hợp bà Marine Le Pen giành chiến thắng.

Nguồn: Tradingeconomics.com

Nhìn chung, mọi việc ở Pháp đang bắt đầu trông có vẻ tích cực hơn và gói nới lỏng định lượng của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đang bắt đầu kích thích hoạt động tạo ra tín dụng trên khắp châu Âu. Tăng trưởng trong nguồn cung tiền của Pháp đã đạt mức 4-5% trong gần 2 năm qua, trong khi tỷ lệ cho vay dao động từ 3.5-5% suốt cả năm ngoái. Cả 2 mảng “Sản xuất công nghiệp” và “Đầu tư Xây dựng Thực” trong quý 3 và quý 4 của năm 2016 đã đạt mức 1.8%.

Cổ phiếu ngân hàng đã không những “phớt lờ” các vấn đề chính trị, xã hội mà còn tăng 70% so với mức thấp kỷ lục của giai đoạn hậu Brexit hồi tháng 6/2016 và gần 150% kể từ năm 2012. Tốc độ tăng trưởng cho vay của các ngân hàng hiện trên 5%. Các ngân hàng Pháp đang cho vay ở cả trong và ngoài thị trường nội địa, có thị phần cả ở Đông Âu lẫn các vùng ngoại vi.

Nguồn: Tradingeconomics.com

Các ngân hàng Pháp đã phát triển mảng cho vay của mình nhanh gấp 4 lần so với các ngân hàng Đức kể từ năm 2000. Credit Agricole giờ đây có nhiều vốn hơn. Cả Soc Gen lẫn BNP đều đang duy trì vị trí hàng đầu về mảng sản phẩm phái sinh và các bảng cân đối kế toán tổng hợp của họ hiện làm “lu mờ” nhiều tổ chức tài chính lớn ở châu Âu. So với nhiều ngân hàng lớn khác ở châu Âu, các ngân hàng Pháp dường như ít nỗ lực hơn trong việc loại bỏ những khoản nợ xấu và thu hẹp các bảng cân đối kế toán của mình.


Nguồn: Tradingeconomics.com

Một số nhà phân tích cho rằng các ngân hàng Pháp hiện được quản lý khá tốt. Những hướng dẫn cho vay của họ giờ đây phức tạp hơn, vì thế họ có thể cải thiện bảng cân đối kế toán hiệu quả hơn. Trong khi đó những người hoài nghi lại tin rằng hệ thống ngân hàng Pháp đang đối mặt với mức độ cạnh tranh thấp hơn ở trong nước và họ che giấu các khoản lỗ một cách hiệu quả, cũng như có được nguồn tài trợ lãi suất thấp từ ECB.

Kết quả phân tích cho thấy các ngân hàng Pháp hiện đang dựa vào nguồn vốn lãi suất thấp của ECB để duy trì lợi nhuận và khả năng thanh toán suốt bất kỳ cuộc khủng hoảng vốn hay đợt tăng lãi suất nào. Nếu bà Le Pen thắng cử và đảng của bà đạt được đủ quyền kiểm soát ở Quốc hội thì có thể bà sẽ lãnh đạo nước Pháp “nổi loạn” với EU. Với thực tế đó, rất có thể việc tiếp cận vốn của các ngân hàng Pháp sẽ bị suy giảm và chi phí vốn sẽ gia tăng đáng kể. Điều này sẽ khiến cho họ trở nên cực kỳ dễ bị tổn thương nếu bà Le Pen giành thắng lợi./.

Nhật Bản nên phản đối bất cứ cáo buộc nào của Mỹ khi cho rằng quốc gia này đang làm suy yếu đồng yên để có lợi thế về thương mại, cố vấn của Thủ tướng Shinzo Abe đề nghị. 

Nhật Bản nên phản đối bất cứ cáo buộc nào của Mỹ khi cho rằng quốc gia này đang làm suy yếu đồng yên để có lợi thế về thương mại, cố vấn của Thủ tướng Shinzo Abe đề nghị. 

Trong một cuộc phỏng vấn với Reuters, Koichi Hamada, cố vấn nội các và giáo sư danh dự về kinh tế học tại Đại học Yale, cho rằng Nhật Bản nên nhấn mạnh rằng họ có một chính sách tiền tệ khác với Trung Quốc.

Với việc Tổng thống Donald Trump chỉ trích các chính sách thương mại của Nhật Bản, Trung Quốc và những nền kinh tế lớn khác, Tokyo sợ rằng xung đột thương mại có thể sẽ quay trở lại lần đầu tiên sau nhiều năm, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Nhật Bản và những mối quan hệ sâu sắc giữa họ với Washington.

Một quan chức cấp cao của Mỹ nói với Reuters rằng chính quyền mới đang thay đổi sự chú ý của họ từ những quốc gia “thao túng” tiền tệ sang những đồng tiền bị “sai lệch” về giá trị, ngay cả khi sự mất cân bằng đó là không hề có chủ ý.

“Những gì Nhật Bản nên tranh luận là Nhật Bản và Trung Quốc có những lập trường hoàn toàn khác nhau đối với việc quản lý tiền tệ. Nhật Bản không can thiệp vào thị trường tiền tệ dưới chính sách Abenomics, và chính sách tiền tệ của Nhật Bản chỉ nhắm vào các mục tiêu kinh tế trong nước”, ông Hamada nói hôm thứ Năm.

Tokyo đã không tham gia vào thị trường để đổi đồng yên lấy đồng USD kể từ tháng 11/2011. Tuy nhiên, đồng yên yếu là một trong những kết quả nổi bật nhất của những chính sách kích thích kinh tế mang tên “Abenomics” của Thủ tướng Shinzo Abe, qua đó góp phần thúc đẩy lợi nhuận của các công ty xuất khẩu và nâng giá trị các cổ phiếu của Nhật Bản lên cao hơn nhiều.

Tuy nhiên, lạm phát vẫn yếu và còn rất thấp so với mục tiêu 2% của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ).

“Đối với các doanh nghiệp Nhật Bản, mức giá hiện tại của đồng yên không quá mạnh so với đồng USD. BOJ không cần nới lỏng thêm nữa”, ông Hamada nói.

Vào thời điểm ông Hamada trả lời phỏng vấn, 1 USD có giá bằng 110.50 JPY. Sau khi Mỹ phóng tên lửa vào Syria, 1 USD có giá khoảng 110.60 JPY trên thị trường châu Á.

Kể từ khi ông Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi tháng 11, đồng USD đã tăng mạnh và vượt trên mức 118.60 yên, do có những kỳ vọng rằng ông Trump sẽ tiến hành các chính sách kích thích nền kinh tế, nhưng kể từ đó, đồng USD đã giảm khi chính quyền mới của Mỹ phải đối mặt với những rào cản đầu tiên tại Quốc hội.

Ông Hamada cho rằng các vấn đề thương mại nhạy cảm như tỷ giá hối đoái, xe hơi và nông nghiệp sẽ có thể xuất hiện tại những cuộc đàm phán song phương cấp cao trong tháng này. Tuy nhiên, ông nêu ra điều này như là cách để giúp cho hai Chính phủ tìm kiếm những thỏa thuận có lợi lẫn nhau sau khi thỏa thuận thương mại châu Á - Thái Bình Dương thất bại.

“Thảo luận về những vấn đề này trong cuộc đối thoại để tìm kiếm các tiêu chí cho những tình huống đôi bên cùng là điều hết sức bình thường, sau khi ông Trump rút Mỹ ra khỏi thỏa thuận thương mại khu vực châu Á - Thái Bình Dương đầy tham vọng”, ông Hamada nêu quan điểm.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản

Ông Hamada nhắc lại lời của ông Haruhiko Kuroda, Thống đốc BOJ, người gần đây đã nói rằng ngân hàng trung ương này sẽ không nâng các mục tiêu lợi suất trái phiếu dài hạn chỉ đơn giản là vì lãi suất dài hạn ở các nước khác đã tăng.

Ông cho biết một ngân hàng trung ương nên quản lý chính sách tiền tệ chỉ để tác động lên nền kinh tế nội địa của quốc gia ấy.

 “BOJ không cần nâng mục tiêu lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm vì lợi suất ở Mỹ hiện đã tăng”, ông nói.

 “Nhưng nếu BOJ giữ lợi suất trái phiếu dài hạn thấp bất chấp lợi suất của Mỹ cao, thì điều đó tự nhiên sẽ đẩy nhanh đà rớt giá của đồng yên, và gây ra áp lực lạm phát nhẹ ở Nhật Bản”.

BOJ hiện cam kết giữ lợi suất trái phiếu Chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm quanh mức 0%, nhưng các nhà phân tích dự báo động thái tiếp theo của BOJ sẽ là bắt đầu thu hẹp quy mô chính sách tiền siêu rẻ của mình và họ kỳ vọng ngân hàng trung ương này sẽ nâng mục tiêu lợi suất lên.

 “Nếu nền kinh tế Nhật Bản được kích thích quá mức, BOJ sẽ phải nâng mục tiêu lợi suất trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 10 năm lên để hạ nhiệt nền kinh tế”, ông Hamada dự báo.

Ông cũng nhắc lại rằng BOJ không cần phải khư khư giữ nguyên mục tiêu lạm phát 2% của mình trong một môi trường mà thị trường việc làm đã chật cứng và nền kinh tế Nhật Bản đang có xu hướng hồi phục. “Miễn là thị trường việc làm đạt được mức toàn dụng nhân công và hoạt động sản xuất thuận lợi thì lạm phát giá hầu như không còn là mục tiêu cơ bản nữa. Theo ý tôi, mục tiêu giá chỉ là một mục tiêu thứ yếu”./.

Các quốc gia mới nổi ở Châu Á tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu. Dẫu vậy, các nước này cần phải đẩy mạnh năng suất để trở thành quốc gia có thu nhập cao, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa ...

Các quốc gia mới nổi ở Châu Á tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu. Dẫu vậy, các nước này cần phải đẩy mạnh năng suất để trở thành quốc gia có thu nhập cao, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vừa đưa ra lời cảnh báo trong một báo cáo mới nhất của mình.

Hơn 95% dân số của khu vực này hiện đang sống trong các nền kinh tế có mức thu nhập trung bình, trong khi năm 1991 con số đó chỉ là 10%, tổ chức chuyên giúp đỡ chống nạn nghèo đói trên toàn cầu viết trong báo cáo “Triển vọng năm 2017” mới được công bố hôm thứ Năm.

Mặc dù đó là một minh chứng cho tốc độ phát triển năng động của châu Á, nhưng Chính phủ của các quốc gia này không nên thỏa mãn với những thành tựu của mình, ADB lên tiếng cảnh báo.

 “Các nhà hoạch định chính sách cần phải thay đổi phương pháp của mình để đạt được mức thu nhập cao. Các nền kinh tế phải gia tăng năng suất hơn để dẹp bỏ rào cản cuối cùng”, chuyên gia kinh tế trưởng Yasuyuki Sawada nói.

Thế nào là thu nhập trung bình, thế nào là thu nhập cao?

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), các quốc gia có tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người từ 1,026 USD đến 4,035 USD được định nghĩa là thu nhập trung bình thấp, còn những quốc gia có GNI từ 4,036 USD đến 12,475 USD được xem là có thu nhập trung bình cao, và những quốc gia có thu nhập cao là từ 12,476 USD trở lên.

Như vậy, theo xếp hạng của WB, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan được xem là các quốc gia có thu nhập trung bình cao, còn Ấn Độ, Indonesia, Vietnam và Philippines được xem là có thu nhập trung bình thấp.

Trong khi đó, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hong Kong và Đài Loan là các quốc gia có mức thu nhập cao. Điều này chẳng có gì là ngạc nhiên vì theo dữ liệu của Conference Board, 5 quốc gia này đã cho thấy năng suất lao động ở mỗi nhân công được thuê trong năm 2016 là cao nhất trong khu vực.

Leo lên nấc thang mới

Tập trung vào đổi mới là một cách để các thị trường mới nổi nâng cao năng suất, ADB nói.

“Đổi mới đòi hỏi một lực lượng lao động có kỹ năng, vì thế cần nhấn mạnh vào việc cải thiện chất lượng giáo dục. Một mức tăng 20% trong việc chi tiêu dành cho vốn con người tính trên mỗi đầu người có thể làm tăng năng suất lao động lên 3.1%”.

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng và công nghệ thông tin, là một cách khác.

“Chỉ một lần đầu tư công vào cơ sở hạ tầng với số vốn bằng với 1% GDP có thể làm tăng sản lượng của một quốc gia 1.2% trong 7 năm”, ADB cho biết.

Triển vọng tăng trưởng của châu Á

ADB cũng ước tính rằng tăng trưởng kinh tế của khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ đạt 5.7% trong các năm 2017 và 2018 – hơi thấp hơn mức tăng trưởng 5.8% ghi nhận được trong năm ngoái.

Chính sách tiền tệ siết chặt hơn của Mỹ và những rủi ro đi cùng trong việc dòng vốn bị chảy ra nước ngoài, cùng với sự biến động tiền tệ là những mối đe dọa cơ bản với triển vọng của châu Á, ADB cảnh báo.

Trong khi đó, các dự báo lạm phát cho 2 năm tới vẫn thấp hơn nhiều so với mức bình quân 3.9% của khu vực này trong 10 năm qua, ADB nói./.

CNBC

Tháng 12/2016, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã nâng lãi suất lần đầu tiên sau gần 1 thập kỷ, và sau đó tăng thêm một lần nữa vào tháng 3/2017. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), bà ...

Tháng 12/2016, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã nâng lãi suất lần đầu tiên sau gần 1 thập kỷ, và sau đó tăng thêm một lần nữa vào tháng 3/2017. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), bà Janet Yellen, còn ngụ ý rằng Fed có thể tăng lãi suất nữa trong năm nay.

Tuy nhiên, tăng lãi suất thì có ý nghĩa gì đối với các cố vấn tài chính, khách hàng của họ và các danh mục đầu tư?

Danh mục đầu tư có được hưởng lợi từ những lần tăng lãi suất?

Khi lãi suất tăng, giá trái phiếu sẽ giảm. Và dù nhiều nhà phân tích cho rằng giá cổ phiếu sẽ bị tác động nặng nề khi lãi suất tăng – vốn là những gì mà nhiều người đã dự báo cho các thị trường trong năm 2016 – nhưng những lần tăng lãi suất gần đây hơn vẫn không thể khiến cho thị trường chứng khoán (TTCK) Mỹ “giảm nhiệt”. Gần đây, dường như rằng khi lãi suất tăng thì giá trị của các cổ phiếu không bị ảnh hưởng. Tuy vậy, không thể biết được xu hướng này sẽ kéo dài bao lâu.

Với thực tế đó, các đợt tăng gần đây trên TTCK đã xảy ra ngay sau khi có suy đoán về việc tăng chi tiêu và cắt giảm thuế do chính quyền ông Trump đề xuất. Khi có một đợt tăng hay giảm đột ngột trên thị trường như là một phản ứng đối với tình hình chính trị, kinh tế, hay dân sự hiện tại, thì một đợt điều chỉnh thường xảy ra ngay sau đó. Đây là lý do tại sao nhà đầu tư nên tham khảo với một cố vấn tài chính để có những quyết định đầu tư khôn ngoan và kiềm chế những hành động hấp tấp, bất kể danh mục đầu tư của họ có nhiều trái phiếu hay cổ phiếu hơn, hay cả hai.

Những rủi ro của tăng lãi suất là gì?

Dù các cố vấn không thể dự báo những gì sẽ xảy ra trên TTCK và thị trường này sẽ phản ứng thế nào với những đợt tăng lãi suất trong tương lai, nhưng họ có thể có biện pháp để bảo đảm khách hàng của mình được hưởng lợi từ những lần tăng lãi suất trong khi xem xét tất cả những rủi ro tiềm ẩn. Chẳng hạn chúng ta hãy xem ví dụ đơn giản sau đây: khách hàng là một nhà đầu tư cân bằng, nghĩa là danh mục đầu tư của họ gồm cổ phiếu và các khoản đầu tư thu nhập cố định (ví dụ như trái phiếu) với tỷ lệ là 60/40.

Trong một môi trường lãi suất giảm, sự phân bổ tài sản có thể là 60% thu nhập cố định và 40% cổ phiếu để tận dụng giá trái phiếu tăng. Trong một môi trường lãi suất tăng, sự phân bổ đó có thể chuyển thành 60% cổ phiếu và 40% thu nhập cố định để hưởng lợi từ những cổ phiếu đang trên đà tăng giá. Mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng đó luôn được giữ nguyên và những điều chỉnh nhỏ được thực hiện để tận dụng các chuyển động của TTCK.

Còn ngoại hối thì sao?

Một danh mục đầu tư được đa dạng hóa tốt có thể gồm cả những khoản đầu tư trong nước lẫn nước ngoài, nhưng lãi suất tăng ảnh hưởng thế nào đến ngoại hối? Nếu 1 USD bằng 1.35 đô la Canada (CAD) thì USD mạnh hơn. Điều này nghĩa là đó không phải là thời điểm tốt để đổi CAD sang USD vì người đổi sẽ chỉ nhận được 0.65 USD cho mỗi đồng CAD họ bỏ ra. Tuy nhiên, đó sẽ là thời điểm tốt cho người Mỹ muốn đầu tư vào đồng CAD để tận dụng tỷ giá hối đoái trong khi đồng USD mạnh.

Khi đầu tư vào ngoại tệ thì những nguyên tắc đầu tư cơ bản tương tự luôn đúng – hãy mua thấp và bán cao. Đồng USD mạnh nghĩa là nó có giá trị cao hơn so với một đồng tiền khác – đồng USD mua được nhiều hơn đồng tiền kia. Đây là trường hợp hiện tại của đồng USD so với đồng Euro khi mà 1 USD bằng với 0.94 Euro. Và theo lý thuyết, lãi suất tăng có thể dẫn đến một đồng USD mạnh lên. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng xảy ra khi lần trước sau khi Fed tăng lãi suất, đồng USD đã nhảy vọt, trong khi lại giảm sau đợt tăng lãi suất gần đây nhất.

Khi đầu tư cho những mục tiêu dài hạn, như hưu trí, nhà đầu tư lúc nào cũng nên giữ một bức tranh lớn hơn trong tâm trí và vì thế những thay đổi ngắn hạn sẽ không tác động đến quyết định đầu tư cũng như danh mục đầu tư. Miễn là sự kết hợp tài sản trong danh mục đầu tư của bạn phù hợp với các mục tiêu đầu tư của bạn và bạn cảm thấy thoải mái với mức độ rủi ro đó, thì không cần mua và bán liên tục. Cố gắng đoán định thị trường, đặc biệt là trong những thời điểm kinh tế và chính trị bất ổn, chẳng bao giờ là một chiến lược đầu tư khôn ngoan./.

Các lãnh đạo ngân hàng trung ương có thể học hỏi từ ngành công nghiệp trò chơi điện tử khi cố gắng giao tiếp với một nhóm đối tượng mà thường ít biết đến những điều họ làm, chuyên gia kinh tế trưởng ...

Các lãnh đạo ngân hàng trung ương có thể học hỏi từ ngành công nghiệp trò chơi điện tử khi cố gắng giao tiếp với một nhóm đối tượng mà thường ít biết đến những điều họ làm, chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Trung ương Anh, Andy Haldane, đã nói như vậy.

 

Các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới đã đóng một vai trò rất quan trọng kể từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu cách đây gần 10 năm, bằng việc cắt giảm lãi suất về mức zero (hoặc âm) và mua hàng ngàn tỷ USD trái phiếu để giữ cho nền kinh tế của mình được “sống sót”.

Tuy nhiên, nhiều người hiện không hiểu được vai trò của các tổ chức như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hay Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), ông Haldane nói trong một bài phát biểu hôm thứ Sáu.

“Nếu xét về tầm quan trọng chính sách ngày nay được đặt trên vai của các ngân hàng trung ương, và bức tranh công nghệ và xã hội đang thay đồi mà họ phải đối mặt, thì có lẽ đây là thời điểm tốt để bắt đầu khám phá những giới hạn mới này về sự tham gia của ngân hàng trung ương”, ông nói tại một hội nghị do Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực San Francisco tổ chức.

Haldane cho rằng lãnh đạo của các ngân hàng trung ương cần giao tiếp bằng ngôn ngữ đơn giản hơn, cần tìm cách làm cho thông điệp của họ phù hợp với từng đối tượng cụ thể và sử dụng công nghệ mới để hiểu hơn về những quan điểm và hành vi của xã hội rộng lớn hơn. “Đối với các ngân hàng trung ương, đây là một tình huống có nhiều thay đổi theo cách giúp cải thiện đời sống của mọi người nhưng cũng thường chứa đựng nhiều vấn đề”, ông nhận định.

Việc sử dụng công nghệ trò chơi – cho phép hàng triệu người chơi những trò mang tính tương tác như World of Warcraft và Second Life – có thể giúp các ngân hàng trung ương giao tiếp với những người trẻ hơn, vốn là đối tượng cho thấy khó tiếp cận.

“Trên toàn cầu, khoảng phân nửa những người trưởng thành trẻ ở độ tuổi từ 18 đến 24 chơi game trực tuyến. Đó có thể là thời điểm cho các ngân hàng trung ương bắt đầu tận dụng thuận lợi này đúng theo cách mà người trẻ đang thích”, Haldane nói.

Ông cho rằng phiên bản ban đầu của trò chơi Monopoly được tạo ra cách đây hơn 100 năm để giúp cho mọi người hiểu được những rủi ro của sự bất bình đẳng thu nhập và sự tập trung tài sản vào nhóm đối tượng giàu có đang ngày càng gia tăng.

“Trò chơi Monopoly ngày nay vẫn phổ biến như nửa sau thế kỷ 20”, Haldane cho biết.

“Dù trò chơi này ảo chứ không phải thật (trong đó tài sản người chơi được tính bằng hàng triệu thay vì bằng các ngón tay, tiền trong trò chơi xuất phát từ một người đóng vai trò ngân hàng trung ương có tính tương tác thay vì là từ một ngân hàng trung ương vô tri vô giác), nhưng nếu mọi người trao đổi những câu chuyện tốt như cách họ trao đổi tài sản, thì có lẽ trò chơi này cũng có thể giúp giải quyết các vấn đề của thế kỷ 21"./.

Khi nước Anh bắt đầu quá trình tách ra khỏi Liên minh châu Âu (EU), nhà đầu tư nên sẵn sàng cho một con đường chông gai phía trước đối với quốc gia này, chuyên gia Fran Burwell nói với CNBC hôm thứ ...

Khi nước Anh bắt đầu quá trình tách ra khỏi Liên minh châu Âu (EU), nhà đầu tư nên sẵn sàng cho một con đường chông gai phía trước đối với quốc gia này, chuyên gia Fran Burwell nói với CNBC hôm thứ Tư vừa qua.

Đó là vì Fran Burwell nghĩ rằng EU sẽ thống nhất và cứng rắn trong các cuộc đàm phán của mình nước Anh, và sẽ không có thỏa thuận đặc biệt nào dành cho quốc gia đã chọn con đường ra đi.

 

“Sẽ rất khó khăn cho người Anh. Tôi nghĩ họ sẽ thấy rằng sẽ rất khó để đạt được những gì họ muốn và việc không còn là một phần thị trường chung EU sẽ gây nhiều trở ngại đối với họ”, bà Burwell, Phó Chủ tịch tại Hội đồng Atlantic, phụ trách các vấn đề về EU, cho biết quan điểm của mình.

Vào hôm thứ Tư vừa qua, nước Anh đã kích hoạt Điều 50 của Hiệp ước Lisbon để chính thức bắt đầu tiến trình rời khỏi EU của Anh kéo dài trong 2 năm.

Phát biểu trong chương trình "Closing Bell", Burwell cho biết bà mong các công ty, vốn đang hoạt động ở Anh vì muốn có sự tiếp cận dễ dàng với EU, sẽ suy nghĩ lại về địa điểm hoạt động của họ. Bà nghĩ họ có thể chuyển tất cả hoặc một phần trong các hoạt động của mình tới Đức hoặc Ireland.

Ngoài ra, mặc dù Anh đang nói về những thỏa thuận thương mại quốc tế mà họ muốn đàm phán, nhưng các thỏa thuận đó sẽ thật sự phải mất vài năm mới hoàn tất vì hầu hết các đối tác đàm phán sẽ chờ cho tới thỏa thuận cuối cùng giữa Anh và EU, bà giải thích.

“Đó là một chặng đường dài trước khi họ có được những thỏa thuận thương mại mà họ có thể gửi gắm tương lai của mình vào đó”, bà Burwell nói.

Naeem Aslam, người đứng đầu nhóm chuyên gia phân tích thị trường của TF Global Markets, nghĩ rằng nếu có chăng “một cuộc đàm phán đem lại nhiều kết quả tốt đẹp” về thỏa thuận Brexit, thì đồng bảng Anh, cổ phiếu và niềm tin của nhà đầu tư sẽ tăng lên ở quốc gia này.

“Tuy nhiên, nếu quá trình đàm phán này thất bại và chúng ta không có thỏa thuận nào trong 2 năm tới thì chắc chắn Anh không phải là thị trường mà bạn muốn để mắt tới”, ông nói trong chương trình "Closing Bell".

Trong khi đó, có một rủi ro khác đối với nền kinh tế châu Âu ngay vào thời điểm này, đó là cuộc bầu cử Tổng thống sắp tới ở Pháp, bà Burwell nói thêm.

Ứng viên Tổng thống thuộc phe cực hữu, Marine Le Pen, đã thề sẽ đàm phán lại các điều khoản về tư cách thành viên của Pháp trong EU và rời khỏi khối các quốc gia sử dụng đồng tiền chung Euro (Eurozone).

“Nếu bà ấy chiến thắng ở Pháp thì có thể sẽ mang lại nhiều bất ổn cho nền kinh tế châu Âu hơn cả những gì mà các cuộc đàm phán Brexit sẽ mang lại cho lục địa này”, bà Burwell dự báo.

Vào hôm thứ Ba vừa qua, UBS nói rằng châu Âu có thể đối mặt với tình trạng hỗn loạn gấp 5 lần so với thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng nợ ở eurozone nếu như bà Le Pen giành chiến thắng./.

Những cuộc thảo luận gần đây về tình trạng bong bóng trên thị trường chứng khoán (TTCK) dường như đã nhiều hơn là chỉ... nói, Barrons đưa tin.

Những cuộc thảo luận gần đây về tình trạng bong bóng trên thị trường chứng khoán (TTCK) dường như đã nhiều hơn là chỉ... nói, Barrons đưa tin.

Ít nhất đó là kết luận được rút ra từ một cuộc nghiên cứu về tình trạng có thể dự báo được của bong bóng TTCK mới được công bố. Trái ngược với những nghiên cứu trước đây, vốn cho rằng bong bóng không thể nhận diện trước được, nghiên cứu mới này kết luận rằng “có những thời điểm chúng ta có thể gọi đích danh bong bóng với một chút tự tin”.

 

Nghiên cứu mới được công bố này có tên là “Bubbles for Fama” (Bong bóng cho Fama) được viết bởi Robin Greenwood, một giáo sư chuyên về tài chính và ngân hàng tại Trường Kinh doanh Harvard và là Chủ tịch của dự án Tài chính Hành vi và Sự ổn định Tài chính, cùng với sự giúp sức của Andrei Shleifer, giáo sư kinh tế tại Đại học Harvard và Yang You, nghiên cứu sinh tiến sĩ.

Bước đầu tiên rất cần thiết trong việc phân tích bong bóng chính xác là định nghĩa chính xác chúng là gì. Các nhà nghiên cứu trên chỉ ra rằng phải cần nhiều hơn một đợt tăng giá mạnh đột ngột để tạo ra bong bóng, vì không phải tất cả các đợt tăng mạnh đều dẫn tới bong bóng. Tương tự, chỉ một đợt giảm mạnh thôi thì không có nghĩa là đợt tăng mạnh đột ngột trước đó là bong bóng.

Nghiên cứu mới này định nghĩa bong bóng là một đợt tăng giá ít nhất 100% suốt 2 năm và trong vòng 2 năm tiếp theo phải có một đợt giảm ít nhất 40%. Hầu hết chúng ta sẽ đồng ý rằng bất kỳ thị trường nào thỏa mãn những điều kiện này đều tạo thành bong bóng: Chẳng hạn như chỉ số Nasdaq Composite vào cuối những năm 1990 và đầu những năm 2000 đều “dư sức” đáp ứng các điều kiện trên.

Một hậu quả của định nghĩa trên là khi áp dụng vào toàn thị trường, rất ít giai đoạn trong lịch sử Mỹ đủ tiêu chuẩn trở thành bong bóng. Ngay cả lần nổ bong bóng nhà đất của Mỹ để lại hậu quả nặng nề hồi năm 2008 cũng không đủ điều kiện. Và kể từ năm 1928, chỉ có 2 đợt là “đủ chuẩn”: Bong bóng năm 1929, và bong bóng dot-com đầu năm 2000.

Với số lượng mẫu nghiên cứu nhỏ như vậy, rõ ràng là gần như không thể đưa ra bất kỳ kết luận nào có được tầm quan trọng về mặt thống kê. Để khắc phục điều này, nhóm nghiên cứu trên áp dụng định nghĩa của họ vào các ngành công nghiệp, với số lượng mẫu là 21 bong bóng kể từ năm 1928. Lần gần đây nhất là trong ngành công nghiệp than đá, đạt đỉnh vào năm 2008 và sau đó bị mất đến 74% giá trị.

Có liên quan trong tiêu đề của nghiên cứu này là Eugene Fama, giáo sư tài chính của Đại học Chicago, người từng đạt giải Nobel và tranh luận rằng bong bóng không tồn tại khi được định nghĩa là “một đợt tăng giá mạnh phi lý có ẩn chứa một đợt giảm mạnh có thể dự báo được”. Ông chỉ ra rằng lợi nhuận bình quân theo sau những đợt tăng giá mạnh đột ngột không thấp hơn đáng kể so với mức bình quân. Các nhà nghiên cứu của Đại học Harvard không đồng ý. Họ thừa nhận rằng theo sau những đợt tăng giá đột ngột ít nhất 100% - điều đầu tiên trong 2 tiêu chí bong bóng của họ - lợi nhuận bình quân 2 năm tiếp theo của thị trường không thay đổi đáng kể so với các giai đoạn khác. Nhưng nghiên cứu của họ tập trung vào một cái gì đó khác: Xác suất xảy ra một cuộc sụp đổ và ở đây họ đã phát hiện được khả năng có thể dự báo được rất quan trọng về mặt thống kê.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy những đợt tăng mạnh đột ngột có thể dẫn tới một cuộc sụp đổ là có liên quan tới đà tăng của mức độ biến động, sự gia tăng của tỷ lệ các công ty phát hành cổ phiếu trong năm gần đây nhất, sự tăng giá không đồng đều trong số các doanh nghiệp mới nhất, sự tăng tốc trong tỷ lệ tăng giá đột ngột và tỷ lệ P/E trên mức bình quân.

Thị trường hiện tại tăng như thế nào khi có thông tin về cuộc nghiên cứu mới này? Thị trường thậm chí chưa đáp ứng được điều thứ nhất trong 2 tiêu chí bong bóng của họ. Trong một cuộc phỏng vấn, Greenwood chỉ ra rằng không ngành công nghiệp nào đạt được đà tăng 100% trong 2 năm qua. Lợi nhuận 2 năm của toàn TTCK chỉ là 19.2%, dựa theo chỉ số Wilshire 5000 Total Market Index.

Thế còn những chỉ báo khác mà các nhà nghiên cứu trên đã nhận diện được? Greenwood nhấn mạnh rằng chúng không quan trọng cho tới khi tiêu chí tăng giá đột ngột được thỏa. Nhưng ngay cả thế, đáng lưu ý rằng, ngay vào lúc này nhiều chỉ báo trong số đó không phát đi những cảnh báo. Chẳng hạn, sự biến động thị trường trong những tháng gần đây đã giảm, chứ không tăng. Và số phần trăm các công ty phát hành cổ phiếu là dưới mức trung bình lịch sử.

Vậy tại sao những cuộc thảo luận về bong bóng đang lan rộng đến thế? Will Goetzmann, giáo sư tài chính tại Đại học Yale, tin rằng điều đó phải có liên quan đến vấn đề đạo đức mà nhà đầu tư thường liên tưởng với bong bóng. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói: Khi họ cho rằng chúng ta đang ở giai đoạn bong bóng, họ sẽ đi xa hơn dự báo một cuộc giảm giá sắp xảy ra và ngụ ý rằng những người thua đậm trong một cuộc giảm giá như thế sẽ nhận được điều mà họ đáng được nhận.

Lưu ý là từ nghiên cứu của Đại học Harvard, bạn không thể kết luận rằng TTCK sẽ không bị một đợt giảm giá lớn trong những năm tới. Thật vậy, Greenwood cho rằng, định giá thị trường dường như đang bị đẩy lên quá cao. Nhưng cho phép khả năng xảy ra một thị trường giá xuống là khác xa với việc nói rằng chúng ta đang ở giai đoạn bong bóng.

Và nếu xét theo điểm đó, ít nhất thì dường như nhà đầu tư có thể thở phào nhẹ nhõm hơn./.

Trong một nghiên cứu của mình vào hôm thứ Tư vừa qua, chỉ vài ngày sau khi những người đứng đầu ngành tài chính của 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới (G20) hủy bỏ cam kết dành cho thương mại mở, Ngân ...

Trong một nghiên cứu của mình vào hôm thứ Tư vừa qua, chỉ vài ngày sau khi những người đứng đầu ngành tài chính của 20 nền kinh tế hàng đầu thế giới (G20) hủy bỏ cam kết dành cho thương mại mở, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cho rằng những chính sách thương mại mang tính bảo hộ có thể làm gia tăng, thay vì giảm bớt, thâm hụt thương mại của một quốc gia, Reuters đưa tin.

 

Trong quá trình tìm cách làm giảm bớt thâm hụt thương mại nghiêm trọng, chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã đề xuất một loạt biện pháp bảo hộ, chẳng hạn như áp dụng các loại thuế nhập khẩu mới.

Nhà Trắng cũng muốn thảo luận lại một số mối quan hệ thương mại của mình, trong đó có hai đối tác quan trọng là Đức và Trung Quốc. Cả hai quốc gia này đều đang có kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ cao hơn kim ngạch nhập khẩu từ nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Thật vậy, Mỹ đã rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), yêu cầu xem xét lại Thỏa thuận Thương mại Tự do Khu vực Bắc Mỹ (NAFTA) và từ chối tái khẳng định cam kết dành cho thương mại mở và tự do tại cuộc họp G20 hồi cuối tuần qua, làm dấy lên lo sợ rằng thương toàn cầu sẽ bị thiệt hại nặng nề.

Tuy nhiên, các tác giả của cuộc nghiên cứu trên tại ECB - được xuất bản trong bản tin kinh tế thường kỳ của tổ chức này - tin rằng “công thức” ngược lại là cần thiết.

Họ cho rằng tự do hóa thương mại toàn cầu và nhập khẩu hàng hóa trung gian rẻ hơn giúp cải thiện tính cạnh tranh, giúp các công ty giữ được lợi thế của họ đối với các đối thủ quốc tế và gia tăng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó.

“Việc chấp nhận các chính sách mà làm cho sự đổi mới trở nên dễ dàng và giảm những rào cản bảo hộ có thể giúp cải thiện tính cạnh tranh của một nền kinh tế. Các sáng kiến đa phương nhằm vào tự do hóa tài chính và thương mại cũng có thể làm giảm bớt sự mất cân bằng bên ngoài của một nền kinh tế”, báo cáo của ECB viết.

“Tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu có thể mang lại cho một nền kinh tế lợi thế cạnh tranh tạm thời, dẫn đến – để tối ưu hóa tiêu chuẩn sống bằng một sự cân bằng hợp lý trong chi tiêu và tiết kiệm theo thời gian – sự gia tăng trong cán cân tài khoản vãng lai”, ECB cho biết thêm.

Cuộc nghiên cứu cũng dường như bác bỏ “cáo buộc” của chính quyền Mỹ rằng các quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai lớn có thể đang sử dụng những hành động thương mại không công bằng.

Thay vào đó, họ tranh luận rằng các quốc gia sẽ xem lợi thế cạnh tranh của họ là tạm thời, và sẽ hành xử thận trọng vì họ mong những quốc gia khác sẽ tự do hóa thương mại để cải thiện sự hiệu quả của riêng họ và khôi phục khả năng cạnh tranh.

“Kết quả là, để tối ưu hóa tiêu chuẩn sống bằng một sự cân bằng hợp lý trong chi tiêu và tiết kiệm theo thời gian, một phần của thu nhập có được trong nền kinh tế nội địa sẽ được tiết kiệm, giúp cải thiện cán cân tài khoản vãng lai”, ECB cho biết thêm.

Tổ chức này nói thêm rằng nếu lợi thế đó được xem là vĩnh viễn, thì cán cân tài khoản vãng lai có thể trở nên tệ hơn khi tiêu dùng và nhập khẩu tăng để tương xứng với thu nhập./.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một phần trong chiến lược tăng trưởng của Chính phủ Nhật Bản hiện tại, vì thế việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận thương mại này đã gây thiệt hại cho Thủ ...

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một phần trong chiến lược tăng trưởng của Chính phủ Nhật Bản hiện tại, vì thế việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận thương mại này đã gây thiệt hại cho Thủ tướng Shinzō Abe, và sẽ gây ra thêm nhiều vấn đề trong tương lai, CNBC đưa tin.

Mặc dù các chính sách kinh tế của Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn còn bất ổn, nhưng một thỏa thuận song phương giữa Nhật và Mỹ sẽ là bước đi hợp lý nhất cho cả hai cường quốc.

Câu hỏi đặt ra là: Liệu Nhật Bản sẽ bị buộc phải ký một thỏa thuận ít thuận lợi hơn nhiều so với thỏa thuận trước đây? Hiện có suy đoán cho rằng trường hợp này sẽ xảy ra, và khiến cho Thủ tướng Abe càng thêm “đau đầu”.

Kể từ khi Tổng thống Trump bắt đầu nhậm chức hồi tháng Giêng năm nay, càng có nhiều lo ngại rằng thặng dư thương mại của Nhật Bản với Mỹ sẽ khiến cho quan điểm chủ nghĩa bảo hộ của Nhà Trắng tăng thêm.

Trong quý 4/2016, tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản đã mạnh lên nhờ kim ngạch xuất khẩu thiết bị điện tử và những sản phẩm công nghệ thông tin khác sang Trung Quốc và các quốc gia còn lại ở châu Á, chứ không phải là Mỹ, được cải thiện.

Tuy nhiên, nếu kim ngạch xuất ô tô của Nhật Bản sang Mỹ tiếp tục tăng và thặng dư thương mại của Nhật Bản với Mỹ tiếp tục phình lên, thì Nhật Bản có thể sẽ thấy áp lực chủ nghĩa bảo hộ ngày càng trầm trọng thêm. Đây không phải là một tình huống tốt cho nền kinh tế Nhật Bản, nếu xét đến việc quốc gia này đang phụ thuộc nặng nề vào mảng xuất khẩu.

Những cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Nhật Bản về các vấn đề kinh tế giữa Phó Thủ tướng Taro Aso và Phó Tổng thống Mike Pence được mong chờ sẽ diễn ra vào tháng Tư tới. Tuy vậy, cố vấn thương mại hàng đầu của Mỹ là Peter Navarro đã phát biểu rằng thương mại giữa một số quốc gia hiện không mang lại lợi ích lẫn nhau, và đưa ra vài ví dụ như thâm hụt thương mại của Mỹ so với Đức, những rào cản phi thuế quan của Nhật Bản, và đồng Nhân dân tệ bị phá giá của Trung Quốc.

Hiện vẫn chưa rõ rào cản phi thuế quan của Nhật Bản mà ông đề cập đến là gì, nhưng có khả năng là Mỹ sẽ yêu cầu xem xét lại để cải thiện cán cân thương mại giữa hai nước.

Thao túng tiền tệ?

Một điều có thể xảy ra là chính sách nới lỏng đa chiều của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể bị chỉ trích vì thao túng tiền tệ. Kiểu chỉ trích này – từng được Tổng thống Trump đưa ra hồi đầu tháng 2 khi cho rằng việc Nhật Bản thao túng đồng Yên – sẽ đặt dấu chấm hết cho chính sách kiểm soát đường cong lãi suất hiện thời của BoJ và có thể dẫn đến lãi suất dài hạn cao hơn.

Và kết quả là gì? Có thể nền kinh tế Nhật Bản sẽ phải hứng chịu một đợt ảnh hưởng khác, với tỷ lệ lạm phát suy giảm sau lần gia tăng đầu tiên kể từ năm 2015 đến nay.

Ở khía cạnh kinh tế vĩ mô, tập trung chính của Abenomics sẽ là sự tiến triển của các chiến lược tăng trưởng của Chính phủ. Đặc biệt, đáng lưu ý rằng đó là những cải cách trong “phong cách làm việc” mà Thủ tướng Abe cho là “thách thức lớn nhất” của mình.

Những biện pháp cụ thể trong các cải cách này bao gồm việc cân bằng lương, giảm giờ làm việc quá dài, áp dụng rộng rãi giờ làm việc linh động và hỗ trợ việc làm cho phụ nữ và người lớn tuổi. Những thói quen trong môi trường làm việc truyền thống của Nhật Bản như ưu tiên người làm việc liên tục trong dài hạn và hệ thống lương dựa trên thâm niên, được xem như là rào cản đối với sự phục hồi kinh tế của quốc gia này.

Với mức tăng trưởng tiềm năng đang giảm ở Nhật Bản vì tỷ lệ sinh giảm và dân số đang ngày càng già đi, thì thúc đẩy năng suất bằng cách đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin và tự động hóa ở các nhà máy, giảm sự thiếu hụt lao động bằng cách thuê thêm phụ nữ và người Nhật Bản lớn tuổi hơn mà có thể đã về hưu, là sẽ rất cần thiết. Ngoài ra, Nhật Bản cần tìm cách củng cố nguồn vốn con người bằng cách cải thiện kỹ năng và năng suất của lực lượng lao động.

Ở khía cạnh tiền tệ, Nhật Bản mong muốn chứng kiến sự mất giá hơn nữa của đồng Yên và đạt tỷ giá 1:117 so với đồng USD trong năm nay ngay sau khi chênh lệch lãi suất giữa Nhật Bản và Mỹ được nới rộng. Điều này đã thúc đẩy thị trường chứng khoán và chỉ số Nikkei 225 lên quanh mốc 21,000.

Tập trung vào các yếu tố cơ bản

Tuy nhiên, Nhật Bản không nên quên rủi ro của chính sách bảo hộ không khoan nhượng từ chính quyền mới của Mỹ. Trong trường hợp này, Nhật Bản sẽ cần tập trung vào các yếu tố cơ bản khi có khả năng đồng Yên sẽ mạnh lên dù đã bị mất giá so với đồng USD.

Dù mối quan hệ tốt đẹp giữa Nhật Bản và Mỹ dựa trên mối quan hệ đáng tin cậy giữa các nhà lãnh đạo 2 phía, nhưng những cuộc thảo luận trong tương lai sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là trong vấn đề thương mại và tiền tệ. Với việc những cuộc đàm phán về thỏa thuận song phương giữa hai quốc gia vẫn chưa bắt đầu, chỉ có thời gian mới cho ta biết được ai sẽ là người chiến thắng trong một cuộc “tranh tài” mà chắc chắn sẽ mang nhiều ý nghĩa cho cả hai nền kinh tế này./.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất thêm 0.25% vào hôm thứ Tư tuần trước – và đó là lần tăng thứ 3 kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính kết thúc, Washingtonpost đưa tin.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã nâng lãi suất thêm 0.25% vào hôm thứ Tư tuần trước – và đó là lần tăng thứ 3 kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính kết thúc, Washingtonpost đưa tin.

Có lẽ bạn đã để ý rằng những đợt tăng lãi suất làm cho việc vay mượn trở nên đắt đỏ hơn do lãi suất dành cho thẻ tín dụng, các khoản vay hạn mức theo vốn chủ sở hữu và những hình thức vay khác bị đẩy lên. Tuy nhiên, có thể phải mất một thời gian trước khi các đợt tăng lãi suất ấy giúp cho tiền trong tài khoản tiết kiệm của bạn tăng lên. Các ngân hàng phải chọn thời điểm tăng lãi suất dành cho tài khoản tiết kiệm, và họ chẳng vội vàng gì trong chuyện mang thêm tiền đến cho bạn.

“Mọi người cần phải quen với chuyện lãi suất tiết kiệm thấp”, Alan MacEachin, chuyên gia kinh tế doanh nghiệp tại Navy Federal Credit Union, nói.

Trong quá khứ, các đợt tăng lãi suất của Fed hầu như ngay lập tức dẫn đến lợi suất tốt hơn dành cho các tài khoản tiết kiệm. Lãi suất cao hơn khiến cho các ngân hàng và hội tín dụng có thể tính chi phí vay cao hơn, giúp họ kiếm được lợi nhuận nhiều hơn, rồi từ đó “san sẻ” cho khách hàng gửi tiết kiệm dưới hình thức lợi suất cao hơn.

Tuy vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính – một sự kiện khiến cho nhiều người tiêu dùng lo lắng hơn khi đầu tư hay tiêu tiền, nhiều tổ chức tài chính đã dồi dào tiền mặt đến nỗi họ không có nhiều động lực tăng lợi suất dành các tài khoản tiết kiệm, Sean McQuay, chuyên gia ngân hàng và tín dụng của trang web tài chính cá nhân NerdWallet, nêu ý kiến. Mặc dù một số công ty đã bắt đầu áp dụng lãi suất cao hơn cho người tiết kiệm, nhưng Fed có thể phải nâng lãi suất thêm vài lần nữa trước khi ‘các tài khoản tiết kiệm được hưởng lợi suất cao hơn’ trở thành điều bình thường, McQuay nói.

Kể từ khi Fed bắt đầu chu kỳ tăng lãi suất mới nhất vào tháng 12/2015, lợi suất dành cho các tài khoản tiết kiệm, chẳng hạn như các tài khoản thị trường tiền tệ, chứng chỉ tiền gửi, và tài khoản tiết kiệm truyền thống đã tương đối ổn định. Theo Bankrate.com, trang web chuyên so sánh lãi suất các ngân hàng với nhau, từ thứ Tư tuần trước trở đi, lợi suất trung bình dành cho các tài khoản thị trường tiền tệ là 0.11%, không thay đổi nhiều so với mức 0.10% hồi tháng 12/2015.

Ngược lại, người tiêu dùng đang bị “vắt kiệt” bởi lãi suất cao dành cho tín dụng và các khoản vay khác, vốn luôn bị các đợt tăng lãi suất của Fed ảnh hưởng trực tiếp. Chẳng hạn, theo Bankrate.com, vào tuần trước lãi suất tín dụng trung bình đã tăng từ mức 15.77% (thời điểm đầu tháng 12/2015) lên 16.26%. Lãi suất trung bình dành cho các khoản vay hạn mức theo vốn chủ sở hữu, vốn cũng trực tiếp bị ảnh hưởng bởi Fed, đã tăng từ mức cũ là 4.75% lên 5.15%, trong cùng khoảng thời gian đó.

Ngay cả sau khi nhiều ngân hàng hơn bắt đầu tăng lãi suất tiết kiệm, chúng ta còn lâu lắm mới được thấy các mức lợi suất “hào phóng” 5%, 6% hay 7% dành cho các chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 5 năm vốn khá phổ biến trong những năm 1980 và 1990, Greg McBride, chuyên gia phân tích tài chính trưởng của Bankrate.com, cho biết. “Sẽ là một hành trình dài và khó khăn”, ông nói, và cho biết thêm ông kỳ vọng Fed sẽ tăng từ từ.

Cho tới lúc đó, người tiết kiệm cho các mục tiêu tài chính lớn nhìn chung sẽ cần phải tiết kiệm thêm, hoặc chờ lâu hơn, để bù cho quãng thời gian lợi suất thấp.

Một số người tiêu dùng có thể quyết định đầu tư vào cổ phiếu và trái phiếu – và đối mặt với nhiều rủi ro hơn – nếu họ muốn kiếm được lợi nhuận cao hơn, Clinton Key, chuyên gia nghiên cứu của Pew Charitable Trusts, nói. Điều đó có thể không là vấn đề đối với những người tiết kiệm cho các mục tiêu dài hạn, như hưu trí, và những người có nhiều thời gian hồi phục thua lỗ.

Nhưng một số người đã hoặc sắp về hưu, cũng như những ai đang tiết kiệm cho một mục tiêu ngắn hạn, chẳng hạn như để có tiền đặt cọc cho một ngôi nhà họ muốn mua trong 5 năm tới, có thể không thể chấp nhận loại rủi ro đó, Key nói.

Nếu bạn không muốn chấp nhận rủi ro đó, thì lướt một vòng quanh các ngân hàng, hội tín dụng trong khu vực mình đang sống và những tài khoản tiết kiệm trực tuyến để có được lợi suất cao nhất cho tài khoản tiết của mình có lẽ là điều khôn ngoan, McQuay. Chẳng hạn, một số ngân hàng trực tuyến có thể đưa ra các lợi suất tiết kiệm lên tới 1%, so với lợi suất 0.01% thông thường mà các ngân hàng truyền thống đang áp dụng, ông nói./.

Có dấu hiệu cho thấy có lẽ nhà đầu tư đang hơi quá phấn khích với thị trường chứng khoán (TTCK) ở khắp mọi nơi, Barron đưa tin.

Có dấu hiệu cho thấy có lẽ nhà đầu tư đang hơi quá phấn khích với thị trường chứng khoán (TTCK) ở khắp mọi nơi, Barron đưa tin.

Nouriel Roubini, CEO của Roubini Macro Associates

Tiền vẫn đang chảy vào các quỹ ETF như chưa bao giờ xảy ra trước đây, đẩy các cổ phiếu tăng giá cao hơn. Thật vậy, như Financial Times cho biết, theo ETFGI, một công ty tư vấn có trụ sở ở Luân Đôn, 131 tỷ USD đã chảy vào các quỹ đầu tư chỉ số trong 2 tháng đầu năm 2017.

Điều này là do tiếp nối thành quả của năm “phá kỷ lục” 2016, thời điểm mà các giám đốc quỹ ETF thu về thêm hơn 390 tỷ USD tiền mặt. Tuy nhiên, chỉ riêng các dòng tiền đổ về trong 2 tháng đầu năm nay cũng đã bằng 1/3 tổng lượng tiền thu về trong năm ngoái.

Ngoài ra, Chỉ số Biến động CBOE, một thước đo phổ biến về nỗi sợ hãi trên thị trường, đang ở gần các mức thấp lịch sử. Thậm chí, cụm từ nghe có vẻ tự phụ  – “tâm lý bầy đàn” – đã liên tục xuất hiện trở lại trong giới truyền thông tài chính.

Không còn nghi ngờ gì nữa, một chất xúc tác lớn cho sự lạc quan trên thị trường này là sự đắc cử của tỷ phú Donald Trump và niềm hy vọng rằng ông ấy, cùng với một Quốc hội do Đảng Cộng hòa kiểm soát, sẽ đạt được một “cú ăn ba” gồm: thuế thấp hơn và đơn giản hơn, nới lỏng quản lý dành cho một số ngành, và một kế hoạch chi tiêu khổng lồ dành cho cơ sở hạ tầng.

“Tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp tăng phản ánh một giả thuyết đang ăn sâu trong tâm lý người Mỹ rằng sự nới tay trong quản lý và giảm thuế luôn có tác dụng giải phóng tinh thần doanh nhân, khuyến khích tăng trưởng, mang đến những thay đổi”, nhận định của Mohamed El-Erian, cố vấn trưởng về kinh tế của Allianz, công ty mẹ ở Đức của Pimco.

Tuy nhiên, El-Erian chỉ ra rằng “tâm lý không phải lúc nào cũng là một thước đo chính xác đối với các diễn biến và triển vọng kinh tế thật sự”.

Ông nhắc lại chuyện Robert J. Shiller, chuyên gia kinh tế tại Đại học Yale, người từng đạt giải Nobel, đã cho thấy rằng sự lạc quan có thể phát triển thành “sự phấn khích vô lý”, theo đó nhà đầu tư đã đẩy những vụ định giá tài sản lên tới mức “chẳng ăn nhập gì” với các nền tảng kinh tế.

“Họ có thể giữ những định giá ấy ‘cao ngất’ trong một thời gian, nhưng chỉ tới mức mà tâm lý có thể dẫn dắt các công ty và nền kinh tế tới”, El-Erian nói. “Cho đến nay, phản ứng phấn khích quá mức của các thị trường đối với chiến thắng của ông Trump – thể hiện qua việc tất cả những chỉ số chứng khoán của Mỹ đã đạt mức kỷ lục nhiều lần – đã không được phản ánh trong ‘các dữ liệu cứng’. Thêm vào đó, các nhà dự báo kinh tế chỉ có những thay đổi khiêm tốn đối với các dự báo tăng trưởng của họ”.

El-Erian thừa nhận hiện Mỹ có nền tảng tương đối mạnh để đạt được đà tăng trưởng kinh tế mạnh hơn. “Nhưng vẫn còn phải làm thêm nhiều điều. Nếu chính quyền ông Trump không thể khiến các thành viên trong Quốc hội hợp tác với nhau để chuyển những dự định thúc đẩy thị trường thành những hành động tạo dấu ấn tốt sớm, thì những ‘dữ liệu cứng’ ì ạch có nguy cơ làm giảm bớt sự tin tưởng, tạo ra những trở ngại hơn cả biến động tài chính”, ông kết luận.

Trong khi đó, Nouriel Roubini, CEO của Roubini Macro Associates và là một chuyên gia kinh tế nổi tiếng nhờ dự đoán trúng lần sụp đổ của thị trường nhà đất trong năm 2007, 2008, cũng tin rằng: “[Các thị trường] đang đánh giá quá cao những điểm tích cực trong các chính sách của Mỹ dưới thời ông Trump. Cơ sở hạ tầng, chương trình kích thích, sự nới lỏng quản lý, cắt giảm thuế: Tôi nghĩ ông Trump sẽ đạt được ít hơn nhiều trong những mục tiêu đó”.

Roubini nói thêm rằng việc kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ của chính quyền mới dành cho nước Mỹ cũng mang lại một thách thức: Chương trình kích thích tài khóa sẽ buộc Cục Dự trữ Liên bang (Fed) siết chặt hơn. Họ sẽ đẩy lãi suất và đồng USD lên “theo cách mà sẽ làm yếu đi nền kinh tế Mỹ theo thời gian”, ông nói.

Ông thừa nhận rằng cái gọi là “tâm lý bầy đàn” có thể không biến mất quá sớm.

“Trong 6 đến 12 tháng tới, có thể những điều tích cực sẽ thống trị vì bạn có tâm lý bầy đàn, sự tin tưởng của doanh nghiệp và người tiêu dùng tăng lên, bạn sẽ có hành động chính sách nào đó. Nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng và hy vọng rằng những điều tích cực đó sẽ kéo dài trong một thời gian”, ông nói.

Mặt khác, ông nói thêm, “càng có thêm xung đột thương mại, sẽ càng có hạn chế về vấn đề di trú. Gói kích thích này càng “khủng”, bắt buộc Fed phải siết chặt thêm nữa và nhanh hơn, thì một vài điểm trong những tiêu cực này càng bắt đầu ảnh hưởng đến các thị trường và tăng trưởng kinh tế theo thời gian”./.

Đối với hầu hết mọi người, quyết định nâng lãi suất hôm thứ Tư vừa qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), lần thứ 3 kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, là một kết quả đã được biết trước. ...

Đối với hầu hết mọi người, quyết định nâng lãi suất hôm thứ Tư vừa qua của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), lần thứ 3 kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, là một kết quả đã được biết trước. Trước khi công bố này được đưa ra, các thị trường đã thấy khả năng nâng lãi suất là hơn  95%, sau khi nhiều quan chức của Fed ngụ ý trong những bài phát biểu trước công chúng rằng nền kinh tế Mỹ đã sẵn sàng cho các mức lãi suất cao hơn, Washingtonpost đưa tin.

* Đáp lại kỳ vọng của thị trường, Fed nâng lãi suất lần đầu trong năm 2017 

Tuy nhiên, không phải tất cả các quan chức của Fed đều cảm thấy như vậy. Thông cáo báo chí của cơ quan này tiết lộ rằng một nhân vật trong Ủy ban Thị trường Mở (FOMC) gồm 10 thành viên của Fed đã không đồng ý với quyết định này. Vào sáng thứ Sáu vừa qua, trong một phát biểu của mình, Neel Kashkari,  Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực Minneapolis, giải thích vì sao những lo ngại dai dẳng của ông với nền kinh tế Mỹ đã thuyết phục ông bỏ phiếu hoãn lại lần tăng lãi suất này.

Ở Mỹ, ngân hàng trung ương có nhiệm vụ phải đạt được 2 mục tiêu - giữ cho lạm phát gần với mức mục tiêu, mà hiện tại là 2%, và làm cho nền kinh tế ở tình trạng “việc làm đầy đủ”, nghĩa là hầu như ai muốn có việc làm thì cũng tìm được. Kashkari, người từng chạy đua vào vị trí Thống đốc bang California và giúp Bộ Tài chính quản lý các gói giải cứu cho các ngân hàng trong cuộc khủng hoảng tài chính, cho rằng nước Mỹ dường như vẫn chưa đáp ứng được 1 trong 2 mục tiêu trên.

“Dữ liệu chủ chốt mà tôi đang xem xét để đánh giá chúng tôi đang gần với việc đáp ứng 2 mục tiêu được ủy thác như thế nào đã không thay đổi nhiều so với lần họp trước đây của chúng tôi”, thời điểm mà Fed thống nhất giữ nguyên lãi suất, Kashkari viết. “Chúng ta vẫn chưa đạt được mục tiêu lạm phát, và thị trường việc làm đang tiếp tục mạnh lên, cho thấy rằng sự ì ạch vẫn còn”.

Lạm phát đã tăng kể từ cuộc họp lần trước của Fed vào ngày 31/01-01/02 đến nay, như biểu đồ bên dưới cho thấy, nhưng đó hầu như hoàn toàn là do sự hồi phục của giá dầu cực thấp trước đây – các khuynh hướng có thể biến mất một cách dễ dàng giống như khi chúng xuất hiện.

Dữ liệu việc làm cũng cho thấy kinh tế Mỹ có thể vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi cần mức lãi suất cao hơn, Kashkari nói. Khi vẫn có sự ì ạch trong thị trường lao động, dưới hình thức người đi làm không có được công việc lý tưởng, thì chính sách tiền tệ được nới lỏng hơn có tác dụng khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng và thuê nhân viên mới. Nhưng khi tất cả những tài nguyên kinh tế đó được dùng hết thì lãi suất thấp hơn sẽ chuyển thành lạm phát.

Một trong những điều ngạc nhiên lớn trong suốt 18 tháng qua là thị trường việc làm tiếp tục rất mạnh, Kashkari viết. Dữ liệu chính thức cho thấy Mỹ đã có thêm 235,000 việc làm trong tháng 2, cao hơn nhiều so với mức cần thiết để bắt kịp với đà tăng trưởng dân số.

Biểu đồ dưới đây cho thấy, những chỉ báo việc làm khác vẫn ở mức thấp hơn so với trước cuộc suy thoái, và có thể có khả năng tăng thêm.

Các chuyên gia kinh tế hiện có quan điểm khác nhau về những điểm này. Quyết định của Fed phải cần thời gian để “kiểm chứng” với nền kinh tế, và một số người cảm thấy rằng thời điểm thích hợp để ngân hàng trung ương này ngăn chặn lạm phát đã qua. Họ lo lắng rằng việc giữ lãi suất ở mức thấp có thể làm cho các bong bóng tài sản nguy hiểm phình lên – chẳng hạn như giá nhà quá cao đã gây nên cuộc Đại suy thoái – hay Fed có thể tụt lại đằng sau một cách nguy hiểm trong nhiệm vụ chống lạm phát của mình.

“Họ sẽ phải bắt đầu nâng lãi suất. Hiện thị trường lao động trên cả nước trông có vẻ thật sự thắt chặt”, Steve Rick, chuyên gia kinh tế trưởng tại CUNA Mutual Group, nói.

“Fed có thể đang làm một việc rất quan trọng mà không thể thay đổi được sau này, từ việc đi từ một nền kinh tế ì ạch đến tăng trưởng quá nóng nếu họ không bắt đầu tăng lãi suất bây giờ. Lạm phát có thể sẽ đến nhanh hơn một chút so với chúng ta nghĩ với các điều kiện thắt chặt trên thị trường lao động”, Rick nói.

Tuy nhiên, những người khác tỏ ra không đồng ý. Trong một bài viết hôm thứ Tư của mình, Josh Bivens, chuyên gia của Viện Chính sách Kinh tế, đã gọi quyết định của Fed là “đáng thất vọng” nhưng “không đáng ngạc nhiên”.

“Quyết định tăng lãi suất hôm nay dường như báo hiệu rằng các nhà làm chính sách của Fed nghĩ chúng ta hiện đang ở mức, hoặc rất gần mức, tình trạng ‘việc làm đầy đủ’ và nếu không làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong những tháng tới thì sẽ sớm dẫn tới việc lương và lạm phát giá tăng tốc. Dĩ nhiên họ có thể đúng nhưng quan trọng là phải lưu ý rằng có ít dữ liệu kinh tế thật sự cho thấy điều này”, Bivens viết.

Một rủi ro trong việc hoãn tăng lãi suất là điều đó có thể bắt buộc Fed sau này phải tăng nhanh hơn để bù lại cho lạm phát, một hình thức thay đổi nhanh mà một số chuyên gia kinh tế tin rằng có thể gây bất ổn cho nền kinh tế. Chủ tịch Fed, bà Janet Yellen đã nhiều lần đề cập đến điều này như là một rủi ro mà Fed muốn tránh.

Tuy vậy, Kashkari và những người khác cho rằng nguy hiểm không nằm ở việc phải tăng lãi suất nhanh – mà là đang được đặt trong một tình huống mà lãi suất cao hơn mức những người đứng đầu ngân hàng trung ương mong muốn.

Ngân hàng trung ương có thể tăng lãi suất tương đối dễ dàng. Nhưng với lãi suất hiện tại rất gần với mức zero, thì không có nhiều cơ hội để cắt giảm lãi suất thêm nữa nhằm kích thích nền kinh tế - và đó có lẽ là một dấu hiệu đáng lo ngại trong môi trường toàn cầu, nơi mà giảm phát vẫn dường như đang che khuất lạm phát để trở thành một rủi ro lớn nhất./.

Lãi suất ở châu Á sẽ hết giảm sau khi Fed tăng lãi suất?

Lãi suất ở châu Á sẽ hết giảm sau khi Fed tăng lãi suất?

* Thị trường đang dịch chuyển như thể Fed vừa cắt giảm lãi suất

* Tại sao Chủ tịch Fed tin tưởng vào kinh tế Mỹ?

Chu kỳ lãi suất giảm kéo dài ở châu Á có thể sẽ chấm dứt khi lần tăng lãi suất thứ 3 trong vòng 15 tháng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được tiếp nối bằng động thái siết chặt tiền tệ ở nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới là Trung Quốc, Reuters đưa tin.

Lần tăng lãi suất 25 điểm cơ bản được nhiều người dự báo trước của Fed hôm thứ Tư vừa qua cũng mới chỉ là lần thứ 3 kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu của họ, sau nhiều lần kiềm chế những “cám dỗ” tăng lãi suất sớm hơn, do lo ngại rằng điều đó sẽ tác động lên các nền kinh tế mới nổi “dễ vỡ” đang vẫn cần các điều kiện tiền tệ nới lỏng hơn.

Tuy nhiên, Fed phát đi tín hiệu rằng sự dè dặt đó đã chấm dứt, khi lặp lại những dự báo của họ rằng ít nhất sẽ có 2 đợt tăng nữa trong năm nay khi nền kinh tế Mỹ mạnh lên.

“Ít nhất thì khát khao gia tăng tốc độ bình thường hóa chính sách của Fed đã làm thay đổi thái độ tại nhiều ngân hàng trung ương trên toàn cầu”, Sean Callow, chuyên gia kinh tế của Westpac ở Sydney, nói.

“Nới lỏng tiền tệ thêm nữa giờ đây phần lớn được xem là chỉ nên dùng đến khi ‘khẩn cấp’, chứ không phải là một biện pháp khả thi”.

Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) ngay lập tức đã nâng lãi suất cho các hoạt động cấp vốn ngắn hạn mà họ đang hướng dẫn cho các ngân hàng trong nước lên lần thứ 3 trong năm nay vào hôm thứ Năm.

Tuy vậy, động thái của Fed sẽ làm cho Trung Quốc khó ngăn được sự suy yếu của đồng Nhân dân tệ và hạn chế hoạt động chuyển vốn ra nước ngoài vẫn đang tiếp diễn. Trung Quốc cũng muốn giảm bớt đống nợ đang phình ra và rủi ro bong bóng bất động sản của mình.

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đã công bố quyết định trong cuộc họp chính sách của họ vào hôm thứ Năm. Theo đó, họ chọn cách giữ nguyên mục tiêu lãi suất ngắn hạn 0.1% của mình, kèm theo cam kết không mấy mạnh mẽ rằng sẽ tiếp tục mua trái phiếu, dù lạm phát lõi vẫn còn thấp hơn mục tiêu 2% đầy tham vọng của họ rất nhiều.

Một số chuyên gia phân tích hiện kỳ vọng rằng BoJ sẽ phải nâng mục tiêu lợi suất 0% của mình dành cho trái phiếu Chính phủ Nhật Bản kỳ hạn 10 năm.

Thách thức tiền tệ

Lộ trình chính sách mới của Fed là một thay đổi lớn cho các thị trường toàn cầu vốn đã quen với một thập kỷ tiền siêu rẻ. Và dù các thị trường mới nổi đang cho thấy một số dấu hiệu mạnh lên, với đà hồi phục của giá hàng hóa và tăng trưởng trong hoạt động xuất khẩu, nhưng họ đang phải vật lộn để làm tăng nhu cầu nội địa.

Nhưng sự tự do điều chỉnh lãi suất trong nước cho phù hợp với các tình trạng nhu cầu địa phương của họ lại đang bị kiềm hãm bởi một điều, đó là sự cần thiết phải giữ nguồn vốn nước ngoài từng tràn ngập ở đất nước của họ để tìm kiếm lợi suất cao hơn trong thời điểm lãi suất ở các nước phát triển đã chạm đáy. Thêm vào đó, họ cũng cần phải ngăn chặn đồng nội tệ của mình bị rớt giá so với một đồng USD đang tăng.

“Ngay cả nếu các điều kiện trong nước cho thấy cần phải giảm lãi suất, thì các nỗi sợ về sự biến động thị trường tài chính bị thổi phồng sẽ khiến cho các ngân hàng trung ương thận trọng. Đối với các ngân hàng trung ương mà hoặc là cần hoặc là muốn cắt giảm lãi suất, chắc chắn điều đó sẽ làm cho mọi chuyện phức tạp hơn”, Tim Condon, chuyên gia kinh tế trưởng phụ trách khu vực châu Á của ING, nói.

Condon đã kỳ vọng Ngân hàng Trung ương Indonesia giảm lãi suất 2 đợt trong năm nay, nhưng cho rằng giờ đây ông cảm thấy “lo lắng” về điều đó.

Các thị trường mới nổi đã có một cuộc tổng dợt đầy đủ cho những tình huống như thế trong năm 2013, khi đe dọa thắt chặt chính sách của Fed châm ngòi  cho một biến động mạnh, khiến các ngân hàng trung ương ở Ấn Độ, Indonesia và các nơi khác phải bảo vệ đồng nội tệ của mình thông qua việc nâng lãi suất.

Hàn Quốc cũng đang tham gia vào các áp lực cạnh tranh. Lãi suất chính sách của họ hiện chỉ cao hơn của Fed một chút. Họ không những muốn tránh gây bất ổn cho lĩnh vực nhà đất đang “nợ đầm đìa” của mình, mà còn muốn có một lượng tiền nước ngoài khổng lồ trong thị trường trái phiếu của mình để có thể “cất cánh” cho một tình huống tốt hơn.

Lần tăng lãi suất này của Fed không phải là thông tin duy nhất có thể khiến các ngân hàng trung ương cảm thấy cần phải củng cố vị thế của mình.

Các cuộc bầu cử ở Hà Lan, nơi đảng chống EU của Geert Wilders đạt được ít số ghế hơn mong đợi, đã khiến cho các thị trường thở phào nhẹ nhõm, mặc dù cuộc bầu cử Tổng thống ở Pháp vào tháng tới vẫn còn là mối hiểm họa lơ lửng trên đầu châu lục này, với ứng viên cực hữu từ đảng Mặt trận Dân tộc Marine Le Pen đang được ủng hộ mạnh mẽ.

Với Thụy Sỹ, sự bất ổn hiện có một tác động ngược lên đồng nội tệ vốn được xem là kênh trú ẩn an toàn của quốc gia này, khiến cho nó có giá cao hơn, cho dù họ đang áp dụng chính sách lãi suất âm.

Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ được kỳ vọng sẽ chưa thay đổi lãi suất trong thời gian tới. Chính sách lãi suất âm của họ, có hiệu lực từ năm 2015, đang nhắm vào mục tiêu ngăn cản nhu cầu dành cho đồng tiền này trong giai đoạn đầy những cuộc bầu cử bất ổn trên khắp châu Âu .

Ngân hàng Trung ương Na Uy, dù rất muốn bắt đầu tăng lãi suất, cũng có thể giữ nguyên mức lãi suất cũ, sau khi lạm phát ở nước này đột ngột giảm.

Tình thế lưỡng nan cho các ngân hàng trung ương thế giới là các thị trường do Fed dẫn dắt sẽ bắt buộc phải phản ứng, bất chấp các điều kiện trong nước của mình ra sao./.

Vào năm 2007, khi Lucy O’Carroll đang là chuyên gia kinh tế của một công ty tài chính thì tổ chức này bị “vướng” vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn tới sự sụp đổ của một số “ông lớn” ngành ...

Vào năm 2007, khi Lucy O’Carroll đang là chuyên gia kinh tế của một công ty tài chính thì tổ chức này bị “vướng” vào cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, dẫn tới sự sụp đổ của một số “ông lớn” ngành tài chính ở Phố Wall trong năm sau đó. Giờ đây, sau 10 năm nhìn lại, bà đã rút ra 3 bài học từ trải nghiệm đau thương nói trên, Barrons cho biết.

Thứ nhất, quan trọng là phải biết được sự khác nhau giữa một triệu chứng và một vấn đề. Từ tháng 8/2007, các ngân hàng luôn khăng khăng rằng họ có vấn đề về thanh khoản chứ không phải là về khả năng thanh toán. Họ lý luận rằng một khi thanh khoản được phục hồi thì mọi chuyện sẽ ổn.

Tuy nhiên, việc thiếu thanh khoản của các ngân hàng hóa ra chỉ là một triệu chứng, chứ không phải là một vấn đề. Các thị trường tài chính đã hoài nghi đúng về những mô hình cung cấp vốn và cách cho vay của các ngân hàng. Nhiều ngân hàng nghĩ rằng họ có thể không làm gì hiệu quả - ngoài việc tập trung vào lo cho các nhu cầu cung cấp vốn ngắn hạn của họ - và chờ cho tới khi những vấn đề đang đến kết thúc.

Hóa ra là họ không thể, và những ngân hàng không thể giải quyết được các vấn đề cơ bản hơn trong mô hình hoạt động – quá phụ thuộc vào các thị trường bán sỉ để có được vốn, và cấp vốn vay cho những dự án “có vấn đề” – đã thấy rằng cuối cùng họ phải đối mặt với những vấn đề về khả năng thanh toán. Tuy nhiên, đến giai đoạn đó thì mọi chuyện đã quá trễ cho một số ngân hàng và phải cần đến nhiều đợt bơm vốn lớn.

Vào thời điểm đó, quá ít người ở những vị trí cấp cao ngưng lại để tự hỏi liệu vấn đề thanh khoản ngắn hạn “rõ mười mươi” ấy có thật sự là triệu chứng của một điều gì đó thâm căn cố đế hơn không. Có lẽ họ quá sợ nên không thể đối mặt với câu trả lời.

Thứ hai, chỉ vì một điều rất tồi tệ chưa xảy ra, thì không có nghĩa rằng nó sẽ không đến. Trước cuộc khủng hoảng tài chính, mọi người thường nói đến các cú sốc mà những thị trường phát triển đã vượt qua được trong 10 – 15 năm trước đó mà không hề bỏ lỡ một nhịp tăng trưởng. “Thời kỳ ôn hòa vĩ đại” ấy, như nó vẫn được gọi, dường như đã làm giảm bớt mức độ nghiêm trọng của mọi thứ, từ bong bóng công nghệ, toàn cầu hóa cho đến đà tăng mạnh của giá năng lượng. Theo đó, người ta vẫn nghĩ rằng kinh tế toàn cầu có thể tiếp nhận bất kỳ sự biến động đột ngột nào một cách khá dễ dàng khi thị trường nhà đất Mỹ bắt đầu gặp khó khăn trong năm 2006.

Nhưng có quá ít xem xét kỹ lưỡng dành cho các mối liên kết giữa “Thời kỳ ôn hòa vĩ đại” và những xu hướng trước khi sụp đổ xảy ra trên thị trường nhà đất Mỹ. Cụ thể là, lãi suất thấp khi ấy đã khuyến khích đà tăng trưởng tín dụng khổng lồ và dẫn đến sự suy giảm chất lượng trong nhiều vụ cho vay ở Mỹ.

Cũng không có nhiều chất vấn xoay quanh sự quả quyết của các ngân hàng trung ương rằng họ không nên tác động quá mạnh nhằm hạn chế bong bóng tín dụng. Việc kiểm tra các kế hoạch kinh doanh và kinh tế trong tình huống có thể có căng thẳng kinh tế và tài chính lại không đủ mạnh. Bài học đã quá rõ ràng: Đừng dựa vào một giả định mà không kiểm tra lại một cách đúng đắn.

Cuối cùng, những người sống sót qua cơn khủng hoảng tài chính đều có một điều gì đó chung. Mỗi công ty mà Lucy O’Carroll tiếp xúc trong những giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng đã đưa ra lý do vì sao họ sống sót. Đáng buồn là, nhiều công ty lại không qua nổi. Nhưng những công ty mà vượt qua được thì trước đó đã duy trì đủ sự linh động để vượt qua được những thời khắc khó khăn.

Họ đã làm được điều đó bằng cách kết hợp việc lên kế hoạch thông minh, có những sản phẩm hay dịch vụ mạnh, nguồn cung vốn vững chắc và duy trì nợ đã có trước đó ở mức có thể quản lý được – cho dù điều gì có thể tiếp diễn ở một nơi nào đó khác trong lĩnh vực của họ đi nữa. Họ đã không chạy theo đối thủ cạnh tranh, không bị nợ rẻ “mời mọc” hay hoãn lại việc lên kế hoạch cho những khó khăn trong tương lai.

Nhưng, có lẽ hơn bất kỳ điều gì khác, chính sự ngạo mạn đã “hạ gục” chúng ta. Hãy cho rằng các cuộc khủng hoảng đã là chuyện quá khứ. Hay, không vì lý do thật sự nào, các cuộc khủng hoảng sẽ được kiểm soát. Hay, chỉ vì không có khả năng, hay không sẵn lòng hiểu được chính xác những gì đã xảy ra.

Vậy thì trong một thập kỷ tới, chúng ta sẽ an toàn hơn với những cuộc khủng hoảng tài chính? Việc rút ra các bài học về những gì đã xảy ra cách đây 10 năm có lẽ đã làm cho chúng ta an toàn hơn với một loại khủng hoảng tương tự. Nhưng lịch sử có khuynh hướng tương tự hơn là lặp lại: Cuộc khủng hoảng tài chính tiếp theo có lẽ sẽ khác, và sự ngạo mạn sẽ thể hiện theo một cách khác.

Việc rút kinh nghiệm từ những bài học này có thể góp phần trì hoãn cuộc khủng hoảng tiếp theo; có thể giảm bớt tác động của cuộc khủng hoảng tiếp theo, nhưng không thể bảo đảm rằng sẽ không có điều tồi tệ nào xảy ra nữa./.

It's me

Nhã Thanh

Tôi là giáo viên tiếng Anh, thích viết báo.

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán