Bài viết của Tuấn Kiệt

Việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) - hay còn gọi là Brexit - có nghĩa là một trong những nền kinh tế lớn nhất của khối này sẽ ngừng đóng góp vào ngân sách chung, CNBC cho hay.

Việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) - hay còn gọi là Brexit - có nghĩa là một trong những nền kinh tế lớn nhất của khối này sẽ ngừng đóng góp vào ngân sách chung, CNBC cho hay.

Điều này làm dấy lên các câu hỏi như: Anh tiếp tục đóng góp tiền vào ngân sách cho đến khi nào? Làm sao EU có thể khỏa lấp khoảng trống khi Anh chính thức ra đi?

 

Trước đó, Anh đã cho biết sẽ không chi trả 60 tỷ Euro (tương ứng 64.73 tỷ USD) để rời EU. Theo EU, đây là khoản tiền dùng để trả tiền lương hưu, tỷ trọng nợ của Anh trong tổng nợ của EU, và các hóa đơn chưa thanh toán.

Cùng lúc đó, một số thành viên EU cho biết họ không sẵn lòng đóng góp nhiều hơn vào ngân sách chung để bù đắp cho sự ra đi của Anh.

Sau đây, CNBC đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về tầm quan trọng của Anh đối với ngân sách của EU và liệu các quốc gia khác sẽ đối phó với việc này như thế nào.

Anh là một trong những thành viên đóng góp nhiều nhất cho ngân sách EU

Năm 2014, Anh là quốc gia đứng thứ 4 về lượng tiền đóng góp vào ngân sách EU, chỉ sau Đức, Pháp và Italy. Trong thời gian này, Anh đã đóng tổng cộng 11.34 tỷ Euro (tương ứng 12.24 tỷ USD) vào ngân sách trị giá 116.53 tỷ Euro của EU.

Qua năm 2015, mức đóng góp đã tăng lên 18.20 tỷ Euro trong tổng ngân sách 118.60 tỷ Euro.

“Anh là quốc gia đứng thứ 3 về khoản đóng góp vào ngân sách EU năm 2015, chỉ sau Đức và Pháp. Bên cạnh đó, Anh còn là quốc gia đứng thứ 6 về việc nhận chi tiêu từ EU”, một tài liệu được chuẩn bị cho các nhà lập pháp châu Âu cho thấy.

Vậy tiền của EU sẽ đổ vào đâu?

Anh đã sử dụng phần lớn các khoản tiền từ EU vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển khu vực.

Bên cạnh đó, lượng vốn của EU được sử dụng để chống lại khủng bố, thúc đẩy tạo việc làm và đóng góp cho các dự án ở các quốc gia ngoài EU. Sử dụng để trang trải cho các khoản chi phí hành chính của tất cả các tổ chức châu Âu, tiền lương hưu và các trường học dành cho con cái của các nhân viên EU.

Có bao nhiêu nhân viên Anh làm việc ở các tổ chức châu Âu?

“Giả định rằng lượng công dân vương quốc Anh trong các tổ chức của EU chiếm trung bình khoảng 4% trong tổng số 45,845 thì số nhân viên EU làm việc lâu dài và tạm thời mang quốc tịch Anh có thể ước tính ở mức 1,800, không bao gồm các đại lý hợp đồng, những người làm việc tự do, các nhà cung cấp dịch vụ, trợ lý MEP, các chuyên gia biệt phái”, tài liệu Quốc hội cho thấy.

Lượng tiền mà Anh phải trả để rời khỏi EU được các quan chức EU đề cập bao gồm cả chi phí để di dời các cơ sở của châu Âu có trụ sở tại Anh.

Bên cạnh 52 nhân viên thuộc Ủy ban châu Âu (EC) có trụ sở ở vương quốc Anh và 17 thành viên làm việc trong Quốc hội châu Âu trải dài từ Luân Đôn cho tới Edinburgh thì có 2 cơ quan EU cần phải được di dời: Đó là Cơ quan quản lý Dược phẩm châu Âu (EMA) và Cơ quan Quản lý Ngân hàng Châu Âu (EBA).

Khi nào thì Anh sẽ ngừng đóng góp vào ngân sách chung?

Đây là một trong những mối lo lắng lớn nhất xoay quanh các cuộc đàm phán về “Brexit”. Ngân sách EU được xây dựng dưa trên khung thời gian 7 năm - hay còn gọi là Khuôn khổ Tài chính nhiều thời kỳ (Multiannual Financial Framework).

Ngân sách gần nhất được thiết lập cho giai đoạn từ năm 2014-2020.

Theo dự kiến, Anh sẽ rời EU vào tháng 3/2019. Điều này cũng có nghĩa EU sẽ phải quyết định cách thức tổ chức ngân sách từ tháng 3/2019 đến cuối năm 2020.

Liệu các nước thành viên EU có phải đóng góp thêm?

EU cuối cùng đã cho thấy một số dấu hiệu phục hồi kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tuy nhiên, khoản đóng góp ngày càng gia tăng của các thành viên EU có thể là một bài toán vô cùng hóc búa.

Trong cuộc phỏng vấn vào tháng 2/2017, Günther Oettinger, Ủy viên phụ trách về ngân sách của EU, cho biết Đức và các quốc gia khác sẽ phải đóng góp thêm vào ngân sách chung khi Anh rời khỏi EU.

Bộ trưởng Ngoại giao Đức, Sigmar Gabriel, cho biết Đức nên đề nghị các nước thành viên đóng góp nhiều hơn vào ngân sách của EU.

Tuy nhiên, Jens Spahn, Thư ký của Bộ trưởng Tài chính Đức, cho hay không có cơ chế tự động nào buộc Đức và các quốc gia khác phải gia tăng khoản đóng góp của mình. Tại thời điểm đó (tháng 1/2017), ông cho rằng ngân sách EU sẽ phải thu hẹp lại vì Brexit.

Bộ trưởng Tài chính Đan Mạch, Kristian Jensen, cũng đưa ra quan điểm tương tự. Trong ngày thứ Ba, ông nói rằng Đan Mạch sẽ không đóng góp nhiều hơn vào ngân sách EU sau Brexit, ngân sách EU nên được cắt giảm bớt.

“Tại thời điểm này, tất cả chúng ta đều biết rằng Brexit sẽ dẫn tới việc cắt giảm nguồn thu trong ngân sách EU”, một quan chức ẩn danh của EU cho biết.

“Tuy nhiên không ai biết rằng liệu vấn đề này có thể được giải quyết thông qua việc gia tăng khoản đóng góp của các thành viên, tạo lập ra một nguồn thu mới, cắt giảm khoản chi tiêu của EU, hay là kết hợp cả 3 lựa chọn này”, ông nói thêm.

Người này còn cho rằng các thành viên của EU vẫn chưa chính thức đưa ra quan điểm của họ về ngân sách EU trong tương lai./.

Khi gặp mặt ở Kuwait vào ngày Chủ nhật tới, các nhà sản xuất trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) được kỳ vọng sẽ tỏ ra vui mừng về thỏa thuận cắt giảm sản lượng và họ nên hướng ...

Khi gặp mặt ở Kuwait vào ngày Chủ nhật tới, các nhà sản xuất trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) được kỳ vọng sẽ tỏ ra vui mừng về thỏa thuận cắt giảm sản lượng và họ nên hướng tới khả năng mở rộng thỏa thuận vào tháng 5/2017, CNBC cho hay. 

* OPEC có thể kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng 

Các nhà sản xuất ngoài OPEC chỉ tuân thủ 64% thỏa thuận cắt giảm sản lượng trong tháng 2

Điều này sẽ góp phần hỗ trợ giá dầu sau khi trượt dốc 10% trong thời gian gần đây vì nhà đầu tư bắt đầu nghi ngờ về thỏa thuận cắt giảm sản lượng vào đầu tháng 3/2017. Cụ thể, hợp đồng dầu Brent tương lai đã rớt mốc tâm lý quan trọng 50 USD/thùng trong tuần này.

Theo dự kiến, các đại diện của 5 quốc gia phụ trách giám sát sẽ xem xét lại mức độ tuân thủ thỏa thuận cắt giảm 1.8 triệu thùng/ngày của các quốc gia thành viên vào cuối tuần này. Với tư cách là Chủ tịch OPEC, Bộ trưởng Năng lượng Ả-rập Xê-út cũng sẽ tham dự cuộc họp cùng với đại diện từ 5 quốc gia thuộc ủy ban giám sát – gồm Kuwait, Algeria, Venezuela, Nga và Oman.

“Nếu không có thỏa thuận cắt giảm sản lượng, tôi nghĩ có thể đặt mục tiêu giá dầu nằm trong vùng từ 30-35 USD/thùng. Tâm trí tôi cứ lo lắng liệu họ có kéo dài thỏa thuận hay không”, Gene Marcial, Giám đốc nghiên cứu thị trường tại Tradition Energy, cho hay. “Ả-rập Xê-út cần nguồn thu từ giá dầu cao hơn. Họ biết khoảng giá từ 30-35 USD/thùng sẽ gây rắc rối lớn đến nguồn thu”.

Thỏa thuận được ký kết vào tháng 12/2016 giữa các nhà sản xuất trong và ngoài OPEC đã góp phần ổn định giá dầu trên mức 50 USD/thùng trong nhiều tuần qua. Cụ thể, khi thỏa thuận bắt đầu có hiệu lực vào đầu tháng 1/2017, giá dầu Brent đã vượt mức 58 USD/thùng và giá dầu thô ngọt nhẹ (WTI) thì ở mức 55 USD/thùng. Niềm tin vào thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã thu hút nhà đầu tư vào thị trường dầu. Kết quả là số lượng người đầu tư vào các hợp đồng dầu tương lai đã tăng lên mức kỷ lục.

* Mỹ đang “ăn” miếng bánh thị phần dầu của OPEC

OPEC chuẩn bị đối đầu với các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ?

Tuy nhiên, vào đầu tháng 3/2017, các nhà sản xuất dầu ở Mỹ, vốn bị thu hút bởi giá dầu ổn định hơn, đã trở lại thị trường và tiếp tục gia tăng sản lượng của mình. Trong đó, sản lượng dầu của Mỹ hiện đang ở mức 500 thùng/ngày, qua đó làm dấy lên lo ngại về tinh trạng dư cung. Cũng chính tình trạng dư cung đã đè nặng lên tâm lý nhà đầu tư và khiến họ nghi ngờ về thỏa thuận giữa các nhà sản xuất. Mối nghi ngờ ngày càng dâng cao khi Bộ trưởng Năng lượng Ả-rập Xê-út nhấn mạnh một lần nữa rằng vương quốc này sẽ không gánh vác trách nhiệm về các đợt cắt giảm sản lượng nếu các nhà sản xuất khác không tuân thủ theo thỏa thuận. Các nhận định của ông Al-Falih được đưa ra tại hội nghị năng lượng CERAWeek ở Houston. Và cũng tại cuộc họp này, Bộ trưởng Năng lượng Iraq tiết lộ rằng quốc gia đang hướng tới mục tiêu sản lượng 5 triệu thùng vào giữa năm 2017, qua đó cho thấy dấu hiệu họ đang gia tăng sản lượng.

“Ả-rập Xê-út rõ ràng đã truyền tải thông điệp mạnh mẽ rằng họ sẽ không thực hiện điều này một mình, và họ cũng không là nhà sản xuất chi phối (swing producer) và tạo cơ hội cho những nhà xuất khẩu khác. Đây là một sự khẳng định lại vị thế của Ả-rập Xê-út. Họ đang đóng vai trò ổn định thị trường nhưng họ không muốn đóng vai trò của swing producer”, Daniel Yergin, Phó Chủ tịch của IHS Markit và là nhà tài trợ của hội nghị CERAWeek vào đầu tháng 3/2017.

Đối với cuộc họp vào ngày Chủ nhật này, “tôi kỳ vọng họ sẽ khẳng định lại vị thế và cho thấy mức độ tuân thủ cao”, ông Yergin cho biết.

Góp phần ủng hộ cho OPEC, các nhà phân tích đã đưa ra một sự thật là mức độ tuân thủ của các nhà sản xuất trong và ngoài OPEC dường như tốt hơn dự báo rất nhiều. OPEC không cho thấy tình trạng dư cung quá mức như trong quá khứ.

“Đối nghịch hoàn toàn với các thỏa thuận trước đó, mức độ tuân thủ đang rất cao. Đây rõ ràng là yếu tố đẩy giá dầu lên cao vào đầu năm 2017”, ông Yergin chia sẻ. “Sự thay đổi trong tâm lý nhà đầu tư là khá rõ ràng”.

Helima Croft, Trưởng bộ phận chiến lược hàng hóa toàn cầu tại RBC, đồng ý rằng mức độ tuân thủ thỏa thuận rất cao, sau khi lo ngại về các quốc gia như Iraq, và thậm chí Nga sẽ không tuân thủ hoàn toàn thỏa thuận cắt giảm sản lượng. Theo nguồn tin từ Reuters, Ả-rập Xê-út dự định giữ nguồn cung theo đúng hạn ngạch ở mức 10 triệu thùng/ngày cho dù có xảy ra điều gì với sản lượng dầu đi chăng nữa.

“Tôi nghĩ Iraq sẽ là chủ đề của cuộc bàn luận và liệu sẽ có bất kỳ động thái mềm dẻo nào dành cho Iraq. Liệu bạn có thể buộc họ cắt giảm 210,000 thùng hay không?”, bà Croft cho biết. Tuy nhiên, bà hy vọng ủy ban giám sát mức độ tuân thủ sẽ ủng hộ thỏa thuận và quyết định mở rộng thỏa thuận này tại cuộc họp tháng 5/2017 của OPEC. Trong khi đó, Kuwait đã cho thấy dấu hiệu quốc gia này muốn kéo dài thỏa thuận.

“Chúng tôi đi từ những cuộc thảo luận nảy lửa về việc liệu OPEC có gian lận hay không và họ có cùng nhau thực hiện hay không, cho đến việc xem xét lại những gì OPEC đã thực hiện cho đến nay. Rõ ràng mọi thứ đang tiến triển rất tốt đẹp”, bà cho biết.

Bà Croft cho rằng việc tái cân bằng nguồn cung toàn cầu đang diễn ra, bất chấp việc dự trữ dầu tại Mỹ tiếp tục tăng cao. Thật vậy, nguồn cung dầu ở Mỹ đã tăng lên mức kỷ lục 533.1 triệu thùng/ngày trong tuần trước. Ngoài ra, Mỹ còn sản xuất 9.1 triệu thùng/ngày.

“Mọi người dường như đang hướng mắt về phía Mỹ… Tuy nhiên, nếu xem xét các quốc gia bên ngoài nước Mỹ như Nhật Bản thì sẽ nhận ra là đang có sự tái cân bằng trong thị trường cung cầu”, bà cho biết.

Bà Croft nghĩ rằng nhà lãnh đạo của các quốc gia sản xuất dầu sẽ có động lực để đồng ý nới rộng thỏa thuận cắt giảm sản lượng do các mối lo ngại về nguồn thu của nước họ. “Liệu họ có thực sự muốn giá dầu rơi xuống vùng 30-39 USD/thùng?”, bà nói thêm.

Ngoài ra, bà hy vọng Tổng Thư ký OPEC Mohammad Sanusi Barkindo sẽ khẳng định lại tinh thần hợp tác giữa các nhà sản xuất sau cuộc họp vào cuối tuần này. “Barkindo rõ ràng ý thức được thị trường dầu đang ở đâu vào lúc này, và bất kỳ các dấu hiệu không tuân thủ thỏa thuận ở OPEC nào cũng sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý nhà đầu tư. Ông ấy biết rõ điều đó”, bà nói rõ.

Một số nhà phân tích đang hạ thấp kỳ vọng giá vì nguồn cung dầu lên mức quá cao. Trong ngày thứ Năm, JPMorgan đã hạ dự báo giá trong 6 tháng cuối năm 2017, đồng thời hạ mục tiêu giá dầu trong năm 2017 xuống 55.75 USD/thùng đối với dầu Brent, thấp hơn dự báo trước đó là 58.75 USD/thùng. Ngoài ra, tổ chức này còn hạ dự báo giá dầu Brent năm 2018 từ 60 USD/thùng xuống chỉ còn 55.60 USD/thùng.

Ông Yergin cho biết đà sụt giảm của giá dầu có thể tác động nặng nề đến các nhà sản xuất. “Điều này chắc chắn sẽ dẫn đến suy nghĩ khác về hoạt động khoan dầu trong 6 tháng cuối năm 2017”, ông cho hay./.

Kể từ khi nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett nắm quyền kiểm soát tập đoàn Berkshire Hathaway cách đây 52 năm về trước, cổ phiếu của công ty này đã có thành quả gấp 155 lần so với chỉ số S&P 500, ...

Kể từ khi nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett nắm quyền kiểm soát tập đoàn Berkshire Hathaway cách đây 52 năm về trước, cổ phiếu của công ty này đã có thành quả gấp 155 lần so với chỉ số S&P 500, ngay cả khi tính tới lượng cổ tức do các cổ phiếu trong S&P tạo ra.

* Làm sao để đầu tư như Warren Buffett?

* Vì sao Warren Buffett vi phạm nguyên tắc đầu tư hàng đầu của mình?

Giám đốc điều hành của Berkshire Hathaway Warren Buffett

Sau đây, Business Insider đã ghi nhận một số thông tin chi tiết về thành quả của Berkshire Hathaway, bằng cách nào mà ông Buffett có thể đem lại thành quả cao đến thế, và nhà đầu tư nên kỳ vọng điều gì trong tương lai?

Thành quả của tập đoàn Berkshire Hathaway kể từ năm 1965

Lịch sử thành quả của tập đoàn Berkshire Hathaway có lẽ là ví dụ thực tế tốt nhất về sức mạnh của việc tích lũy lợi nhuận.

Kể từ năm 1965, chỉ số S&P 500 đã đem lại tỷ suất sinh lợi bình quân hàng năm ở mức 9.7%, bao gồm cả cổ tức. Trong cùng giai đoạn đó, cổ phiếu Berkshire Hathaway đã tạo tỷ suất sinh lợi bình quân đến 20.8% mỗi năm, gấp đôi thành quả của S&P 500. Nói cách khác, nếu bạn đầu tư 10,000 USD vào quỹ chỉ số S&P 500 tại bất kỳ thời điểm nào trong 50 năm qua thì khoản đầu tư đó sẽ tăng lên 10,970 USD sau 1 năm (tính bình quân). Còn nếu đầu tư vào Berkshire Hathaway thì khoản đầu tư đó sẽ tăng lên 12,080 USD.

Trong vòng 52 năm, khoản đầu tư 10,000 USD vào quỹ chỉ số S&P 500 sẽ tăng lên 1.28 triệu USD. Khá ấn tượng, nhưng chẳng là gì khi bạn xem xét cùng khoản đầu tư 10,000 USD vào Berkshire Hathaway thì sẽ tăng lên hơn 197 triệu USD, gấp 155 lần.

Đây là sức mạnh của việc duy trì liên tục thành quả vượt trội trong nhiều năm liền và cũng là lý do chủ yếu giúp Warren Buffett trở thành một trong những người giàu nhất thế giới hiện nay.

Tại sao Warren Buffett làm tốt đến như thế?

Có lẽ, phần tuyệt vời nhất của câu chuyện là ông Buffett và cộng sự đã không sử dụng bất kỳ chiến lược đầu tư phức tạp nào để mang lại những thành quả trên. Động lực mang lại thành quả tuyệt vời đó có thể xuất phát từ một vài nguyên tắc cơ bản, đã hình thành nên chiến lược tăng trưởng của tập đoàn Berkshire Hathaway.

  • Liên tục cải thiện khả năng tạo thu nhập của các công ty con qua từng năm.
  • Berkshire Hathaway cực kỳ thành công về vấn đề này, bằng chứng là giá trị sổ sách trên mỗi cổ phần (BVPS) của công ty chỉ sụt giảm 2 lần trong 52 năm.
  • Củng cố thêm lợi nhuận thông qua các thương vụ bolt-on acquisitions (*).
  • Tạo ra lợi ích từ tốc độ tăng trưởng đầu tư của công ty.
  • Mua cổ phiếu quỹ khi giá cổ phiếu trên thị trường thấp hơn đáng kể so với giá trị sổ sách.
  • Thỉnh thoảng thực hiện các thương vụ thâu tóm lớn.

Thành quả của Berkshire Hathaway trong 50 năm kế tiếp sẽ không được như 50 năm đầu hoạt động

Đây là những gì nhà đầu tư huyền thoại đã nhận định trong lá thư gửi đến cổ đông trong năm 2014. Cụ thể, ông Warren Buffett đã nói về quá khứ, hiện tại và tương lai của Berkshire Hathaway.

Về cơ bản, Berkshire Hathaway đã tăng trưởng quá lớn và không thể nào duy trì được thành quả ấn tượng này trong một khoảng thời gian dài. Thật vậy, nếu giá cổ phiếu của Berkshire tăng trưởng ở mức 20.8% liên tục trong 50 năm kế tiếp, thì giá trị vốn hóa thị trường của công ty sẽ là 7,400 ngàn tỷ USD. Điều này là bất khả thi. Con số này gấp 30 lần tổng tài sản của tất cả mọi người trên thế giới.

Tuy nhiên, bằng cách sử dụng chiến lược mà ông đã áp dụng trong hơn 50 năm qua, ông Warren Buffett tin rằng trong dài hạn, Berkshire Hathaway vẫn có thể đánh bại thị trường ở mức chênh lệch khá lớn.

----------------------------------------------

(*) Bolt-on acquisitions là những thương vụ thâu tóm các công ty trong cùng lĩnh vực hoặc cùng thị trường hoạt động nhằm mở rộng thị phần hoặc mở rộng sản phẩm.

Thủ tướng Đức, Angela Merkel, và Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe, đã kêu gọi thương mại tự do tại một hội chợ triển lãm lớn về công nghệ vào ngày Chủ nhật, và rõ ràng là nhắm vào chủ nghĩa bảo hộ ...

Thủ tướng Đức, Angela Merkel, và Thủ tướng Nhật Bản, Shinzo Abe, đã kêu gọi thương mại tự do tại một hội chợ triển lãm lớn về công nghệ vào ngày Chủ nhật, và rõ ràng là nhắm vào chủ nghĩa bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng ở Mỹ, Reuters cho hay.

Cả 2 đều kêu gọi nhanh chóng tiến tới một hiệp định thương mại tự do giữa Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU) sau khi các Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc ngân hàng trung ương từ các quốc gia thuộc G20 đã từ bỏ cam kết về thương mại tự do sau cuộc họp 2 ngày ở Đức.

* Donald Trump thắng thế: G20 từ bỏ cam kết chống lại bảo hộ thương mại

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe (bên trái) và Thủ tướng Đức Angela Merkel (bên phải) 

Dù không đề cập đến Chính phủ Mỹ khi cả hai phát biểu tại hội chợ công nghệ CeBIT ở Hanover, nhưng họ đều tận dụng cơ hội này để tránh xa khỏi xu hướng bảo hộ thương mại (protectionist) đến từ chính quyền Donald Trump.

“Trong thời đại mà chúng ta phải tranh cãi với nhiều người về thương mại tự do, mở cửa biên giới và giá trị dân chủ, thì đây là dấu hiệu tốt khi Nhật Bản và Đức không còn tranh cãi về những vấn đề này, mà thay vào đó là tìm cách định hình tương lai theo hướng có lợi cho người dân”, bà Merkel cho biết.

Với tư cách là Chủ tịch nhóm G20, Đức cảm thấy cần phải tuân thủ theo các nguyên tắc đó, bà nói thêm.

Sau cuộc họp đầu tiên với Tổng thống Mỹ Donald Trump ở Washington vào ngày thứ Sáu, bà Merkel cho biết bà hy vọng Mỹ và EU có thể tiếp tục bàn luận về một thỏa thuận thương mại. Ông Trump cho biết ông không tin tưởng vào chủ nghĩa biệt lập (isolationism) nhưng lại cho rằng chính sách thương mại cần phải công bằng hơn.

Bà Merkel nhấn mạnh Đức cực kỳ ủng hộ thương mại tự do và mở cửa thị trường.

“Dĩ nhiên, chúng tôi không muốn áp đặt hàng rào thương mại, nhưng trong thời đại phát triển mạng lưới Internet, chúng tôi muốn kết nối các xã hội với nhau và để họ giao thương công bằng với một quốc gia khác, và đó chính là mục đích của thương mại tự do”, bà cho biết.

Cũng phát biểu tại hội chợ trên, ông Abe cho rằng: “Vốn đã hưởng rất nhiều lợi ích từ hoạt động tự do thương mại và đầu tư, Nhật Bản muốn trở thành quốc gia ủng hộ hàng đầu về việc mở cửa thị trường cùng với Đức”.

Bên cạnh đó, ông còn cho biết EU và Nhật Bản nên sớm tiến tới một thỏa thuận kinh tế. Đáp lại nhận định của ông Abe, bà Merkel tỏ ra vui mừng, đồng thời cho biết: “Điều này thật là tuyệt vời khi Nhật Bản muốn có một hiệp định thương mại tự do, chúng tôi muốn sớm tiến tới thỏa thuận bởi vì đó có thể là một tuyên bố đúng đắn và Đức muốn trở thành động lực thúc đẩy quá trình này”.

Chủ tịch Ủy Ban châu Âu (EC), Jean-Claude Juncker, cho biết ông rất sẵn lòng gặp gỡ ông Shinzo Abe, vào ngày thứ Ba, đồng thời nói thêm EU muốn tiến tới một hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản trong năm nay./.

Liệu đây là có phải là khởi đầu của cuộc chiến thứ 2 giữa OPEC và các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ?

Liệu đây là có phải là khởi đầu của cuộc chiến thứ 2 giữa OPEC và các nhà sản xuất dầu đá phiến ở Mỹ?

Theo CNNMoney, một báo cáo mới từ Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) cho thấy tổ chức này tiếp tục cắt giảm sản lượng trong tháng 2/2017 khi các thành viên tuân thủ theo thỏa thuận cắt giảm sản lượng. Trong khi đó, giá dầu cao hơn đã thu hút các nhà sản xuất dầu từ đá phiến của Mỹ trở lại thị trường.

Cụ thể, báo cáo định kỳ của OPEC cho thấy sản lượng của tổ chức đã giảm 139,500 thùng trong tháng 2/2017. Trong đó, quốc gia đứng đầu OPEC, Ả-rập Xê-út, đã cắt giảm 68,000 thùng/ngày.

Lần đầu tiên kể từ năm 2015, tổng sản lượng dầu của OPEC đã rớt mốc 32 triệu thùng/ngày, thấp hơn mức cam kết cắt giảm của OPEC khoảng 500,000 thùng/ngày.

Được biết, các nhà sản xuất trong và ngoài OPEC đã tiến tới thỏa thuận cắt giảm sản lượng nhằm hỗ trợ giá dầu bằng cách hạn chế nguồn cung dầu. Thỏa thuận này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Những tháng gần đây, giá dầu tăng cao đã góp phần thu hút các nhà sản xuất dầu từ đá phiến ở Mỹ trở lại thị trường và một số thành viên của OPEC tiếp tục bơm dầu nhiều hơn hạn ngạch đề ra. Đây là những lý do khiến nhà đầu tư nghĩ rằng thỏa thuận này đang rơi vào tình thế nguy cấp.

* Mỹ phát hiện lượng dầu trên lục địa lớn nhất trong 30 năm

* EIA: Sản lượng dầu ở Mỹ sẽ phá kỷ lục vào năm 2018

Trong tháng 2/2017, sản lượng dầu thô ở Mỹ đã tăng trưởng ổn định, vượt hơn 9 triệu thùng/ngày, dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA) cho thấy. Số lượng giàn khoan dầu đang hoạt động ở Mỹ cũng gần như tăng gấp đôi so với thời điểm tháng 5/2016.

Chính đà tăng mạnh của sản lượng dầu từ đá phiến sẽ đặt OPEC vào tình thế vô cùng khó khăn.

OPEC có thể áp dụng lại chiến lược trong năm 2014 và phá bỏ các hạn ngạch về sản lượng. Điều này sẽ tác động tiêu cực đến giá dầu và khiến hoạt động sản xuất dầu từ đá phiến ở Mỹ thất thu, đồng thời cũng có khả năng làm giảm mạnh doanh thu của các quốc gia lệ thuộc vào dầu. 

Đối với OPEC, cách thức giải quyết hợp lý hơn có lẽ là tiếp tục cắt giảm sản lượng để xoa dịu tình trạng dư cung trên thị trường dầu. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là OPEC phải thuyết phục Iran và Iraq giảm bớt sản lượng vào thời điểm mà họ không muốn làm vậy.

Chính những nghi ngờ về thỏa thuận cắt giảm sản lượng đã khiến giá dầu sụt giảm rất mạnh. Chỉ mới đây thôi, các hợp đồng dầu trong tương lai đã rớt mốc 50 USD/thùng lần đầu tiên kể từ tháng 12/2016. Chưa dừng lại ở đó, giá dầu tiếp tục giảm 2.2% xuống mức gần 47.30 USD/thùng trong ngày thứ Ba (14/03)./.

Vào sáng ngày thứ Năm giờ Việt Nam, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã quyết định nâng lãi suất thêm 0.25% sau cuộc họp 2 ngày, CNBC cho hay.

[Bài cập nhật] 

Fed vẫn giữ nguyên dự định nâng lãi suất 3 lần trong năm nay 

Vào sáng ngày thứ Năm giờ Việt Nam, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã quyết định nâng lãi suất thêm 0.25% sau cuộc họp 2 ngày, CNBC cho hay.

Cụ thể, Fed đã nâng lãi suất quỹ liên bang thêm 0.25% lên 0.75%-1%, đồng thời báo hiệu Fed có thể nâng lãi suất thường xuyên hơn trong tương lai.

Mặc dù đã được dự báo từ trước, nhưng thông tin về đợt nâng lãi suất vẫn đẩy lợi suất trái phiếu Chính phủ giảm sút, trong khi các chỉ số chính trên thị trường chứng khoán lại tăng cao.

Nhà đầu tư đang tìm kiếm các thông tin về lộ trình nâng lãi suất của Fed trong tương lai. Hiện thị trường kỳ vọng Fed sẽ nâng lãi suất thêm 2 lần nữa trong năm nay theo đúng như dự báo của ngân hàng này hồi tháng 12/2016. Và trong ngày thứ Tư, Fed vẫn giữ nguyên ý định nâng lãi suất 3 lần trong năm nay.

Ngoài ra, tại cuộc họp tháng 3/2017, các quan chức Fed đã giữ nguyên dự báo GDP trong năm 2017 ở mức 2.1%, nhưng lại nâng dự báo GDP trong năm 2018 lên 2.1%. Trong khi đó, ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn vẫn ở mức 1.8%.

Được biết, Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) đã giữ lãi suất mục tiêu ở gần mức 0 trong suốt thời gian khủng hoảng kinh tế và chỉ mới bắt đầu bình thường hóa lãi suất trong tháng 12/2015.

Đợt nâng lãi suất trong tuần này diễn ra khi nhà đầu tư hy vọng các chính sách tài khóa dưới thời Donald Trump sẽ cho phép Fed nhượng lại vai trò thúc đẩy kinh tế cho Quốc hội Mỹ cũng như Nhà Trắng.

Mặc dù các dữ liệu kinh tế quan trọng rơi vào trạng thái trái chiều, nhưng nhà đầu tư vẫn tin rằng nền kinh tế Mỹ chuẩn bị tăng trưởng mạnh hơn. Tất cả các doanh nghiệp, người tiêu dùng và chuyên gia đều tin rằng quãng thời gian tươi đẹp đang ở phía trước.

Nhà đầu tư đã tăng kỳ vọng nâng lãi suất tại cuộc họp ngày 14-15/03 (giờ địa phương) từ mức xác suất thấp lên mức gần như chắc chắn chỉ trong vòng vài tuần. Vậy điều gì đã thuyết phục nhà đầu tư trên ...

* Nhận định từ các quan chức của Fed khiến thị trường tin tưởng lãi suất sẽ tăng vào tháng 3 này

Nhà đầu tư đã tăng kỳ vọng nâng lãi suất tại cuộc họp ngày 14-15/03 (giờ địa phương) từ mức xác suất thấp lên mức gần như chắc chắn chỉ trong vòng vài tuần. Vậy điều gì đã thuyết phục nhà đầu tư trên thị trường thay đổi quan điểm của mình?

Trên thực tế, sự thay đổi về kỳ vọng nâng lãi suất diễn ra sau khi các quan chức chủ chốt của Fed đưa ra các nhận định mang tính “chủ chiến”, qua đó thu hút thị trường vào ý kiến Fed sẽ nâng lãi suất trong tháng này.

Dưới đây là biểu đồ cho thấy dòng thời gian của các sự kiện đã thuyết phục những người theo dõi chính sách tiền tệ rằng ngày 15/03 sẽ là ngày Fed nâng lãi suất lần đầu tiên trong năm 2017.

Ngày 14/02: Janet Yellen điều trần trước Ủy Ban Ngân hàng Thượng viện

Phát biểu trước Ủy ban Ngân hàng Thượng viện (SBC), Chủ tịch Janet Yellen đã nhấn mạnh rằng việc chờ đợi quá lâu để nâng lãi suất là không khôn ngoan, và Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) sẽ đánh giá lại lộ trình nâng lãi suất tại các cuộc họp tiếp theo, đồng thời lưu ý rằng cơ quan này có khả năng điều chỉnh lãi suất nếu nền kinh tế đi đúng định hướng đề ra.

Ngày 15/02: William Dudley và Janet Yellen phát biểu, chỉ số CPI tăng cao

Bà Yellen đã có buổi điều trần trước Ủy ban dịch vụ tài chính Hạ viện vào ngày 15/02.

Bên cạnh đó, cả ông William Dudley - Chủ tịch Fed khu vực New York và ông Patrick Harker - Chủ tịch Fed khu vực Philadelphia cũng đưa ra các nhận định của mình. Cụ thể, ông Dudley cho biết nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh hơn dự kiến và Fed có khả năng sẽ nâng lãi suất vào những tháng tới. Trong khi đó, ông Harker cho biết việc nâng lãi suất 3 lần trong năm 2017 là hợp lý.

Ngoài ra, chỉ số giá tiêu dùng CPI cũng tăng mạnh hơn dự báo của các chuyên gia kinh tế.

Ngày 22/02: Fed công bố biên bản họp tháng 2

Biên bản họp tháng 2/2017 của Fed đưa ra lập trường khá trung lập.

Ngày 28/02: Robert Kaplan, Patrick Harker, John Williams và William Dudley nói về khả năng nâng lãi suất

Chủ tịch Fed khu vực Dallas, Robert Kaplan, cho biết rằng các nhà hoạch định chính sách của Fed nên bắt đầu thắt chặt chính sách và thị trường cũng theo đó mà điều chỉnh kỳ vọng nâng lãi suất.

Cùng ngày, Chủ tịch Fed khu vực Francisco, John Williams, mong đợi sẽ có một đợt nâng lãi suất trong tháng 3/2017.

Trong khi đó, ông Harker nhấn mạnh lại quyết định nâng lãi suất 3 lần trong năm nay, còn ông Dudley thì cho rằng khả năng nâng lãi suất trở nên “hấp dẫn hơn nhiều”.

Ngày 01/03: Lael Brainard chuyển sang quan điểm “nên nâng lãi suất”

Thậm chí một người khá nổi tiếng vì những quan điểm thận trọng như Thống đốc Fed, Lael Brainard, cũng cho rằng một đợt nâng lãi suất sẽ sớm xảy ra. Để minh chứng cho lời nói của mình, bà đã chỉ ra lạm phát dần tiến về mức lạm phát mục tiêu 2% và thị trường lao động dao động gần mức toàn dụng nhân công.

Ngày 03/03: Janet Yellen củng cố kỳ vọng nâng lãi suất

Tại buổi diễn thuyết ở Chicago, bà Janet Yellen tuyên bố rằng FOMC sẽ đánh giá xem liệu thị trường việc làm và lạm phát có diễn ra đúng với kỳ vọng hay không, nếu có thì việc nâng lãi suất tại cuộc họp tháng 3/2017 sẽ là hợp lý.

Ngày 10/03: Báo cáo việc làm lạc quan hơn dự báo

Báo cáo từ Bộ Lao động Mỹ cho thấy nền kinh tế có thêm 235,000 việc làm trong tháng 2/2017, cao hơn dự báo của các chuyên gia kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống 4.7% trong khi tiền lương tăng cao.

Chính báo cáo việc làm lạc quan đã góp phần củng cố quan điểm cho rằng Fed sẽ nâng lãi suất thêm 0.25% sau cuộc họp 14-15/03/2017./.

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ dường như đã đánh thức “tâm lý bầy đàn” (animal spirits) trên Phố Wall, nhưng những nhà đầu tư giá xuống vẫn trong trạng thái ngủ yên, CNNMoney cho hay.

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ dường như đã đánh thức “tâm lý bầy đàn” (animal spirits) trên Phố Wall, nhưng những nhà đầu tư giá xuống vẫn trong trạng thái ngủ yên, CNNMoney cho hay.

Ngày thứ Hai (13/03) đã đánh dấu phiên thứ 104 liên tiếp chứng khoán Mỹ không sụt giảm quá 1% đối với cả Dow Jones và S&P 500, chuỗi dài nhất kể từ tháng 9/1993 đối với Dow Jones và từ tháng 12/1995 đối với S&P 500, dữ liệu từ LPL Financial cho thấy.

Được biết, kể từ ngày bầu cử, S&P 500 đã nhảy vọt 11% và Dow Jones leo dốc hơn 2,500 điểm, đồng thời vượt qua 2 cột mốc tâm lý quan trọng là 20,000 và 21,000.

Dường như, những nhà đầu tư giá xuống (the bears) đã hoàn toàn biến mất. Lần gần nhất mà thị trường sụt giảm 1% diễn ra vào ngày 11/10/2016, gần 1 tháng trước khi Donald Trump thắng cử Tổng thống Mỹ.

“Tình trạng biến động nhẹ mà chúng ta đã chứng kiến trong vài tháng vừa qua thực sự rất ấn tượng”, Ryan Detrick, Chiến lược gia thị trường cấp cao tại LPL, cho hay.

Tuy nhiên, giai đoạn ổn định của Phố Wall trong năm nay thì lại hoàn toàn đối lập với tình trạng căng thẳng trong năm 2016. Vào thời điểm này năm ngoái, S&P 500 đã trải qua 15 phiên sụt giảm hơn 1%. Đáng chú ý hơn, trong 5 phiên giao dịch đầu tiên của năm 2016 thì đã có tới 4 phiên giảm hơn 1%. Chưa dừng lại ở đó, có đến 3 lần lao dốc hơn 2% khi nhà đầu tư hoảng hồn vì đà trượt dốc của giá dầu cũng như sự giảm tốc của nền kinh tế Trung Quốc.

Dĩ nhiên, tâm lý lạc quan của thị trường ở mức rất cao trong giai đoạn này. Cụ thể, chỉ số Tham lam và Sợ hãi (Fear & Greed Index) vừa chạm mức “tham lam” và có lúc chỉ số này đã lên mức “cực kỳ tham lam”.

Cả Giám đốc điều hành của JPMorgan Chase, Jamie Dimon, và Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) khu vực New York, Bill Dudley, đã chia sẻ trong thời gian gần đây rằng chính cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ đã đánh thức “tâm lý bầy đàn” của giới đầu tư. Họ đã đề cập đến một thuật ngữ phổ biến bởi chuyên gia kinh tế John Maynard Keynes nhằm mô tả sự thôi thúc của con người để hành động tích cực, ngay cả khi đối mặt với sự không chắc chắn.

Rõ ràng, Phố Wall tỏ ra rất phấn khích bởi các lời cam kết cắt giảm thuế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Donald Trump. Ngoài ra, nhóm cổ phiếu ngân hàng đã nhảy vọt nhờ vào kỳ vọng Fed sẽ nâng lãi suất nhanh hơn và cả cam kết nới lỏng quy định của ông Trump.

Mặc dù thị trường chứng khoán Mỹ đã có một số phiên tăng điểm đáng chú ý, nhưng vẫn chưa đến mức quá mãnh liệt. Trên thực tế, ngày thứ Hai (13/03) đã đánh dấu 59 phiên liên tiếp S&P 500 biến động thấp hơn 1% ở cả hai chiều. Đối với S&P 500, đây được xem là chuỗi phiên biến động dưới 1% dài nhất trong lịch sử kể từ năm 1995, dữ liệu từ LPL cho thấy.

Một số nhà đầu tư tin rằng mức độ biến động thấp của thị trường là một dấu hiệu cho thấy nhà đầu tư đã trở nên quá tự tin và chưa tính toán đầy đủ các rủi ro đang tồn tại.

“Tâm lý tự mãn đang dao động ở mức cao, trong khi mức độ lo lắng dường như ở mức cực thấp”, Terry Sandven, Trưởng Bộ phận Chiến lược cổ phiếu tại U.S. Bank Wealth Management, cho hay.

Một yếu tố có khả năng cản trở đà tăng trên thị trường là sự thiếu rõ ràng về thời điểm cũng như quy mô của các biện pháp kích thích từ Donald Trump.

Trước đó, Nhà Trắng đã cam kết cắt giảm thuế suất vào tháng 8/2017. Tuy nhiên, họ có thể lùi thời gian thực hiện cam kết này do các vấn đề liên quan đến việc bãi bỏ và thay thế Obamacare.

“Cải cách thuế càng sớm thì càng tốt”, Glenn Hubbard, cựu chuyên gia kinh tế hàng đầu dưới thời Tổng thống George W. Bush, cho hay.

Sandven lên tiếng cảnh báo việc trì hoãn chương trình kích thích tăng trưởng có khả năng trở thành một yếu tố ngăn cản đà tăng của giá chứng khoán và cũng có thể là chất xúc tác cho sự sụt giảm.

Ngoài ra, vẫn còn đó một vấn đề khác cần phải lưu ý. Đó là chứng khoán đang trở nên đắt đỏ hơn. S&P 500 hiện đang giao dịch ở mức P/E là 17.9 lần, mức định giá cao nhất kể từ năm 2004, dữ liệu từ FactSet cho thấy./.

Việc cổ phiếu NVL (Novaland) lọt vào danh mục VNM ETF quả thật là một bất ngờ lớn, nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia chứng khoán. Cổ phiếu bất động sản này chỉ vừa mới giao dịch trên sàn HOSE từ ...

[Bài cập nhật]

Tổng tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam giảm còn 73.32% 

NVL được thêm vào danh mục với tỷ trọng 7%

Việc cổ phiếu NVL (Novaland) lọt vào danh mục VNM ETF quả thật là một bất ngờ lớn, nằm ngoài dự đoán của các chuyên gia chứng khoán. Cổ phiếu bất động sản này chỉ vừa mới giao dịch trên sàn HOSE từ cuối năm 2016, tới nay chưa tròn 3 tháng niêm yết, có khối lượng giao dịch bình quân hơn 1.3 triệu cp/phiên và đã tăng giá hơn 13% lên 68,000 đồng/cp (đóng cửa phiên 10/03/2017).

* Dự báo VNM ETF đảo danh mục quý 1/2017: Khó lường!

Diễn biến giao dịch cổ phiếu NVL so với VN-Index kể từ khi niêm yết đến nay

Rạng sáng ngày 11/03 theo giờ Việt Nam, MV Index Solutions (MVIS) thông báo thêm 2 cổ phiếu mới vào danh mục MVIS Vietnam Index, đồng thời loại 1 cổ phiếu ra khỏi rổ tính chỉ số này.

Theo đó, cổ phiếu NVL của Việt Nam và cổ phiếu Regina Miracle International của quần đảo Cayman (Mã: 2199 HK) thêm vào với tỷ trọng lần lượt là 7% và 4.39%. Ở chiều ngược lại, cổ phiếu ITA (Itaco) của Việt Nam bị loại (tỷ trọng ngày 09/03 là 1.62%).

Như vậy, số lượng cổ phiếu trong danh mục sẽ tăng lên mức 26 sau kỳ cơ cấu này. Trong đó, số lượng cổ phiếu Việt Nam vẫn giữ nguyên ở mức 19 cổ phiếu với tỷ trọng lớn nhất vẫn thuộc về VNM và VIC với 8%, tiếp theo là NVL với 7%, và VCB với 6.5%.

Tổng tỷ trọng của các cổ phiếu Việt Nam giảm xuống còn 73.32%, so với mức 76.78% tại kỳ đảo danh mục gần nhất.

Vì tỷ trọng mới nhất tại ngày 09/03 của các cổ phiếu Việt Nam là 76.62% nên vào tuần tới VNM ETF dự kiến bán bớt 3.3% danh mục để đảm bảo tỷ trọng vừa được công bố.

Dự kiến các mã bị bán nhiều nhất là ITA (bán hết 4.64 triệu USD), SSI (bán 2.96 triệu USD), và BVH (2.85 triệu USD). Ngược lại, các mã dự kiến được mua vào nhiều nhất bao gồm NVL (mua mới 20.03 triệu USD), VNM (1.83 triệu USD) và VIC (0.23 triệu USD).

Việc thay đổi các cổ phiếu thành phần của MVIS Vietnam Index – chỉ số tham chiếu cho VanEck Vectors Vietnam ETF (VNM ETF) – sẽ có hiệu lực sau giờ đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Sáu (17/03) và chính thức được giao dịch từ ngày thứ Hai (20/03).

* Xem chi tiết Tài liệu công bố của MVIS

Dự báo về giá trị cổ phiếu cần mua/bán trong tuần tới

Nguồn số liệu: Market Vectors Index Solutions GmbH, Van Eck Global, VietstockFinance

Chiều ngày thứ Sáu (02/12) vừa qua, FTSE thông báo thêm ROS, HBC và DXG vào rổ tính FTSE Vietnam Index, đồng thời loại KDC, PVT, PDR, HVGHQC ra khỏi rổ tính chỉ số này.

Các thị trường mới nổi đã hưởng lợi rất nhiều từ quá trình toàn cầu hóa.

Các thị trường mới nổi đã hưởng lợi rất nhiều từ quá trình toàn cầu hóa.

Cụ thể, nhờ có toàn cầu hóa, các công ty đa quốc gia đã thâm nhập vào các thị trường mới hoặc bắt đầu hoạt động sản xuất ở bên ngoài, qua đó góp phần vào tốc độ tăng trưởng ở các nền kinh tế mới nổi. Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa hiện nay dường như đã rơi vào ngõ cụt khi các thị trường phát triển chấp nhận chính sách mang hướng bảo hộ thương mại nhiều hơn. Liệu điều này có hủy hoại đà hồi phục “mới hình thành” của các thị trường mới nổi?

Châu Á-Thái Bình Dương có nên dẫn dắt quá trình toàn cầu hóa?

Tổng thống Mỹ Donald Trump đã dẫn đầu lập trường chống lại quá trình toàn cầu hóa cùng với lời hứa đem lại hàng triệu việc làm cho nước Mỹ. Ông đã đề xuất hệ thống thuế điều chỉnh biên giới (thuế giá trị gia tăng đối với hàng nhập khẩu). Theo đó, các hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ sẽ bị đánh thuế 20%, trong khi các hàng hóa xuất khẩu thì được miễn thuế. Điều này sẽ tạo ra một mối đe dọa đối với các nền kinh tế mới nổi vốn xem Mỹ như một thị trường tiêu thụ các sản phẩm của họ.

Tuy nhiên, không chỉ có Mỹ đưa ra các chính sách mang hướng bảo hộ thương mại. Trước đó, George Osborne, cựu Bộ trưởng Tài chính của Anh, đã lên tiếng gọi việc Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU) là “một hành động thể hiện lập trường bảo hộ mạnh nhất trong lịch sử”. Đã có một tranh cãi trong thời gian gần đây giữa Trung Quốc và EU về các chính sách bảo hộ thương mại trong ngành thép. Dường như, lập trường bảo hộ thương mại đang hiện diện ở khắp mọi nơi.

Trong một bài viết trên trên MarketView vào đầu tháng 3/2017, công ty quản lý quỹ Aberdeen (Aberdeen Asset Management) đã đưa ra câu hỏi đầu tiên về các lập trường bảo hộ thương mại: Liệu các động thái bảo hộ thương mại của các chính trị gia có làm đảo ngược quá trình toàn cầu hóa? Dựa trên quan điểm của Aberdeen, điều này nói thì dễ nhưng làm thì rất khó. Toàn cầu hóa đã được xem là một xu hướng trong một khoảng thời gian dài và đã tồn tại qua rất nhiều “cơn giông bão”, do đó không dễ để dập tắt xu hướng này. Tổng thống Donald Trump có thể đưa ra chủ trương “Nước Mỹ trước tiên”, nhưng việc đảo ngược quá trình thương mại toàn cầu thì cực kỳ khó.

Một phần là do các cân nhắc về chi phí. Rõ ràng, việc sản xuất ở nhiều thị trường mới nổi có chi phí thấp hơn so với sản xuất ở các thị trường phát triển. Chi phí nhân công là yếu tố rất quan trọng khi đưa ra các quyết định đầu tư. Tổ chức IHS ước tính chi phí nhân công ở Mỹ dao động quanh mức 25-30 USD/tiếng, cao hơn rất nhiều so với mức chi phí gần 2 USD/tiếng ở một số quốc gia châu Á, như Bangladesh. Ngay cả tại khu vực châu Âu, để sản xuất ở các quốc gia phía Tây châu Âu, như Bulgaria, thì chi phí nhân công ở khoảng 4 Euro/tiếng, thấp hơn rất nhiều so với mức 35 Euro ở Pháp.

Mặt khác, đồng tiền ở các thị trường mới nổi đã sụt giảm trong thời gian dài, đặc biệt là so với đồng USD, qua đó làm cho hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia này trở nên rẻ hơn rất nhiều. Một báo cáo đã tính toán việc sản xuất ra một chiếc iPhone 5 hoàn toàn ở Mỹ có chi phí khoảng 2000 USD, cao hơn rất nhiều so với mức chi phí hiện tại là 650-850 USD. Nếu đồng USD mạnh tiếp diễn trong tương lai thì giá iPhone tăng đối với những người sử dụng đồng tiền khác cũng là điều dễ hiểu. Tương tự cho các hàng hóa khác như quần áo, xe hơi và tivi.

Trong quá khứ, hoạt động chính trị ở Mỹ đã bị chi phối bởi những nhu cầu và mong muốn của các tổ chức nhất định và nhóm lợi ích. Do đó, sẽ khó mà điều chỉnh những đợt gia tăng chi phí cho thích hợp với cộng đồng doanh nghiệp hoặc các nhóm tiêu dùng.

Ngoài ra, vẫn còn đó một số câu hỏi khác rộng hơn. Các thị trường mới nổi phụ thuộc vào toàn cầu hóa để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhiều hay ít? Liệu hoạt động thương mại nội địa ở các quốc gia mới nổi có phát triển hay không? Họ có phát triển một mẫu hình để tự duy trì tốc độ tăng trưởng hay không?

Chắc chắn rồi, Aberdeen tin rằng chúng ta đã tiến khá xa trên con đường toàn cầu hóa. Tuy nhiên, toàn cầu hóa không phải là yếu tố chi phối các thị trường mới nổi. Ngược lại, các thị trường này ngày càng theo đuổi chủ trương “tự lực cánh sinh”. Đa số các yếu tố chi phối nền kinh tế mới nổi là các yếu tố nội địa chứ không phải là yếu tố quốc tế.

Đó là các cuộc cải cách kinh tế và chính trị trong nước. Ví dụ, tại khu vực Mỹ Latin, các Chính phủ đang theo đuổi các chính sách kinh tế mang hướng chính thống nhiều hơn. Tại Chile, Peru và Columbia, Aberdeen nhận thấy hoạt động quản lý kinh tế của các quốc gia này rất tốt. Mặc dù khởi đầu ở mức thấp nhưng Brazil cũng có những cải thiện nhất định. Aberdeen tin rằng điều này sẽ tạo ra các lợi ích trong dài hạn cho các nền kinh tế ở khu vực này.

Chưa dừng lại ở đó, những nền kinh tế mới nổi đang dần vượt ra khỏi cái bóng của một quốc gia “chỉ làm ra phụ tùng” cho các quốc gia khác và chuyển sang các lĩnh vực tinh vi hơn nhiều. Mới đây, Financial Times đã ghi nhận rằng, Trung Quốc đã chuyển biến từ một quốc gia “chuyên bắt chước” sang một quốc gia “đổi mới” trong lĩnh vực công nghệ. Các công ty Trung Quốc đang dần khẳng định vị thế của mình và có thể sánh ngang hàng với các công ty công nghệ ở thung lũng Silicon, thay vì chỉ là những nhà sản xuất phụ tùng.

Hoạt động thương mại giữa các thị trường mới nổi cũng ngày càng gia tăng và Trung Quốc cũng là một thị trường quan trọng như Mỹ, đặc biệt là đối với các thị trường mới nổi ở châu Á. Dĩ nhiên là có một số quốc gia và các công ty bị tác động nhiều hơn một số khác, nhưng việc chuyển dần sang lập trường “tự lực cánh sinh” cho thấy các thị trường mới nổi ít bị tác động hơn trước sự thay đổi lập trường về toàn cầu hóa.

Các thị trường mới nổi cũng bị tác động bởi lập trường chống lại toàn cầu hóa, nhưng Aberdeen tin rằng việc này đã đi quá xa. Ngay cả khi các thị trường phát triển có khả năng thực hiện các biện pháp bảo hộ thương mại thì các thị trường mới nổi vẫn có khả năng “tự lực cánh sinh” nhờ cuộc cải cách và đổi mới trong nước./.

Các triệu phú đều dự định đến với vùng đất Down Under, Bloomberg cho hay.

Thuế suất thấp và những bãi biển đẹp đã thu hút các triệu phú đến với Australia

Các triệu phú đều dự định đến với vùng đất Down Under, Bloomberg cho hay.

Vì sao giới siêu giàu vẫn “lũ lượt” kéo tới Luân Đôn bất chấp tác động của Brexit?

Đâu là điểm đến hàng đầu của các triệu phú trên thế giới?

 

Australia đang thu hút ngày càng nhiều triệu phú trên toàn cầu, qua đó góp phần giúp quốc gia này trở thành một trong những đất nước có lượng của cải tăng nhanh nhất thế giới, báo cáo từ New World Wealth cho thấy. Động lực khiến các triệu phú đổ xô vào Australia có thể xuất phát từ hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến và thuế di sản thấp hơn. Ngoài ra, Australia còn là địa điểm lý tưởng để kinh doanh với các quốc gia châu Á, cũng như gần với các quần đảo Nam Thái Bình Dương. Dĩ nhiên, cũng nhờ một phần vào các bãi biển hoang sơ tuyệt đẹp của quốc gia này.

Trong thập kỷ vừa qua, tổng lượng của cải nắm giữ ở Australia đã tăng thêm 85%, cao hơn rất nhiều so với mức tăng 30% ở Mỹ và 28% ở Anh nhờ Australia đã trải qua 25 năm mà không chứng kiến một đợt suy thoái nào. Kết quả là một người Australia bình thường hiện đang giàu có hơn rất nhiều so với người Mỹ hay người Anh. Ngoài ra, Australia có thể thu hút nhiều người nhập cư hơn bởi tình trạng căng thẳng về tôn giáo cũng như sắc tộc đang nổi lên ở châu Âu.

Vào thời điểm cuối năm 2016, các cá nhân nắm  giữ khoảng 192 ngàn tỷ USD tài sản trên thế giới, tương ứng khoảng 11 lần GDP của Mỹ, trong đó 13.6 triệu triệu phú nắm giữ hơn 35%. Có tới 522,000 người có lượng tài sản ròng tối thiểu là 10 triệu USD. Được biết, “của cải” ở đây muốn nói tới lượng tài sản ròng của cá nhân, bao gồm bất động sản, tiền mặt, cổ phiếu, lợi ích từ kinh doanh và trừ đi cho các khoản nợ.

Với dân số khá nhỏ, Australia có thể có mặt trong danh sách các quốc gia đứng đầu về lượng của cải bình quân trên đầu người. Tuy nhiên, các thứ hạng đầu của bảng xếp hạng này đều do các thiên đường thuế nắm giữ. Lượng của cải trên đầu người là một thước đo tốt hơn so với GDP trên đầu người khi xét về tình trạng tài chính của một quốc gia, bởi vì thước đo này tránh được sự trùng lắp trong tính toán, đánh giá tính hiệu quả của ngành ngân hàng địa phương và thị trường chứng khoán dựa trên lượng của cải còn lại của một quốc gia và còn điều chỉnh các trường hợp bất thường.

Báo cáo này được thiết lập dựa trên hồ sơ của hơn 150,000 triệu phú trên toàn cầu, các cuộc phỏng vấn với các chuyên gia nhập cư, các nhà quản lý tài sản và các công ty bất động sản.

Ngành dầu Mỹ có thể đang trên đà hồi sinh vô cùng ấn tượng, CNNMoney cho hay. 

Ngành dầu Mỹ có thể đang trên đà hồi sinh vô cùng ấn tượng, CNNMoney cho hay. 

Sau cuộc chiến đầy thương đau với Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC), sản lượng dầu của Mỹ chuẩn bị phục hồi trong năm nay, nhờ giá dầu tăng mạnh và mô hình doanh nghiệp được cải thiện.

Điều này có thể giúp sản lượng dầu ở Mỹ phá kỷ lục trong năm 2018, vượt qua mức sản lượng cao nhất mọi thời đại được thiết lập trong năm 1970, dựa trên dự báo mới nhất của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA).

Đà hồi sinh của ngành dầu Mỹ đang được dẫn dắt bởi hoạt động sản xuất dầu ở Vịnh Permian, một khu vực khoan dầu từ đá phiến ở Texas và New Mexico. Khu vực Perimian nhiều dầu đến nỗi những nhà khoan dầu có thể khoan kiếm lời với mức giá khiêm tốn trên 50 USD/thùng một chút.

“Hoạt động sản xuất dầu từ đá phiến đã hồi phục vô cùng ấn tượng. Chìa khóa ở đây là bất kỳ khoản đầu tư nào ngay tại lúc này đều hiệu quả gấp đôi so với thời điểm 2 năm về trước”, Tamar Essner, Giám đốc năng lượng ở Nasdaq Advisory Services, cho hay.

Tâm lý lạc quan trên hoàn toàn đối nghịch với nỗi lo sợ đã bao trùm lên ngành dầu Mỹ vào cuối năm 2014. Còn nhớ, lúc đó, OPEC đã quyết định đẩy mạnh hoạt động bơm dầu mặc cho tình trạng dư cung đẩy giá dầu xuống mức cực thấp.

Cũng chính cuộc chiến giá dầu của OPEC đã châm ngòi cho làn sóng phá sản, các đợt cắt giảm việc làm và đà sụt giảm của sản lượng dầu tại Mỹ khi giá dầu trượt xuống mức 26 USD/thùng. Sản lượng dầu nội địa chạm đỉnh 9.6 triệu thùng/ngày trong tháng 4/2015.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của ngành dầu vẫn chưa hoàn toàn sụp đổ. Cụ thể, sản lượng dầu tại Mỹ chỉ giảm một ít xuống khoảng 8.7 triệu thùng/ngày trong tháng 7/2016 và rồi sau đó bắt đầu ổn định trở lại. Hoạt động khoan dầu ở Mỹ đã tăng mạnh trong vài tháng gần đây khi giá dầu bứt phá mạnh mẽ nhờ OPEC tiến tới thỏa thuận cắt giảm sản lượng cùng với các nhà sản xuất ngoài OPEC như Nga.

Hiện EIA đã nâng đáng kể dự báo sản lượng dầu tại Mỹ. Cụ thể, sản lượng dầu ở Mỹ sẽ đạt mức 9.2 triệu thùng/ngày trong năm 2017 và 9.7 triệu thùng/ngày trong năm 2018. Con số này cao hơn ước tính trước đó rất nhiều với 8.9 triệu thùng/ngày trong năm 2018.

Vậy điều gì đã thay đổi?

Tất cả mọi ánh mắt đều hướng đến hoạt động sản xuất dầu từ nguồn đá phiến ở khu vực Vịnh Permian. Các nhà khoan dầu đã đua nhau thêm vào các giàn khoan dầu mới ở Vịnh Permian. Theo đó, số lượng giàn khoan dầu đã gần như tăng gấp ba từ mức 132 giàn hồi tháng 4/2016 lên 308 giàn.

“Chúng tôi tin rằng hoạt động khoan dầu từ đá phiến chuẩn bị tăng trưởng trở lại”, Anthony Starkey, nhà quản lý phân tích năng lượng tại Bentek Energy, nhận định.

Tất cả nguồn dầu từ Texas và các khu vực sản xuất dầu từ đá phiến khác có thể phá hoại kế hoạch đưa thị trường dầu trở về trạng thái cân bằng của OPEC và khả năng kéo dài thỏa thuận cắt giảm sản lượng vào cuối năm nay.

Các giàn khoan ở Mỹ đã trở nên hiệu quả hơn rất nhiều. Do đó EIA cũng thay đổi một chút trong mô hình dự báo của mình để bao hàm tốt hơn sự gia tăng trong mức độ hiệu quả của các giàn khoan ở Mỹ.

Sự gia tăng trong tính hiệu quả đã trở nên vô cùng quan trọng. Giá thấp hơn, công nghệ tốt hơn đã cho phép các công ty sản xuất dầu từ đá phiến ở Mỹ hoạt động nhiều hơn với chi phí thấp hơn.

“Nhờ có sự cải tiến ấy, chúng tôi có thể phát triển ngay cả trong môi trường giá thấp”, bà Essner cho hay.

Bà lên tiếng cảnh báo rằng mặc dù có thể duy trì được sự cải tiến “tuyệt vời” trong công nghệ và hoạt động sản xuất, nhưng sản lượng tại Mỹ vẫn có thể bị hạn chế nếu chi phí nhân công và phục vụ tăng quá nhanh.

EIA không nghĩ là giá dầu có thể tăng trên mức hiện tại quá nhiều. Cụ thể, cơ quan này dự báo giá dầu bình quân sẽ chỉ ở mức 53.49 USD/thùng trong năm nay và 56.18 USD/thùng trong năm 2018.

“Không ai nghĩ rằng giá có thể tăng lên mức 3 con số”, bà Essner cho hay.

Ngoài ra, ngành dầu ở Mỹ còn có thể được hưởng lợi từ Tổng thống Donald Trump, người đã cam kết sẽ đưa ra lập trường thân thiện hơn dành cho ngành này./.

Thụy Sỹ là quốc gia tốt nhất trên thế giới, nghiên cứu mới từ U.S. News & World Report cho thấy.

Thụy Sỹ là quốc gia tốt nhất trên thế giới, nghiên cứu mới từ U.S. News & World Report cho thấy.

Được biết, U.S. News & World Report đã đánh giá 80 quốc gia thông qua hàng loạt các tiêu chuẩn từ sức ảnh hưởng về kinh tế cho tới quyền công dân và chất lượng cuộc sống. Trong đó, Việt Nam đứng thứ 40 trong bảng xếp hạng các quốc gia tốt nhất trên thế giới.

Thông qua việc khảo sát hơn 21,000 nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các cá nhân ưu tú và các công dân nói chung, mục đích của báo cáo “các quốc gia tốt nhất trong năm 2017” là để tìm hiểu xem cách thức nhìn nhận về các quốc gia trên phạm vi toàn cầu.

Dưới đây là danh sách cụ thể về 24 quốc gia tốt nhất trên thế giới.

24. Bồ Đào Nha

Mặc dù không phải là một quốc gia giàu có nhất hay quyền lực nhất, nhưng Bồ Đào Nha lại có lịch sử văn hóa vô cùng phong phú và là một trong những quốc gia tốt nhất để nghỉ hưu hoặc đi du lịch.

23. Hàn Quốc

Là nơi sản sinh là 12 Di sản UNESCO, Hàn Quốc có tới 18 triệu khách du lịch mỗi năm và phần lớn thành công của quốc gia này đều xuất phát từ nền kinh tế dịch vụ và công nghệ cao.

22. Các Tiểu Vương quốc Ả-rập Thống nhất

Việc sở hữu lượng dầu mỏ khổng lồ đã giúp đất nước này trở thành một trong các quốc gia giàu có nhất trên thế giới. Đây là quốc gia duy nhất ở khu vực Trung Đông được lọt vào top 25 quốc gia tốt nhất thế giới, và cũng được mệnh danh là một trong những nơi tốt nhất dành cho du học sinh nước ngoài.

21. Ireland

Các ông lớn công nghệ đang hoạt động tại thủ đô của Ireland. Các công ty như Google, Facebook, LinkedIn, Hubspot, and Dropbox đều thành lập các cửa hàng ở thành phố này.

20. Trung Quốc

Bên cạnh việc là một trong 5 quốc gia quyền lực nhất trên thế giới, Trung Quốc cũng được khen ngợi bởi nền kinh tế khổng lồ và sức ảnh hưởng lên thị trường toàn cầu.

19. Tây Ban Nha

Tây Ban Nha được công nhân bởi nền văn hóa vô cùng phong phú và đất nước này cũng là một trong những nơi đáng ghé thăm nhất trên thế giới.

18. Austria

Austria đứng thứ 9 trong bảng xếp hạng các quốc gia tốt nhất dành cho phụ nữ.

17. Luxembourg

Luxembourg có GDP trên đầu người cao thứ 2 trên thế giới. Tính minh bạch của Chính phủ cũng như môi trường thuế thuận lợi đã góp phần giúp quốc gia này đứng thứ hạng cao về tính mở cửa đối với doanh nghiệp.

16. Italy

Vụ từ chức của Thủ tướng Matteo Renzi trong năm 2016 đã khiến tình hình chính trị ở Italy rung chuyển. Chính tình trạng bất ổn chính trị đã khiến quốc gia này rớt 3 bậc trong bảng xếp hạng năm 2017. Dẫu vậy, Italy vẫn có sức ảnh hưởng về văn hóa nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

15. Singapore

Quốc gia này vẫn giữ nguyên vị trí xếp hạng trong năm nay và được mệnh danh là một trong những quốc gia tốt nhất để đầu tư vào.

14. New Zealand

Với khung cảnh choáng ngộp và đẹp đẽ, New Zealand được khen ngợi bởi sự tự do tôn giáo và bình đẳng giới. Theo US News, đây cũng là nơi nghỉ hưu tốt nhất trên thế giới.

13. Phần Lan

Có lẽ chẳng có gì phải ngạc nhiên khi các quốc gia Bắc Âu chiếm nhiều vị trí cao trên bảng xếp hạng. Phần Lan có điểm số rất cao ở nhiều khía cạnh, và dẫn đầu bảng xếp hạng về tính minh bạch.

12. Đan Mạch

Theo báo cáo, Đan Mạch là quốc gia tốt thứ 2 trên thế giới để nuôi dạy trẻ em, chỉ sau Thụy Điển.

11. Hà Lan

Vốn là một quốc gia tương đối trẻ, Hà Lan là đất nước đầu tiên trên thế giới cho phép kết hôn đồng giới và cũng giữ thái độ tự do đối với ma túy, mại dâm và nạn phá thai.

10. Na Uy

Na Uy là nước đứng đầu trong bảng xếp hạng về dân quyền. Điều này có nghĩa là quốc gia này có các chính sách môi trường và xã hội tốt nhất trên thế giới.

9. Pháp

Pháp đã hạ 1 bậc trong bảng xếp hạng năm nay khi mức độ bất ổn chính trị ngày càng gia tăng do cuộc bầu cử sắp tới.

8. Australia

Đây là quốc gia đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng các quốc gia tốt nhất để nghỉ hưu, chỉ sau New Zealand. Ngoài ra, Australia còn được mệnh danh là quốc gia tốt nhất để đặt trụ sở chính của công ty.

7. Mỹ

Mỹ đã rớt hạng trong nhiều bảng xếp hạng quốc gia tốt nhất cho doanh nghiệp, dân quyền, giáo dục và tính minh bạch. Dù vậy, đây vẫn là quốc gia quyền lực nhất trên trái đất.

6. Thụy Điển

Thụy Điển được mệnh danh là quốc gia tốt nhất dành cho phụ nữ, để nuôi dạy trẻ em và môi trường trong lành.

5. Nhật Bản

Nhật Bản đã tăng 2 bậc trong năm nay nhờ sự ổn định về kinh tế lẫn chính trị.

4. Đức

Quốc gia đứng đầu bảng xếp hạng trong năm ngoái giờ đã rớt xuống hạng 4 do mối lo lắng ngày càng tăng về dòng người tị nạn vào Đức và chuỗi các cuộc tấn công khủng bố.

Dù vậy, Đức vẫn được xem là quốc gia tốt nhất để kinh doanh.

3. Vương quốc Anh

Mặc cho các bất ổn về Brexit, Anh vẫn được xem là quốc gia quyền lực thứ 4 trên thế giới và được công nhận về sự ảnh hưởng văn hóa.

2. Canada

Canada tự hào vì có chất lượng sống cao nhất trên thế giới, có nghĩa là quốc gia này có sự ổn định về kinh tế chính trị, gia đình thân thiện và có hệ thống giáo dục cũng như chăm sóc sức khỏe vô cùng phát triển.

1. Thụy Sỹ

Thụy Sỹ là quốc gia tốt nhất trên trái đất nhờ hệ thống xã hội tiên tiến, sự bảo vệ quyền lợi con người và môi trường kinh doanh thuận lợi.

Thị trường chứng khoán có thể vẫn đang trên đà leo dốc, nhưng đã đến lúc nhà đầu tư nên tìm kiếm thứ gì đó để “bảo hiểm” cho danh mục của mình khi các rủi ro địa chính trị đang không ngừng gia tăng, ...

Thị trường chứng khoán có thể vẫn đang trên đà leo dốc, nhưng đã đến lúc nhà đầu tư nên tìm kiếm thứ gì đó để “bảo hiểm” cho danh mục của mình khi các rủi ro địa chính trị đang không ngừng gia tăng, Robert Parker, Cố vấn cấp cao về chiến lược đầu tư ở Credit Suisse, cho biết.

 

“Xét về góc độ từ 2-3 năm, có lẽ triển vọng thị trường cổ phiếu toàn cầu vẫn còn khá tốt”, ông Parker cho hay tại một cuộc gặp gỡ khách hàng. “Dựa trên góc nhìn từ 2-3 năm, tôi nghĩ chúng ta cần phải nhận thức được về các rủi ro, cho dù đó là rủi ro chính trị ở châu Âu, hay là sự thất vọng khi Donald Trump không giữ đúng các cam kết của mình. Mặt khác, chúng ta cũng không nên lãng quên rủi ro địa chính trị ở khu vực châu Á”, ông nhận định.

Ngoài ra, ông Parker cũng chỉ ra một lý do khác để giải thích cho việc nhà đầu tư nên cảm thấy lo lắng về thị trường.

“Chúng ta đang chứng kiến một xu hướng khá thú vị trong hai tuần vừa qua, và xu hướng này chính là một trường hợp cụ thể đang diễn ra ở thị trường cổ phiếu Mỹ. Cụ thể, các nhà đầu tư nhỏ lẻ liên tục đổ tiền vào cổ phiếu trong khi nhà đầu tư tổ chức lại rút vốn ra khỏi đó”, ông cho hay.

Ông Parket lưu ý rằng một trong những yếu tố chi phối đà bứt phá của thị trường Mỹ đang đi ngược lại với một tín hiệu e ngại rủi ro về mặt nhận thức. Đó là trái phiếu vẫn không hấp dẫn nhà đầu tư khi xét trên lãi suất thực mà nhà đầu tư nhận được.

Ông kỳ vọng rằng vào tháng 6 hoặc tháng 7/2017, lạm phát tại Mỹ sẽ dao động quanh mức 2.5%, cũng trùng khớp với lợi suất hiện tại của trái phiếu Chính phủ Mỹ kỳ hạn 10 năm.

“Hiện lợi suất thực của trái phiếu đang ở gần mức 0. Do đó, động lực chính thôi thúc nhà đầu tư rót tiền vào thị trường cổ phiếu là do thị trường trái phiếu không còn hấp dẫn nhà đầu tư. Tại sao lợi suất trái phiếu vẫn ở mức thấp? Lý do ở đây là nhà đầu tư đang mua trái phiếu để ‘bảo hiểm’ một chút cho danh mục của họ”, ông chia sẻ.

Credit Suisse khuyến nghị một số kênh phòng ngừa để chống lại một số rủi ro đang ngày càng gia tăng trên thị trường.  Trong đó, ông Parker chỉ ra việc mua theo chỉ số đo lường trạng thái biến động CBOE (VIX), thước đo tốt nhất về mức độ sợ hãi trên Phố Wall, có lẽ là một trong những kênh phòng ngừa hiệu quả nhất.

Mặt khác, tổ chức Credit Suisse còn đề nghị nhà đầu tư mua vào đồng JPY, cũng là một kênh trú ẩn an toàn khác, vì nhà đầu tư Nhật Bản có xu hướng rút vốn về nước khi xuất hiện các rủi ro trên thị trường.

Heng Koon How, Chiến lược gia đầu tư tiền tệ cấp cao ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương tại Credit Suisse, nhấn mạnh rằng Nhật Bản hiện đang thặng dư trong tài khoản vãng lai và quốc gia này cũng có dòng vốn vào ổn định tính từ đầu năm 2017 đến nay. Ông dự báo đồng JPY sẽ tăng mạnh trong thời gian tới.

Tuy nhiên, ông Heng cũng lưu ý rằng vàng, một trong những kênh phòng ngừa rủi ro thông thường khác, đang không hoạt động hiệu quả tại thời điểm này.

“Mọi người muốn đầu tư vào vàng như là một kênh trú ẩn an toàn trước các rủi ro. Điều này là chính xác, nhưng hiện giờ thì kênh này không hoạt động hiệu quả bởi đồng USD đang tăng mạnh. (Vì vàng vốn được neo giá theo đồng bạc xanh). Do đó, để phòng ngừa rủi ro hiệu quả, tôi đề nghị nên sở hữu vàng theo đồng Euro”, ông cho biết, đồng thời cũng nhấn mạnh rằng các rủi ro chính trị đang không ngừng gia tăng khi hàng loạt các cuộc bầu cử sắp diễn ra trong vài tháng tới”./.

Các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương phải là nhóm dẫn dắt việc đẩy mạnh thương mại tự do khi tốc độ tăng trưởng toàn cầu suy giảm, các chuyên gia thương mại cấp cao cho biết trong một báo cáo công bố ...

Các quốc gia châu Á-Thái Bình Dương phải là nhóm dẫn dắt việc đẩy mạnh thương mại tự do khi tốc độ tăng trưởng toàn cầu suy giảm, các chuyên gia thương mại cấp cao cho biết trong một báo cáo công bố trong ngày thứ Hai.

* Hai câu chuyện đối lập về châu Á

* Các quỹ đổ vốn vào thị trường nào ở châu Á?

 

“Chỉ vì Mỹ hiện đã không còn ủng hộ hoạt động giao thương như trước đây và toàn cầu hóa cũng không có nghĩa là toàn thế giới phải làm theo Mỹ”, Kevin Rudd, Chủ tịch của Viện Chính sách Xã hội châu Á (ASPI), cho biết. Với các chính sách đúng đắn và các hợp đồng thương mại có tiêu chuẩn cao, ông nhận định: “Tăng trưởng châu Á có thể tiếp tục đem lại lợi ích cho thế giới”.

Với tiêu đề “Mô tả Quá trình Hội nhập Thương mại và Kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, báo cáo từ Ủy ban Độc lập về Chính sách Thương mại của ASPI đã đưa ra một vài nguyên tắc về việc thúc đẩy tự do thương mại trong khu vực.

“Đà bứt phá ấn tượng của châu Á không phải là một hiện tượng ngẫu nhiên mà là kết quả trực tiếp của chính sách mở cửa thị trường và cuộc cải cách kinh tế khác. Trong đó, một số thì hành động mang tính đơn phương từ một quốc gia nào đó và một số khác thì xuất phát từ các cam kết theo thỏa thuận thương mại. Chìa khóa đem lại đà tăng mạnh mẽ là tính mở cửa thương mại”, báo cáo cho thấy.

Ngoài ra, báo cáo đề cập rất nhiều lần đến Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) như là một khuôn mẫu cho thỏa thuận thương mại ở châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai, đồng thời lưu ý TPP có tiêu chuẩn rất cao và là một trong những thỏa thuận đầu tiên giải quyết vấn đề thương mại kỹ thuật số. Mặc dù TPP dường như đã lãnh án tử khi Tổng thống Donald Trump rút Mỹ ra khỏi các cuộc đàm phán hồi tháng 1/2017, nhưng ASPI vẫn kêu gọi Mỹ cân nhắc lại vị thế của mình.

Một số khuyến nghị khác thì nhấn mạnh đến nhu cầu về tiêu chuẩn cao trong các thỏa thuận thương mại khác, tập trung vào các xu hướng như giao thương dịch vụ và sản phẩm kỹ thuật số, và cho biết về những lợi ích của hoạt động thương mại tới người tiêu dùng. Ủy ban này cũng liệt kê ra lợi ích kinh tế của chính sách thương mại ủng hộ doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Thỏa thuận thương mại tự do ở các nước đang trong quá trình thiết lập cũng rất quan trọng đối với sự phát triển “khỏe mạnh” của nền kinh tế toàn cầu, báo cáo cho biết.

“Nếu thương mại trở thành lĩnh vực hứng chịu mọi thách thức của quá trình toàn cầu hóa thì các quốc gia sẽ gặp nguy cơ mất đi một công cụ mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trưởng và cuộc cải cách kinh tế trọng yếu. Các chính sách thương mại trong quá trình chuyển tiếp có thể là một động lực để cải cách nội địa, qua đó có thể giúp các quốc gia hiện đại hóa và mở cửa nền kinh tế”, trích một đoạn trong báo cáo./.

Sẽ không có cổ phiếu nào bị loại ra khỏi danh mục của VanEck Vectors Vietnam ETF (VNM ETF) là dự báo chung của các chuyên gia chứng khoán. Tuy nhiên, cổ phiếu nào sẽ được thêm vào là câu hỏi khó có ...

Sẽ không có cổ phiếu nào bị loại ra khỏi danh mục của VanEck Vectors Vietnam ETF (VNM ETF) là dự báo chung của các chuyên gia chứng khoán. Tuy nhiên, cổ phiếu nào sẽ được thêm vào là câu hỏi khó có lời đáp chung trong kỳ đảo danh mục quý 1/2017 này.

Các chuyên gia đã đưa ra những quan điểm và nhìn nhận khác biệt nhau xoay quanh nhóm cổ phiếu CII, HBC, KBCGTN trong dự báo thêm vào cổ phiếu.

Biểu đồ tỷ trọng cổ phiếu trong danh mục VNM ETF trước kỳ đảo danh mục quý 1/2017
(tính đến 03/03)

Theo dự báo của ông Trần Minh Hoàng, Trưởng bộ phận Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược thị trường CTCK Vietcombank (VCBS), sẽ không có cổ phiếu nào bị loại ra khỏi rổ chỉ số.

Ở chiều thêm vào, mặc dù các cổ phiếu như CII, HBC, KBC và GTN nhiều khả năng sẽ đáp ứng đủ các tiêu chí của quỹ, tuy nhiên xác suất được thêm mới không cao do hoạt động tương đối khó lường của quỹ này trong các kỳ tái cơ cấu gần đây.

Cùng dự báo, ông Nguyễn Vũ Luân, Chuyên viên môi giới cấp cao tại CTCP Chứng khoán VNDirect (VND), cho rằng CII, HBC, KBC và GTN sẽ không được thêm vào dù đã thỏa điều kiện vốn hóa, thanh khoản, room nước ngoài. Theo tính toán của ông Luân, GTN là cổ phiếu duy nhất có cơ hội đủ điều kiện vào rổ trong kỳ này.

Ông Luân cũng lưu ý, cổ phiếu ITA sẽ là cổ phiếu có rủi ro bị loại ra cao nhất do vốn hóa có thể đầu tư đang thấp nhất danh mục.

Đối lập với các dự báo trên, ông Trần Xuân Bách, Chuyên viên Phân tích và Chiến lược Thị trường CTCP Chứng khoán Bảo Việt (BVS), cho rằng 4 cổ phiếu CII, HBC, KBC và GTN đã thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí và nhiều khả năng sẽ được quỹ VNM ETF xem xét đưa vào danh mục. Tuy nhiên, ông Bách cho hay xác suất được thêm vào của HBC và GTN được đánh giá cao hơn. Ông giải thích thêm:

  • Đối với KBC, cổ phiếu này vừa mới bị quỹ VNM loại ra trong kỳ review trước đó dù vẫn đáp ứng đủ các tiêu chí nên chúng tôi cho rằng xác suất để quỹ này thêm lại KBC là khá thấp.
  • Còn với CII, thêm một quý nữa cổ phiếu này thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí thêm mới, tuy nhiên, chúng tôi cũng đánh giá không cao khả năng được thêm vào danh mục lần này bởi tỷ lệ room nước ngoài khá bấp bênh (10.6%) và giá trị vốn hóa tính theo lượng cổ phiếu tự do chuyển nhượng đang thấp nhất trong danh mục.

Dựa trên dữ liệu giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày 15/02/2017, BVS đưa ra dự báo như sau:

Trường hợp 1: GTN, HBC, CII và KBC được thêm vào danh mục

Trường hợp 2: GTN, HBC được thêm vào danh mục

Ông Bách lưu ý đây chỉ là dự đoán dựa trên mức giá đóng cửa ngày 15/02/2017. Biến động giá cổ phiếu, từ ngày này cho đến ngày cuối cùng của kỳ tái cơ cấu (17/03), có thể làm thay đổi tỷ trọng cũng như lượng mua vào/bán ra dự kiến của từng mã.

Cũng vẫn là 4 cổ phiếu này nhưng SSI Retail Research, bộ phận phân tích khách hàng cá nhân thuộc CTCP Chứng khoán Sài Gòn (SSI), cho rằng GTN chưa đạt về giá trị giao dịch bình quân 3 tháng, 3 cổ phiếu còn lại tuy có khả năng được thêm vào nhưng vẫn còn đó những vấn đề khiến tình thế đảo chiều:

  • CII: mặc dù CII đã đạt đủ điều kiện trong kỳ điều chỉnh quý trước nhưng cổ phiếu chưa được thêm vào danh mục có thể do điều kiện định tính. Ở kỳ này, CII tiếp tục thỏa mãn các điều kiện về định lượng và có khả năng được thêm vào danh mục, tuy nhiên vốn hóa tự do của CII nhỏ nhất trong các cổ phiếu được xem xét thêm vào nên vẫn có khả năng sẽ bị áp các tiêu chuẩn định tính để cân nhắc thêm.
  • KBC: cổ phiếu bị loại khỏi danh mục trong kỳ đảo danh mục quý 4/2016 mặc dù vẫn đủ điều kiện. Trong kỳ này, KBC đã đạt đủ điều kiện để được thêm lại vào chỉ số tuy nhiên chúng tôi cho rằng xác suất không lớn.
  • HBC: cổ phiếu đã đạt đủ điều kiện, tuy nhiên hiện tại quy mô vốn hóa khá thấp và MVIS có thể sẽ cân nhắc thêm với các tiêu chí định tính.

Dựa trên số liệu chốt ngày 28/02/2017, SSI Retail Research đưa ra ước tính danh mục chỉ số mới với kịch bản 3 cổ phiếu trên được thêm vào, giả định tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam được giữ nguyên ở mức 75.64% trong tổng tài sản quỹ là 291.4 triệu USD.

 

Nhóm nghiên cứu còn lưu ý quỹ đã hoàn tất việc bán ra 570 ngàn cp PVT trước kỳ tái cơ cấu danh mục. Mặc dù kết quả này được tính dựa trên các tiêu chí định lượng rất chặt chẽ nhưng họ có thể áp dụng thêm các tiêu chí định tính một cách linh động để đảm bảo tính đại diện cũng như chất lượng chỉ số. Trong những lần review trước, VNM ETF đã loại một số cổ phiếu khi không có điều kiện định lượng nào bị vi phạm.

Trong khi đó, ông Bùi Nguyên Khoa, Trưởng nhóm Phân tích Thị trường CTCP Chứng khoán Ngân hàng BIDV (BSI), dự báo danh mục VNM ETF sẽ có sự góp mặt của CII và không có cổ phiếu nào bị loại ra.

Theo ông Khoa, nếu tỷ trọng cổ phiếu Việt Nam giữ nguyên ở mức 76.78% như kỳ trước thì quỹ sẽ mua bổ sung cổ phiếu Việt Nam thêm 1.69% hay khoảng 4.95 triệu (113 tỷ) trong kỳ này.

Danh mục điều chỉnh dự kiến (dựa trên dữ liệu ngày 21/02):

Nếu 2016 là năm của những cú sốc về chính trị thì năm nay có thể là lúc chúng ta nhận thấy các tác động của chúng đến nền kinh tế toàn cầu. Chỉ số khốn khổ (Misery) của Bloomberg, vốn theo dõi triển ...

* Venezuela lại đứng đầu danh sách này một lần nữa

Nếu 2016 là năm của những cú sốc về chính trị thì năm nay có thể là lúc chúng ta nhận thấy các tác động của chúng đến nền kinh tế toàn cầu. Chỉ số khốn khổ (Misery) của Bloomberg, vốn theo dõi triển vọng lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp trong năm 2017 của các quốc gia, sẽ cho chúng ta thấy được điều trên, Bloomberg cho hay.

Đây đã là năm thứ 3 liên tiếp, các vấn đề chính trị và kinh tế của Venezuela đã “góp phần” khiến quốc gia này đứng đầu bảng xếp hạng các quốc gia khốn khổ nhất trên thế giới. Và một lần nữa, quốc gia có mức độ khốn khổ thấp nhất lại là Thái Lan, chủ yếu là do cách thức tính toán tỷ lệ có việc làm vô cùng độc đáo của quốc gia này. Bên cạnh đó, cũng có một số quốc gia có nhiều sự thay đổi đáng chú ý như Anh, Phần Lan và Mexico.

Các tai ương về kinh tế đã tác động tiêu cực đến Venezuela trong nhiều năm qua. Cụ thể, chính tình trạng giá dầu ảm đạm đã châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng ở Venezuela, qua đó khiến các kệ hàng của các cửa hàng tạp hóa bị bỏ trống, các bệnh viện thiếu những loại thuốc cơ bản và tội phạm bạo lực tràn lan khắp Venezuela. Mặc dù quốc gia này không công bố dữ liệu kinh tế kể từ năm 2015, nhưng chỉ số Cafe Con Leche của Bloomberg, vốn theo dõi lạm phát thông qua chi phí của một ly cà phê, cho thấy mức giá chung đã nhảy vọt 1,419% kể từ tháng 8/2016. Các chuyên gia kinh tế ước tính rằng giá sẽ tăng gần gấp 6 lần trong năm nay, kết quả của cuộc thăm dò từ Bloomberg cho thấy.

Chuyển biến tồi tệ hơn

Vốn đã trải qua một bước chuyển biến tiêu cực nhất trong bảng xếp hạng, Phần Lan hiện đang đứng ở hạng thứ 28 trong 65 nền kinh tế trong danh sách, tăng từ hạng thứ 45 trong năm 2016. Được biết, thứ hạng càng cao, thì quốc gia đó đang càng khốn khổ. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia này đã giảm dần kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, nhưng tỷ lệ lạm phát lại tăng lên 1.8% trong tháng 1/2017 sau giai đoạn giảm phát dài nhất trong lịch sử. Tương tự, đà tăng của giá hàng hóa ở Romania, Estonia, Latvia và Slovakia đã khiến những quốc gia này tăng thứ bậc trong bảng xếp hạng các quốc gia khốn khổ nhất.

Mức độ khốn khổ cũng gia tăng ở Mexico. Sau khi khép lại năm 2016 ở thứ hạng 38, quốc gia này lại tăng lên hạng thứ 31 khi nâng dự báo lạm phát từ mức 2.8% trong năm 2016 lên 5% trong năm 2017. Việc kết thúc trợ cấp nhiên liệu của Chính phủ và đà sụt giảm 11% của đồng Peso so với đồng USD kể từ ngày 08/11/2016 đã gây áp lực lên giá hàng hóa.

Trong khi đó, Anh tăng thêm 2 bậc trong bảng xếp hạng sau sự kiện Brexit. Cuộc trưng cầu dân ý về tư cách thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã khiến đồng bảng Anh (GBP) xuống đáy 30 năm, qua đó gia tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa và cả lạm phát. Tốc độ tăng giá đã trở nên ảm đạm ở Anh kể từ khi giá dầu trượt dốc vào cuối năm 2014.

Chuyển biến tích cực

Trong khi đó, các quốc gia trở nên ít khốn khổ hơn có thể kể đến như Na Uy, Peru và ngay cả Trung Quốc.

Các tai ương kinh tế ở Na Uy có thể ít nhất là làm giảm giá tiêu dùng trong năm nay, qua đó đem lại cơ hội cải thiện thành quả năm 2016 và trở nên ít khốn khổ hơn với việc giảm tới 18 bậc trong bảng xếp hạng. Các chuyên gia kinh tế nhận thấy chi tiêu cho dầu đã giảm sút trong năm 2017 trong khi tỷ lệ thất nghiệp giữ nguyên ở mức 4.8%.

Peru cũng giảm tới 13 bậc và hướng tới một quốc gia hạnh phúc hơn trong năm nay. Đây là một thông tin tốt nhưng lại xuất phát từ các lý do xấu: Peru đã trở nên tồi tệ hơn dự báo trong năm 2016 khi tình trạng hạn hán làm gia tăng giá thực phẩm và nhu cầu nội địa ảm đạm gây áp lực lên thị trường việc làm. Các chuyên gia kinh tế dường như nhất trí với Ngân hàng Trung ương Peru rằng họ nhận thấy sự cải thiện trong hoạt động đầu tư cũng như thương mại trong tương lai.

Các quốc gia cải thiện nhiều nhất trong bảng xếp hạng trong năm nay là Hồng Kông, Đài Loan, Hà Lan, Trung Quốc, Ecuador và Nga. Được biết, mỗi quốc gia trong số này giảm ít nhất là 9 bậc trong bảng xếp hạng. Triển vọng lạc quan hơn ở Trung Quốc, nền kinh tế lớn thứ 2 trên thế giới, là một yếu tố tác động tích cực đến triển vọng toàn cầu. Mỹ vẫn nằm trong số 20 quốc gia có mức độ khốn khổ thấp nhất với hạng thứ 49.

Chiều ngày 03/03, FTSE vừa thông báo thêm cổ phiếu ROS, HBC và DXG vào rổ tính FTSE Vietnam Index trong đợt cơ cấu danh mục đầu tiên của năm 2017. Đồng thời, cổ phiếu KDC, PVT, PDR, HVG và HQC sẽ bị ...

[Bài cập nhật]

Chiều ngày 03/03, FTSE vừa thông báo thêm cổ phiếu ROS, HBCDXG vào rổ tính FTSE Vietnam Index trong đợt cơ cấu danh mục đầu tiên của năm 2017. Đồng thời, cổ phiếu KDC, PVT, PDR, HVG và HQC sẽ bị loại ra khỏi danh mục.

Đối với chỉ số còn lại là FTSE Vietnam All-Share Index, FTSE thêm ROS và TCH; loại HVG và HQC. 

Theo đó, số lượng cổ phiếu trong hai danh mục trên sau đợt đảo danh mục đầu tiên của năm 2017 lần lượt là 23 và 48. 

Danh mục mới sẽ có hiệu lực sau giờ đóng cửa phiên giao dịch ngày thứ Sáu (17/03) và chính thức được giao dịch từ ngày thứ Hai (20/03).

Danh mục của FTSE Vietnam Index từ ngày có hiệu lực 17/03/2017

Tính đến ngày chốt dữ liệu 24/02/2017, 3 mã chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục FTSE Vietnam Index là VIC (15.55%), MSN (13.93%) và VNM (13.93%).

>>Xem thêm: Tai-lieu-cong-bo-dao-danh-muc-FTSE.xlsx

Có thể thấy, việc ROS, HBC và DXG được thêm vào; còn KDC, PVT, PDR, HVG và HQC bị loại ra khỏi danh mục FTSE Vietnam Index đúng dự báo của đa số chuyên gia. Trước đó, các chuyên gia dự báo rằng ROS, HBC, DXG đã đạt đầy đủ 3 điều kiện vốn hóa, thanh khoản, freeloat để có thể được chọn vào rổ trong kỳ review này. 

Quỹ FTSE Vietnam UCITS ETF

Tính đến ngày 25/01/2017, db x-trackers FTSE Vietnam UCITS ETF - quỹ ETF do Deutsche Bank quản lý và đầu tư dựa trên chỉ số cơ sở FTSE Vietnam Index - có tổng tài sản 250.06 triệu USD, thấp hơn mức 326.51 triệu USD cách đó 3 tháng.

Theo số liệu mới nhất tại ngày 28/02/2017, giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ đã tăng lên 23.34 USD/ccq so với mức cách đó 3 tháng là 22.98 USD/ccq. Bên cạnh đó, số lượng chứng chỉ quỹ đang lưu hành cũng giảm còn 10,558,781 đơn vị, thấp hơn so với mức 13,240,517 đơn vị sau 1 quý.

Diễn biến FTSE Vietnam Index và N.A.V quỹ FTSE Vietnam UCITS ETF

(Từ ngày 14/01/2008 – 25/01/2017)

  

Kể từ ngày thành lập 14/01/2008 đến ngày 25/01/2017, chỉ số FTSE Vietnam Index đã giảm 69.94%, mạnh hơn so với mức giảm cách đây 3 tháng là 68.68%; trong khi giá chứng chỉ quỹ FTSE Vietnam UCITS ETF sụt 73.08%, cũng mạnh hơn so với mức 71.85%, sau 1 quý.

Những người Mexico ở Mỹ đang gấp rút chuyển tiền về quê nhà, một phần là do nỗi lo sợ Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể sớm áp đặt các ràng buộc lên việc chuyển tiền về Mexico, CNNMoney cho hay.

Những người Mexico ở Mỹ đang gấp rút chuyển tiền về quê nhà, một phần là do nỗi lo sợ Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể sớm áp đặt các ràng buộc lên việc chuyển tiền về Mexico, CNNMoney cho hay.

 

Trong tháng 1/2017, lượng kiều hối – lượng tiền mặt chuyển từ Mỹ về Mexico – đã nhảy vọt 6.3% so với cùng kỳ năm ngoái. Cụ thể, những người Mexico ở Mỹ đang chuyển 2 tỷ USD về quê nhà trong tháng 1/2017, số liệu thống kê của Ngân hàng Trung ương Mexico (Banxico) cho thấy.

Con số kiều hối trong tháng 1 rõ ràng đang phản ánh một xu hướng ngày càng gia tăng ở Mỹ. Trong suốt năm 2016, lượng tiền mặt từ Mỹ chuyển về Mexico leo dốc 8.8%, cao hơn cả mức tăng 4.8% trong năm 2015.

Các chuyên gia kinh tế cho rằng có 2 lý do chính dẫn tới đà nhảy vọt của lượng kiều hối của Mexico.

Đầu tiên, ông Trump đã đe dọa sẽ đánh thuế hoặc dừng hẳn dòng kiều hối tới Mexico để thanh toán chi phí cho bức tường biên giới ở phía Nam nước Mỹ. Những người Mexico có thể đang cố gắng gửi tiền về quê nhà trước khi ông Trump ngăn chặn việc chuyển tiền. Ý tưởng ở đây là: “Hãy để tôi chuyển tiền về ngay lúc này trước khi họ áp đặt thuế”.

Thứ hai, giá trị của đồng Peso của Mexico hiện đang dao động gần mức thấp nhất mọi thời đại. Những người Mexico có thu nhập bằng đồng USD ở Mỹ có thể tận dụng lợi thế về tỷ giá và những người thân của họ ở Mexico sẽ có nhiều đồng Peso hơn nếu đồng tiền này tiếp tục suy yếu.

Lượng kiều hối gửi về Mexico không phải là con số nhỏ. Trong năm 2016, lượng tiền mà người Mexico gửi về quê nhà đã lên mức cao kỷ lục với 27 tỷ USD. Lượng tiền thu được từ kiều hối của Mexico còn nhiều hơn lượng tiền thu được từ hoạt động xuất khẩu dầu của quốc gia này (với chỉ 18.7 tỷ USD). Kiều hối là nguồn thu nhập trọng yếu đối với hàng triệu gia đình có thu nhập thấp ở Mexico.

Được biết, ông Trump đã đưa ra lời đe dọa áp đặt các ràng buộc lên dòng kiều hối của Mexico trong suốt chiến dịch tranh cử Tổng thống Mỹ. Tuy nhiên, kể từ khi nhậm chức, ông vẫn chưa lên tiếng về vấn đề này./.

Dow Jones khép lại ngày thứ Tư ở mức trên 21,000 điểm lần đầu tiên trong lịch sử, vượt qua một mốc tâm lý quan trọng và cũng đánh dấu hành trình tăng thêm 1,000 điểm nhanh nhất trong lịch sử, ...

Dow Jones khép lại ngày thứ Tư ở mức trên 21,000 điểm lần đầu tiên trong lịch sử, vượt qua một mốc tâm lý quan trọng và cũng đánh dấu hành trình tăng thêm 1,000 điểm nhanh nhất trong lịch sử, MarketWatch đưa tin.

 

Được biết, Dow Jones chỉ mới vượt mốc 20,000 điểm trong vài tuần trước, và đánh dấu tốc độ tăng thêm 1,000 điểm nhanh thứ 2 (42 ngày) từ trước đến nay.

Trong khi đó, đà nhảy vọt trong ngày thứ Tư của Dow Jones đã đánh dấu tốc độ tăng thêm 1,000 điểm nhanh nhất với chỉ 24 ngày để đi từ 20,000 lên 21,000 điểm, bằng với khoảng thời gian Dow Jones đi từ 10,000 lên 11,000 điểm trong tháng 5/1999.

Các chỉ số chứng khoán chính dường như đã gạt bỏ triển vọng nâng lãi suất vào giữa tháng 3/2017 để chạm ngưỡng tâm lý quan trọng khác. Động lực cho đà tăng này xuất phát từ tâm lý lạc quan về bức tranh kinh tế Mỹ cũng như toàn cầu, và niềm tin ông Trump có thể thực hiện các cam kết gia tăng chi tiêu tài khóa và cắt giảm thuế suất.

Mặc dù các kế hoạch của ông Trump vẫn chưa rõ ràng, nhưng nhà đầu tư dường như rất phấn khởi với giọng diệu tích cực của ông Trump trong suốt buổi điều trần trước Quốc hội Mỹ hôm thứ Ba.

Kể từ chiến thắng bất ngờ của Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, Dow Jones đã vọt 15.2%, S&P 500 tăng 11% và Nasdaq Composite leo dốc 13.7%.

Dĩ nhiên, khi thị trường càng lên cao thì mỗi bước tiến 1,000 điểm lại trở nên nhỏ hơn khi xét trên cơ sở phần trăm. Động thái Từ 20,000 đến 21,000 thì là tăng 5%, trong khi động thái từ 19,000 đến 20,000 là tăng 5.3%. Động thái từ 10,000 đến 11,000 trong năm 1999 thì tăng 10%.

Vào ngày thứ Tư, Dow Jones vọt 300 điểm (tương ứng 1.5%) lên 21,115 điểm, S&P 500 tiến 32 điểm (tương ứng 1.4%) lên 2,395 điểm và Nasdaq Composite cộng 78 điểm (tương ứng 1.4%) lên 5,904 điểm. Tất cả 3 chỉ số này đều leo lên mức cao nhất mọi thời đại.

Sau đây là bảng thể hiện khoảng thời gian Dow Jones tiến thêm 1,000 điểm để lên một cột mốc quan trọng.

It's me

Tuấn Kiệt

If you don't live for something, you'll die for nothing

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán