Bài viết của Hoài Xuân

Một dự án được xem là chiến lược với kỳ vọng thay đổi bộ mặt Phú Yên nhưng sau 10 năm, tỉnh này phải nghĩ đến chuyện chấm dứt.

Một dự án được xem là chiến lược với kỳ vọng thay đổi bộ mặt Phú Yên nhưng sau 10 năm, tỉnh này phải nghĩ đến chuyện chấm dứt.

Ông Lê Tấn Hổ, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu Tư (KH-ĐT) tỉnh Phú Yên, cho biết ngày 21-7, sở đã có công văn đề nghị Công ty TNHH Dầu khí Vũng Rô (Công ty Vũng Rô) vào làm việc với tỉnh để cung cấp cụ thể tiến độ thực hiện dự án Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô do công ty này làm chủ đầu tư. Công văn của Sở KH-ĐT tỉnh Phú Yên thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

"Tối hậu thư"

Trước đó, ngày 19-7, UBND tỉnh Phú Yên nêu rõ tại buổi làm việc với UBND tỉnh hôm 25-5, lãnh đạo Công ty Vũng Rô cam kết đến ngày 7-7 sẽ có báo cáo chính thức về các nội dung liên quan đến dự án theo yêu cầu của UBND tỉnh. Theo đó, công ty sẽ báo cáo kết quả tái cơ cấu của nhà đầu tư về nhân sự, nguồn vốn đầu tư, phương án tài chính cho dự án; kế hoạch và tiến độ triển khai, trong đó có thời gian khởi công; cam kết pháp lý cụ thể về kế hoạch, tiến độ và hướng xử lý cụ thể nếu nhà đầu tư không thực hiện theo đúng các nội dung đã cam kết.

Tuy nhiên, đến nay, tỉnh Phú Yên vẫn chưa nhận được phản hồi nào từ nhà đầu tư. Vì vậy, UBND tỉnh Phú Yên giao Sở KH-ĐT có văn bản yêu cầu nhà đầu tư khẩn trương thực hiện các nội dung cam kết trước ngày 31-7.

"Hết thời hạn nêu trên, nếu nhà đầu tư không có báo cáo chính thức hoặc không làm việc với UBND tỉnh về các nội dung triển khai dự án theo cam kết, UBND tỉnh sẽ báo cáo xin ý kiến các bộ, ngành trung ương và cơ quan chức năng xem xét, quyết định chấm dứt thực hiện dự án" - công văn do ông Hoàng Văn Trà, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, yêu cầu.

Trả lời phóng viên Báo Người Lao Động, ông Trà cho rằng quan điểm của tỉnh vẫn là kêu gọi, tôn trọng nhà đầu tư nhưng khi đã chờ đến mức độ giới hạn mà nhà đầu tư không triển khai thì phải tính đến các bước tiếp theo. Về việc phải báo cáo với các bộ, ngành trung ương trước khi chấm dứt dự án, ông Trà giải thích: "Đây là việc lớn, riêng UBND tỉnh cũng không quyết được. Tỉnh không có thẩm quyền quyết những dự án lớn như vậy mà phải tranh thủ ý kiến các bộ, ngành trung ương và phải có ý kiến của Chính phủ nữa".

Dự án Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô với 100% vốn nước ngoài, được UBND tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận đầu tư lần đầu vào năm 2007. Dự án có công suất dự kiến 8 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư gần 3,2 tỉ USD.

Sau một thời gian dài chây ì và điều chỉnh quy mô, ngày 9-9-2014, chủ đầu tư làm lễ động thổ dự án. Thế nhưng, từ đó đến nay, dự án vẫn dang dở với hạng mục đầu tiên là san lấp mặt bằng.

Theo báo cáo trả lời cử tri của UBND tỉnh Phú Yên tại kỳ họp HĐND tỉnh mới đây, lý do mà nhà đầu tư chây ì vẫn chung chung: khủng khoảng Ukraine và chính sách của phương Tây làm giá đồng rúp tụt giảm mạnh; giá dầu thế giới giảm sâu nên nhà đầu tư phải cơ cấu một số vấn đề về nhân sự, nguồn vốn đầu tư, phương án tài chính để thực hiện dự án...

Nợ dân nhiều rồi!

Ông Nguyễn Chí Hiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên, cho rằng quan điểm của tỉnh bây giờ không phải là báo cáo nữa mà nhà đầu tư phải có tiến độ kế hoạch cụ thể, cách làm cụ thể. "Tỉnh đã nợ dân, nợ dư luận nhiều quá về nhà máy lọc dầu này rồi. Cứ nói, cứ hứa hẹn mãi là không được. Phú Yên không chờ để hứa hẹn nữa nên quan điểm của tỉnh là nhà đầu tư phải rõ ràng về dự án này" - ông Hiến khẳng định.

Theo ông Hiến, ngay sau khi điều chỉnh quy mô dự án từ 4 triệu tấn lên 8 triệu tấn/năm, nhà đầu tư đã hứa đến năm 2017 sẽ hoàn thành.

"Khi động thổ dự án vào năm 2014, họ cũng khẳng định sẽ triển khai nhanh các bước để đến năm 2017 hoàn thành. Thế nhưng, sau động thổ, họ không triển khai gì thêm, các bước cũng chưa rõ. Giờ tỉnh yêu cầu phải rõ ràng cụ, thể" - ông Hiến cương quyết. Theo ông, nếu nhà đầu tư tiếp tục chây ì, buộc tỉnh phải đề nghị các bộ, ngành cho chấm dứt dự án. Hiện nay, tiền ký quỹ, tạm ứng của nhà đầu tư khoảng 150 tỉ đồng đã được tỉnh đền bù cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án.

"Tiền đền bù, chi phí lâu nay của họ thì họ phải chịu thôi. Họ phải chấp nhận điều đó chứ không cách nào khác. Tỉnh sẽ tiếp tục kêu gọi nhà đầu tư khác chứ không thể chờ nữa" - ông Hiến nêu quan điểm.

Theo quy hoạch, dự án Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô "ngốn" diện tích đến 1.200 ha. Trong đó, gần 670 ha mặt nước và gần 538 ha đất liền của 3 thôn Đồng Bé, Phước Long và Phước Tân (xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa). Có gần 600 hộ dân bị ảnh hưởng vì dự án này.

Khi triển khai dự án, tỉnh Phú Yên đã ban hành Chỉ thị số 31/2007/CT-UBND về việc nghiêm cấm mọi hành vi lấn chiếm đất đai, xây dựng trái phép, đào bới làm biến dạng địa hình, sử dụng đất đai sai mục đích.

"Dự án kéo dài 10 năm, nhiều người dân bức xúc vì không biết nhà máy lọc dầu có làm hay không mà nhà cửa người dân không được xây, không được sửa" - ông Võ Ngọc Hòa, Chủ tịch UBND huyện Đông Hòa, cho hay.Tại buổi làm việc với Hội Luật gia Việt Nam liên quan đến Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô vào ngày 19-8-2013, đề cập việc chọn nhà đầu tư này, ông Lê Văn Trúc (lúc đó là Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên) khẳng định: "Đó là quyết định của lãnh đạo tỉnh. Tỉnh chịu trách nhiệm trước Đảng bộ, trước dân, trước Chính phủ. Tôi nói rõ đây là sự lựa chọn của tỉnh. Nếu lựa chọn đó sai thì tỉnh phải chịu trách nhiệm". Bây giờ, lãnh đạo UBND tỉnh ngày đó đều đã về hưu nhưng dự án thì vẫn chây ì!

Dự án trong mơ

Tại lễ động thổ Nhà máy Lọc dầu Vũng Rô, nhà đầu tư cho biết mục tiêu của dự án là chế biến và phân phối các sản phẩm lọc dầu từ dầu thô và các sản phẩm hóa dầu khác; xuất, nhập khẩu dầu thô và các sản phẩm dầu khí, hóa dầu; vận chuyển, lưu trữ dầu thô, các sản phẩm dầu khí hóa dầu và kinh doanh bến cảng, kho chứa. Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ đóng góp khoảng 111 triệu USD/năm cho ngân sách và tạo việc làm ổn định cho 1.300 lao động.

Vì vậy, tỉnh Phú Yên cho rằng đây là dự án có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đất nước. Với kỳ vọng này, dự án đã nhận được nhiều sự ưu đãi về thuế và tiền thuê mặt đất, mặt nước.

http://nld.com.vn/kinh-te/chay-i-nha-may-loc-dau-ti-do-2017072221293439.htm

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài coi hình thức đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần là giải pháp.

Nhiều nhà đầu tư nước ngoài coi hình thức đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần là giải pháp.

Nhộn nhịp...

Đầu tháng 7 vừa qua, Công ty Sekisui Chemical (Nhật Bản) đã ký kết hợp tác toàn diện với Công ty cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong phía Nam (Tiền Phong phía Nam - NTP). Với việc nắm giữ 25,3% cổ phần tại doanh nghiệp Việt Nam này, Sekisui sẽ có chân trong hội đồng quản trị của công ty để tham gia quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh. Hai bên không tiết lộ giá trị giao dịch, nhưng đại diện Sekisui cho biết họ chọn Tiền Phong phía Nam làm đối tác chiến lược là do công ty này có hệ thống phân phối rộng khắp Việt Nam. Còn theo giới quan sát, Sekisui sẽ không chỉ đưa sản phẩm của mình vào kênh phân phối của đối tác Việt Nam mà còn “bán” công nghệ sản xuất cho doanh nghiệp này.

Trước đó, hàng loạt doanh nghiệp trong nước cũng lọt vào tầm ngắm hoặc được các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, như Công ty Thực phẩm Cầu Tre, Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Việt Nam (VCM), sữa Vinamilk (VNM), bia Sabeco (SAB)...

Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong nửa đầu năm nay, cả nước có hơn 2.500 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị 2,24 tỉ đô la Mỹ, tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý tại TPHCM, theo Sở Kế hoạch và Đầu tư, trong sáu tháng đầu năm nay, thành phố có 915 trường hợp nhà đầu tư nước ngoài đăng ký góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp trong các doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 1,4 tỉ đô la Mỹ. Con số này gần gấp đôi so với mức 720 triệu đô la Mỹ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của hơn 430 dự án mới và tăng vốn trong cùng thời gian. Điều này cho thấy nguồn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài có xu hướng tăng mạnh.

Bám rễ và lướt sóng

Theo giới phân tích, đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần có hai dạng: đầu tư để chuyển nhượng ngay nhằm tìm lợi nhuận từ giá trị chênh lệch, hoặc đầu tư để cùng nhau phát triển lâu dài. Phía bán sẽ không khó để phân biệt hai chủ trương đầu tư này của phía mua nếu đặt ra những ràng buộc từ giai đoạn đầu tiếp cận. Theo giới quan sát, những động thái đầu tư “lướt sóng” chủ yếu tập trung ở những nhà đầu tư cá nhân hoặc những quỹ đầu tư ngắn hạn. Các doanh nghiệp lớn tham gia góp vốn thường là muốn đi đường dài với những động thái như nâng cấp công nghệ, mở rộng sản xuất, phát triển thị trường trong nước, mở rộng thị trường nước ngoài... Như Siam City Cement (SCCC) của Thái Lan đã bỏ ra hàng trăm triệu đô la Mỹ mua lại 65% cổ phần của Holcim Việt Nam. SCCC dự định sẽ rót thêm 30-50 triệu đô la trong vòng 6-12 tháng tới để tăng năng lực sản xuất tại các nhà máy xi măng ở Kiên Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, TPHCM và Đồng Nai. Hay tập đoàn SCG, sau khi mua lại 100% vốn cổ phần của Công ty cổ phần Vật liệu xây dựng Việt Nam (VCM) tại miền Trung, đã nâng tổng công suất xi măng của tập đoàn này trong khối ASEAN lên 33,5 triệu tấn.

Sự tham gia mua cổ phần của khối ngoại còn được đánh giá giúp tăng hiệu quả thoái vốn nhà nước; các doanh nghiệp có nguồn vốn mới, năng lực quản trị mới, nâng cao tính cạnh tranh, tính minh bạch...

Hoặc như gần đây, doanh nghiệp chuyên sản xuất và xuất khẩu thực phẩm đông lạnh hàng đầu của Việt Nam là Cầu Tre đã được đổi tên thành Công ty cổ phần Thực phẩm CJ Cầu Tre, do tập đoàn CJ CheilJedang (Hàn Quốc) đã nâng tỷ lệ sở hữu cổ phần nắm giữ tại Cầu Tre từ mức 51,6% hồi cuối năm 2016 lên 71,6% vào tháng 5 vừa qua. Ông Shin Hyun Soo, Giám đốc ngành hàng thực phẩm toàn cầu của CJ CheilJedang, cho biết với thế mạnh về R&D (nghiên cứu và phát triển) và cơ sở hạ tầng hiện đại, CJ Cầu Tre sẽ hướng đến trở thành doanh nghiệp toàn cầu.

Và để đạt được tầm nhìn chiến lược này, công ty triển khai xây dựng trung tâm R&D thực phẩm và trung tâm an toàn thực phẩm. Công ty cũng hướng đến xuất khẩu thực phẩm ra các thị trường nước ngoài thông qua mạng lưới của tập đoàn CJ ở hải ngoại; mở rộng nghiên cứu để tạo ra các sản phẩm mới theo xu hướng K-Food qua kết hợp với thực phẩm truyền thống Việt Nam. Giai đoạn 1 của dự án tổ hợp chế biến thực phẩm tại khu công nghiệp Hiệp Phước, TPHCM với tổng mức đầu tư khoảng 1.200 tỉ đồng (khoảng 53,3 triệu đô la Mỹ) của công ty dự kiến sẽ hoạt động vào giữa năm tới, công suất thiết kế khoảng 12.000 tấn sản phẩm/năm, gấp đôi công suất nhà máy hiện nay của công ty.

Các thương vụ M&A lớn trong thời gian qua còn cho thấy công ty nước ngoài thường nhắm đến các doanh nghiệp đầu ngành, có thương hiệu, thị phần lớn, hay sở hữu lợi thế nguồn tài nguyên ở trong nước và họ chấp nhận mua cổ phần với mức giá cao hơn giá thị trường. Theo tình hình này, nhiều người cho rằng M&A có chiều hướng gia tăng trong thời gian tới.

Trực tiếp, gián tiếp và vấn đề đặt ra

Trước đây, các thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần được thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư 2005 với một số quy định chưa rõ ràng, khiến các cơ quan cấp chứng nhận đầu tư mỗi nơi hiểu một kiểu, nhà đầu tư chưa an tâm.

Hiện nay, bên cạnh những thuận lợi do Luật Đầu tư năm 2014 mang lại trong lĩnh vực M&A, việc các địa phương tạo cơ chế thuận lợi cho nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần cũng góp phần thúc đẩy gia tăng các giao dịch. Hiện nhà đầu tư góp vốn, mua cổ phần chỉ cần làm các thủ tục đăng ký với các cơ quan quản lý nhà nước. TPHCM thậm chí còn cho phép đăng ký qua mạng Internet nên thủ tục càng nhanh gọn. Mặt khác, việc Nghị định số 60/2015/NĐ-CP cho phép tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại các công ty niêm yết và công ty đại chúng từ 49% lên 100% (trừ một số công ty hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện) được coi là đã góp phần đẩy mạnh đầu tư qua hình thức M&A nhiều hơn. Sự tham gia mua cổ phần của khối ngoại còn được đánh giá giúp tăng hiệu quả thoái vốn nhà nước; các doanh nghiệp có nguồn vốn mới, năng lực quản trị mới, nâng cao tính cạnh tranh, tính minh bạch...

Tuy nhiên, cũng có ý kiến quan ngại khi đầu tư gián tiếp tăng nhanh sẽ hạn chế đầu tư trực tiếp thông qua các dự án mới. Mặt khác, với xu hướng tăng tỷ lệ nắm giữ cổ phần tại các doanh nghiệp đầu ngành, một số lĩnh vực trong nước có thể bị chi phối bởi các nhà đầu tư nước ngoài. Trên thực tế, một số nhà đầu tư qua M&A nhằm mục đích thôn tính thị trường hoặc sở hữu, khai thác nguồn tài nguyên để chuyển ra nước ngoài...

Vấn đề thu thuế chuyển nhượng cũng được đặt ra khi nhiều doanh nghiệp tránh đóng thuế. Đơn cử thương vụ Holcim chuyển nhượng cổ phần cho đối tác Thái Lan, Holcim cho rằng đây là hoạt động chuyển nhượng không phải đóng thuế; hai nước cũng đã ký hiệp định chống đánh thuế hai lần. Nhưng theo Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn, cơ quan thuế đã tổ chức hai đoàn thanh tra tại Holcim sau khi công ty này chuyển nhượng cổ phần. Kết quả là ngành thuế đã thu được hơn 1.600 tỉ đồng vào ngân sách. Trước đó cũng có không ít thương vụ tương tự. 

http://www.thesaigontimes.vn/162662/Khi-nuoc-ngoai-gop-von-mua-co-phan.html

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông tiếp tục đối mặt với nguy cơ chậm tiến độ và lỡ hẹn về mốc khai thác thương mại khi nguồn vốn vay bổ sung 250 triệu USD từ phía Trung Quốc vẫn chưa được Ngân ...

Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông tiếp tục đối mặt với nguy cơ chậm tiến độ và lỡ hẹn về mốc khai thác thương mại khi nguồn vốn vay bổ sung 250 triệu USD từ phía Trung Quốc vẫn chưa được Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (Eximbank Trung Quốc) giải ngân tới tay Tổng thầu EPC.

Người dân đã được tham quan, đóng góp ý kiến về mẫu đoàn tàu Cát Linh-Hà Đông. (Ảnh: Minh Sơn/Vietnam+)

Theo báo cáo của Ban Quản lý dự án đường sắt (Bộ Giao thông Vận tải), hiện tại, dự án đã đạt 94% giá trị xây lắp và theo kế hoạch tuyến đường sắt đô thị đầu tiên vận hành thử liên động vào tháng Mười tới và chính thức khai thác thương mại trong năm 2018.

Ông Vũ Hồng Phương, Phó giám đốc phụ trách Ban Quản lý dự án đường sắt cho biết, Tổng thầu EPC Trung Quốc và các nhà thầu phụ đang có những cố gắng, tích cực trong thi công hoàn thiện các hạng mục xây lắp. Các hạng mục thiết bị, phương tiện của dự án đang được triển khai theo kế hoạch.

Ông Lê Kim Thành, Cục trưởng Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng công trình giao thông cho biết, một trong những vướng mắc lớn nhất ảnh hưởng đến tiến độ dự án chính là thiếu vốn.

Cụ thể, theo ông Thành, Hiệp định vay bổ sung 250 triệu USD đã được ký kết ngày 11/5 nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Để hoàn thiện các thủ tục hiệu lực cho khoản vay, Bộ Tài chính đã gửi Bộ Tư pháp thư của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc đề nghị phía Việt Nam cho ý kiến đối với mẫu ý kiến pháp lý. Bộ Giao thông Vận tải sau đó cũng đã có văn bản gửi Bộ Tài chính hỗ trợ các thủ tục cho khoản vay bổ sung này.

Ngày 16/6/2017, Bộ Tư pháp và China Eximbank đã họp, tuy nhiên các bên vẫn chưa thống nhất ý kiến. Để dự án hoàn thành theo kế hoạch, dự kiến đưa vào khai thác thương mại trong quý 1/2018, Bộ Giao thông Vận tải có văn bản báo cáo Thủ tướng chỉ đạo Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính để thống nhất với Eximbank Trung Quốc, ký hợp đồng vay vốn và triển khai giải ngân trong tháng Bảy này cho công trình,” ông Thành kiến nghị.

Tại buổi làm việc của Ban cán sự đảng Bộ Giao thông Vận tải sáng 19/7 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Trương Quang Nghĩa yêu cầu các Thứ trưởng phụ trách Bộ kiến nghị với Chính phủ thúc đẩy nhanh việc giải ngân cho dự án.

"Vì nếu chậm giải ngân thì phần thiệt thòi sẽ là tổng thầu Trung Quốc, chứ không phải phía Việt Nam. Quan điểm của Bộ Giao thông Vận tải luôn tạo điều kiện tốt nhất và hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện nhiệm vụ liên quan đến ngành, tuy nhiên tất cả phải trên lợi ích có lợi của đôi bên, theo đúng pháp luật quy định và các điều khoản của hợp đồng đã ký kết,” Bộ trưởng Trương Quang Nghĩa nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải, dự án đang trong giai đoạn cuối cùng để hoàn thành theo kế hoạch, nhu cầu về nguồn vốn để giải ngân cho các hạng mục còn lại rất lớn, nhưng việc cung cấp nguồn vốn đang bị chậm trễ. Đây là vấn đề quyết định đến tiến độ dự án trong giai đoạn hiện nay. Theo kế hoạch ban đầu, dự án đường sắt Cát Linh-Hà Đông thực hiện từ tháng 11/2008 tới tháng 11/2013, với tổng mức đầu tư hơn 552 triệu USD. Trong đó, vốn vay Trung Quốc là 419 triệu USD (gồm 169 triệu USD vay ưu đãi, lãi suất 3% và 250 triệu USD vay ưu đãi bên mua 4%), vốn đối ứng Việt Nam là 133,86 triệu USD. Tuy nhiên dự án chậm tiến độ, đến tháng 10/2011 mới chính thức triển khai.

Đến năm 2016, dự án được điều chỉnh tổng vốn đầu tư lên hơn 868 triệu USD (hơn 18.000 tỷ đồng), tăng hơn 315 triệu USD. Trong đó, phần vốn vay Trung Quốc là 669,62 triệu USD (tăng 250,62 triệu USD), vốn đối ứng Việt Nam là 198,42 triệu USD (tăng 64,56 triệu USD). Thủ tục vay vốn bổ sung đối với phần vốn vay Trung Quốc tăng thêm 250 triệu USD dự kiến hoàn tất vào cuối tháng Ba vừa qua nhưng đến nay vẫn chưa được giải ngân.

Trước đó, Bộ Giao thông Vận tải đã xếp hạng năng lực của Tập đoàn Cục 6 đường sắt Trung Quốc (nhà thầu dự án Cát Linh-Hà Đông) vào nhóm trung bình.

Theo tiêu chí của Bộ Giao thông Vận tải, các nhà thầu được xếp hạng trung bình do có 4-6 lỗi trên một gói thầu hoặc từ 8-20 lỗi trong các gói thầu. Kết quả đánh giá này căn cứ trên cơ sở chấm điểm nhà thầu của chủ đầu tư và Ban quản lý dự án về tình hình thực hiện các hạng mục của nhà thầu trong năm 2016./.

http://www.vietnamplus.vn/duong-sat-cat-linhha-dong-lo-lo-hen-vi-cham-nguon-von-vay/457328.vnp

Dự kiến đầu tháng 8 tới đây, thị trường chứng khoán (TTCK) phái sinh sẽ chính thức đi vào hoạt động. Trải qua một chặng đường khá dài chuẩn bị về cơ sở vật chất, điều kiện thị trường cũng như trình ...

Dự kiến đầu tháng 8 tới đây, thị trường chứng khoán (TTCK) phái sinh sẽ chính thức đi vào hoạt động. Trải qua một chặng đường khá dài chuẩn bị về cơ sở vật chất, điều kiện thị trường cũng như trình độ nhân lực, đến thời điểm này, có thể thấy tất cả mọi thứ đã đạt đến điểm chín muồi cho sự ra đời của TTCK phái sinh.

Nấc thang phát triển tiếp theo của TTCK

Là sản phẩm gắn liền với chứng khoán và TTCK, TTCK phái sinh đã hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay trên thế giới. Đến nay ước tính đã có trên 70 sở giao dịch chứng khoán phái sinh khác nhau trên thế giới. Dù Việt Nam hiện mới chỉ được xếp ở nhóm thị trường cận biên (frontier market) nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không được phép cho ra đời và vận hành những công cụ tài chính hiện đại.

TTCK Việt Nam đến nay đã ra đời được hơn 16 năm với những bước phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Thống kê cho thấy, trong những năm qua, quy mô TTCK đã tăng trưởng không ngừng. Mức vốn hóa thị trường cổ phiếu từ 43,2% GDP năm 2016 đã tăng lên 50,3% GDP vào tháng 3-2017, gấp hơn ba lần so với năm 2010 và trên 2.000 lần so với năm 2000. Trong khi đó, thị trường trái phiếu Chính phủ cũng có tốc độ tăng trưởng bình quân ở mức rất cao (31%/năm).

TTCK (bao gồm cả kênh cổ phiếu và trái phiếu) đã giúp huy động một nguồn vốn không nhỏ cho nền kinh tế với tổng giá trị vốn huy động được kể từ khi đi vào hoạt động đến nay đạt khoảng hai triệu tỉ đồng từ nhà đầu tư trong nước và khoảng 15 tỉ đô la Mỹ vốn đầu tư gián tiếp. Số lượng tài khoản giao dịch tính đến 31-12-2016 đạt 1,71 triệu tài khoản, trong đó có 9.942 tài khoản giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư tổ chức.

Trên cơ sở đó, sự ra đời TTCK phái sinh được coi là bước tiếp theo để hoàn chỉnh cấu trúc thị trường tài chính, bao gồm thị trường huy động vốn và thị trường phân tán rủi ro. Ngoài những điều kiện vật chất liên quan đến hệ thống bù trừ thanh toán, khả năng đáp ứng quy định về vốn và trình độ nhân lực của các thành viên tham gia thị trường thì khung pháp lý cho thị trường vận hành cũng đã hoàn tất.

Cụ thể, Chính phủ đã ban hành Nghị định 42/2015/NĐ-CP về chứng khoán phái sinh và TTCK phái sinh với các quy định khung rất cơ bản về thiết kế, niêm yết sản phẩm, tổ chức giao dịch và thanh toán, công bố thông tin và quản lý giám sát trên TTCK phái sinh. Dưới Nghị định, Bộ Tài chính cũng đã ban hành các thông tư hướng dẫn. Đó là Thông tư 11/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định 42/2015/NĐ-CP về chứng khoán phái sinh và TTCK phái sinh và Thông tư 23/2017/TT-BTC sửa đổi một số điều của Thông tư 11/2016/TT-BTC tháo gỡ một số vướng mắc trong quá trình chuẩn bị triển khai TTCK phái sinh.

Tác động tích cực tới thanh khoản thị trường

Sự ra đời của TTCK phái sinh được đánh giá sẽ mở ra một cánh cửa mới cho TTCK nói riêng và thị trường tài chính Việt Nam nói chung ở khía cạnh hoàn thiện thể chế, cấu trúc thị trường và là tiền đề để cho ra đời các sản phẩm và công cụ đầu tư mới, hấp dẫn, phức tạp và đa dạng. Dễ thấy nhất chính là cơ hội gia tăng thanh khoản cho thị trường nhờ tăng tính hấp dẫn đối với cả nhà đầu tư trong nước lẫn nước ngoài. Chứng khoán phái sinh là phân khúc thị trường nhằm mục tiêu phòng vệ rủi ro, cho nên các sản phẩm phái sinh sẽ trở thành công cụ quản trị rủi ro không thể thiếu đối với các danh mục đầu tư có quy mô vốn lớn tại Việt Nam, đặc biệt từ các công ty quản lý quỹ nước ngoài. Ngoài ra, với đặc tính sử dụng đòn bẩy tài chính cao, nhà đầu tư sẽ có khả năng thu được mức lợi nhuận rất lớn một khi đoán định đúng xu hướng thị trường. Yếu tố này được đánh giá là đặc biệt hấp dẫn đối với nhà đầu tư trong nước.

Hiện Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội đã hoàn tất việc thiết kế ba sản phẩm chứng khoán phái sinh để giao dịch lần đầu trên TTCK phái sinh Việt Nam. Đó là hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ và hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (áp dụng cho hai chỉ số VN30 và HNX30). Trong đó, hợp đồng tương lai chỉ số VN30-Index dự kiến sẽ được đưa vào giao dịch trên TTCK phái sinh ngay khi mở cửa thị trường. Mẫu hợp đồng đối với các sản phẩm này cũng đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.

Đáng lưu ý, chứng khoán phái sinh là sản phẩm giúp nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro song nó cũng ẩn chứa những rủi ro mang tính hệ thống. Trong lịch sử, TTCK thế giới đã nhiều lần chứng kiến rủi ro từ các sản phẩm chứng khoán phái sinh, gần nhất là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 xuất phát từ loại chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản nợ dưới chuẩn. Do vậy, các cơ quan quản lý cần nhận định rõ những trường hợp rủi ro có thể xảy ra, đồng thời phải liên tục giám sát, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa các quy định khi TTCK phái sinh chính thức đi vào hoạt động.

Về dài hạn, TTCK phái sinh được kỳ vọng sẽ phát triển đa dạng về sản phẩm giao dịch, bao gồm các hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn đối với cả chứng khoán, tiền tệ và hàng hóa. Xa hơn nữa, bên cạnh một TTCK phái sinh tập trung, có thể cho phép tồn tại một TTCK phái sinh phi tập trung (OTC) có quản lý. Thực tế cho thấy, một số loại sản phẩm phái sinh tiền tệ phù hợp với giao dịch trên thị trường OTC, một số sản phẩm khác lại phù hợp với giao dịch trên thị trường tập trung.

http://www.thesaigontimes.vn/162682/TTCK-phai-sinh-da-san-sang.html

“Năm nay thời gian không có nhiều nên không tổ chức hội nghị sơ kết ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết tại hội nghị sáng nay (21/7), thay vào đó là ưu tiên chuẩn ...

“Năm nay thời gian không có nhiều nên không tổ chức hội nghị sơ kết ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm”, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết tại hội nghị sáng nay (21/7), thay vào đó là ưu tiên chuẩn bị đẩy nhanh xử lý nợ xấu.

“Phấn đấu đến 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3%".

Hai ngày sau khi Thủ tướng Chính phủ có chỉ đạo, cũng như trước thềm nghị quyết về xử lý nợ xấu của Quốc hội bắt đầu có hiệu lực (15/8/2017), Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội nghị toàn ngành nói trên, cũng như có chỉ thị cụ thể tới từng đầu mối trong ngành để chuẩn bị thực hiện.

Về nghị quyết về thí điểm xử lý nợ xấu của Quốc hội, Thống đốc Lê Minh Hưng nhấn mạnh: “Đây là văn bản pháp lý rất quan trọng khi mà lần đầu tiên, các vấn đề vướng mắc về pháp lý của ngành ngân hàngliên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm các khoản nợ của tổ chức tín dụng đã kéo dài nhiều năm qua được giải quyết trong một văn bản của Quốc hội. Nếu được triển khai tốt trong thực tiễn sẽ tạo cơ chế xử lý đồng bộ, hiệu quả, khả thi để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu của tổ chức tín dụng, qua đó góp phần khơi thông nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế đất nước”.

Với ý nghĩa trên, ngay sau khi Quốc hội thông qua nghị quyết và Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định tổ chức hội nghị triển khai trong toàn ngành ngân hàng nhằm quán triệt các nội dung cơ bản của nghị quyết và đề án, chỉ đạo một cách kịp thời, cụ thể, hệ thống các nhiệm vụ, giải pháp sẽ triển khai trong thời gian tới để tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, hiệu quả trong thực tiễn.

Thống đốc cũng cho biết, ngày 19/7 vừa qua, Tòa án Nhân dân tối cao đã có văn bản yêu cầu các tòa án nhân dân các cấp và các đơn vị trực thuộc thống nhất triển khai một số nội dung nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm của các hợp đồng tín dụng, góp phần xử lý nợ xấu trên tinh thần của Nghị quyết 42 của Quốc hội.

“Văn bản này thực sự đã làm cho các tổ chức tín dụng hết sức phấn khởi và hy vọng việc xử lý tài sản bảo đảm trong thời gian tới sẽ được thực hiện nhanh chóng và thuận lợi hơn. Nhân đây, Ngân hàng Nhà nước xin trân trọng cảm ơn Tòa án Nhân dân tối cao đã kịp thời ban hành văn bản này”, Thống đốc Lê Minh Hưng phát biểu.

Tại hội nghị, một lần nữa thực trạng nợ xấu được nhìn lại. Theo Ngân hàng Nhà nước, mặc dù quá trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu giai đoạn 2011-2015 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, song hệ thống vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế.

Cụ thể, quy mô và năng lực tài chính của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam nhỏ so với khu vực và so với nhu cầu của nền kinh tế; hiệu quả hoạt động kinh doanh chưa cao; năng lực quản trị và kiểm soát rủi ro của các tổ chức tín dụng vẫn còn bất cập so với quy mô, tốc độ tăng trưởng, mức độ và yêu cầu về quản trị rủi ro trong hoạt động; tình trạng sở hữu chéo, nhóm cổ đông chi phối đã từng bước được kiểm soát nhưng trong thực tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nợ xấu và nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu vẫn còn cao.

Một lần nữa, tỷ lệ nợ xấu cao được dẫn giải cụ thể. Tính đến 31/12/2016, tỷ lệ nợ xấu nội bảng, nợ xấu đã bán cho VAMC chưa xử lý chiếm 5,81% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế; nếu tính cả nợ xấu đã được cơ cấu lại giữ nguyên nhóm nợ thì tỷ lệ này sẽ là 10,08% trên tổng dư nợ cho vay, đầu tư đối với nền kinh tế.

Tại hội nghị trên, Ngân hàng Nhà nước sẽ bàn cụ thể, quán triệt các yêu cầu, biện pháp và lộ trình triển khai và mục tiêu xử lý từ nay đến năm 2020, giao cụ thể từng kế hoạch tại các tổ chức tín dụng.

Trong hôm qua (20/7), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng đã có chỉ thị chi tiết tới toàn ngành.

Tại chỉ thị trên, Thống đốc yêu cầu toàn hệ thống triển khai đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu tại đề án đã được duyệt, lành mạnh hóa tình hình tài chính, nâng cao năng lực quản trị của các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Chỉ thị đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, các ngân hàng thương mại cơ bản có mức vốn tự có theo chuẩn mực của Basel 2; có ít nhất từ 1 đến 2 ngân hàng thương mại nằm trong tốp 100 ngân hàng lớn nhất trong khu vực Châu Á.

Ngay khi có hiệu lực, Thống đốc yêu cầu triển khai thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Quốc hội để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu và tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị quyết, đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh và nâng cao chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng; phát huy vai trò Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) trong việc xử lý nợ xấu.

“Phấn đấu đến năm 2020 đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các tổ chức tín dụng, nợ xấu đã bán cho VAMC và nợ xấu đã thực hiện các biện pháp phân loại nợ xuống dưới 3% (không bao gồm nợ xấu của các ngân hàng thương mại yếu kém được Chính phủ phê duyệt xử lý theo phương án riêng)”, Chỉ thị nêu mục tiêu cụ thể.

http://vneconomy.vn/tai-chinh/toan-nganh-ngan-hang-chuan-bi-day-nhanh-xu-ly-no-xau-20170721104731494.htm

Tiếp sau câu chuyện của Trường Hải ở Quảng Nam, câu chuyện của Samsung, Masan ở Thái Nguyên cho thấy vai trò rất lớn của các doanh nghiệp hàng đầu đối với vấn đề ngân sách.

Tiếp sau câu chuyện của Trường Hải ở Quảng Nam, câu chuyện của Samsung, Masan ở Thái Nguyên cho thấy vai trò rất lớn của các doanh nghiệp hàng đầu đối với vấn đề ngân sách.

Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên ước thực hiện được 860 tỷ đồng.

Năm 2017, ngành thuế Thái Nguyên được Bộ Tài chính giao nhiệm vụ thu NSNN 6.610 tỷ đồng; HĐND-UBND tỉnh giao dự toán 6.760 tỷ đồng. Kết thúc nửa đầu năm, ước thu ngân sách do ngành thuế Thái Nguyên thực đã đạt được 5.136,9 tỷ đồng, bằng 78% dự toán năm Bộ giao, bằng 128% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, ước thu 6 tháng 2017 (loại trừ thu tiền sử dụng đất và xổ số) thực hiện được 4.287,4 tỷ đồng, bằng 72% dự toán năm Bộ giao, bằng 117% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này có sự đóng góp rất đáng kể của các doanh nghiệp lớn như Samsung, Masan (mỏ Núi Pháo)...

Cụ thể, về thu từ doanh nghiệp có vốn ĐTNN, ước thực hiện 6 tháng được 1.159,9 tỷ đồng (bằng 73% dự toán năm Bộ giao, bằng 84% so với cùng kỳ năm trước). Số thu chỉ tiêu này chủ yếu từ các nhà thầu nước ngoài của dự án Samsung.

Chỉ tiêu này đạt cao do số nộp chủ yếu từ Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên ước thực hiện được 860 tỷ đồng, chiếm 81% tổng số thu của chỉ tiêu này.

Theo Cục thuế Thái Nguyên, điều này chứng minh sự phụ thuộc rất lớn của của chỉ tiêu thu từ khu vực đầu tư nước ngoài đối với việc giải ngân vốn đầu tư của dự án Samsung. Còn lại các đơn vị khác có số thuế phát sinh đạt thấp hoặc bằng so với số thu cùng kỳ năm trước.

Đối với mảng thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh, ước thực hiện 6 tháng được 1.071,4 tỷ đồng (bằng 86% dự toán năm Bộ giao, bằng 183% so với cùng kỳ năm trước), trong đó đơn vị ước thực hiện cao là Công ty TNHH khai thác chế biến KS Núi Pháo ước thực hiện được 550 tỷ đồng.

Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo cũng đóng góp đáng kể về thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản: ước thực hiện 6 tháng của mảng này được 119,7 tỷ đồng, (bằng 150% dự toán năm Bộ giao, bằng 113% so với cùng kỳ năm trước), trong đó Công ty TNHH khai thác chế biến khoáng sản Núi Pháo nộp được 73,1 tỷ đồng.

Về thuế TNCN, ước thực hiện 6 tháng được 643,1 tỷ đồng (bằng 82% dự toán năm Bộ giao, bằng 144% so với cùng kỳ năm trước). Chỉ tiêu này đạt cao là do thu từ các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên và các cá nhân vãng lai làm việc tại các nhà thầu của đơn vị vệ tinh phục vụ dự án Samsung đang trong giai đoạn kết thúc đầu tư, các chuyên gia nước ngoài cần hoàn thành nghĩa vụ thuế TNCN trước khi về nước.

Do vậy, số nộp lũy kế chủ yếu đạt cao từ Công ty Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên ước thực hiện được 200 tỷ đồng; các cá nhân vãng lai làm việc tại các nhà thầu của đơn vị vệ tinh phục vụ dự án Samsung ước thực hiện được 145 tỷ đồng; Công ty Samsung Electro-Mechanics ước thực hiện được 27 tỷ đồng; Công ty TNHH Bokwang vina ước thực hiện được 8,5 tỷ đồng.

http://vietnamfinance.vn/tai-chinh/samsung-masan-da-ganh-ngan-sach-tai-thai-nguyen-nhu-the-nao-20170721084655277.htm

Nguồn cung dồi dào, thị trường Trung Quốc mở nhỏ giọt, nhưng giá heo hơi đang được đẩy lên chóng mặt. Các chuyên gia khuyên rằng nếu rót vốn tăng đàn heo lúc này sẽ rất rủi ro. 

Nguồn cung dồi dào, thị trường Trung Quốc mở nhỏ giọt, nhưng giá heo hơi đang được đẩy lên chóng mặt. Các chuyên gia khuyên rằng nếu rót vốn tăng đàn heo lúc này sẽ rất rủi ro. 

Nhiều chuyên gia khuyến cáo người chăn nuôi chưa nên đầu tư mở rộng đàn heo ngay. Trong ảnh: một trại heo ở xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, Đồng Nai - Ảnh: TRUNG ANH

Theo các chuyên gia, việc vội vàng đầu tư mở rộng đàn heo thịt tại thời điểm này có rất nhiều rủi ro do nguồn cung trong nước vẫn dồi dào, giá heo hơi tăng chưa bền vững và chi phí tái đàn hiện đang rất cao.

Giá con giống tăng chóng mặt

Sau khi giá heo hơi tăng mạnh trong hai tuần đầu tháng 7, nhiều nhà chăn nuôi nhỏ và cả doanh nghiệp đã nhanh chóng tái mở rộng đàn, khiến giá heo giống và heo nái hậu bị tăng chóng mặt.

Chẳng hạn vào giữa tháng 6-2017, heo giống 20 kg/con chỉ 300.000-400.000 đồng/kg không có người mua, nay tăng lên 1,5-1,6 triệu đồng/con vẫn có người săn lùng mua.

Tương tự, giá heo hậu bị cũng từ mức 2,5 triệu đồng/con tăng lên 6,5 triệu đồng/con.

Theo ông Nguyễn Kim Đoán, Phó chủ tịch Hội Chăn nuôi Đồng Nai, mức giá heo giống và heo hậu bị hiện đã gần bằng mức giá tại thời điểm giá heo hơi lên tới 50.000 đồng/kg!

“Giá heo hơi tăng nóng thời gian qua đang có lợi cho các đơn vị bán heo hậu bị và heo giống. Nhưng mua heo giống và heo hậu bị với giá ngất ngưởng tại thời điểm này là quá nhiều rủi ro”, ông Đoán cảnh báo.

Trong khi đó, theo một số nhà chăn nuôi có kinh nghiệm, các yếu tố giúp giá heo hơi tăng mạnh thời gian gần đây là không bền vững, có dấu hiệu của việc đẩy giá lên để trục lợi.

Ngoài lý do đàn heo thịt giảm mạnh, thị trường Trung Quốc “ăn hàng” cũng là yếu tố giúp giá heo trong nước tăng.

Tuy nhiên, lượng heo Trung Quốc gom thời gian qua khá nhỏ so với trước, trong khi đó giá heo hơi trong nước lại tăng lên mức gần ngang bằng với giá heo hơi tại thị trường nội địa Trung Quốc là điều vô lý.

Ông Trần Văn Quang, Chi cục trưởng Chi cục Thú y Đồng Nai, cho biết những ngày qua thương lái gom heo đi Trung Quốc trên địa bàn tỉnh ở mức 15-16 xe mỗi ngày (khoảng 2.000 con), thấp hơn nhiều so với cao điểm năm 2016.

Ông Nguyễn Kim Đoán cũng cho biết giá heo hơi tại Đồng Nai thời gian gần đây thậm chí bằng với mức giá tại cửa khẩu phía Bắc, trong khi trước đây thương lái chỉ mua khi mức chênh lệch giá giữa cửa khẩu và khu vực chăn nuôi vào khoảng 10.000 đồng/kg.

“Có hiện tượng “thổi” giá heo ở một số khâu” - ông Đoán nói.

Và trong thực tế, sau khi lên đến đỉnh điểm 43.000-45.000 đồng/kg, giá heo hơi đã giảm mạnh gần 10.000 đồng/kg chỉ trong vài ba ngày qua và thương lái cũng hạn chế mua vào.

Chẳng hạn ngày 19-7, heo hơi tại các trại chỉ được thương lái trả giá 35.000-37.000 đồng/kg, nhưng nhiều thương lái chỉ hỏi chứ không bắt heo.

Nguồn cung dồi dào, tăng đàn khó tránh rủi ro

Ông Trần Quang Trung, chủ trại heo trên 1.000 con tại Gia Kiệm (Thống Nhất, Đồng Nai), cho biết sau đợt thua lỗ nặng thời gian qua, trang trại của ông đã giảm gần 30% tổng đàn, nhiều heo nái chất lượng kém hơn đã bị bán đi.

Với giá heo hơi hiện tại, ông Trung cho biết không có ý định tăng đàn dù đã có đàn heo nái sẵn trong chuồng.

“Trung Quốc đã mua heo trở lại, nhưng không có gì chắc chắn thị trường này sẽ mua đến khi nào. Do đó việc mở rộng đàn heo bây giờ là quá rủi ro. Qua đợt vừa rồi tui sợ lắm” - ông Trung cho biết.

Trao đổi với chúng tôi, ông Hoàng Thanh Vân, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN&PTNT, cho biết theo thống kê chưa đầy đủ, tổng đàn heo cả nước hiện còn khoảng 27,2 triệu con, giảm mạnh so với con số 29,2 triệu con vào đầu năm.

Với mức tiêu thụ cả nước bình quân 300.000 tấn heo hơi/tháng, số lượng đàn heo còn lại đủ khả năng đáp ứng nhu cầu từ nay đến cuối năm.

“Việc tăng đàn với kỳ vọng giá heo sẽ tăng mạnh trong thời gian tới là không có cơ sở, thậm chí nhiều rủi ro nếu nguồn cung bị dư thừa trong thời gian tới” - ông Vân nói.

Theo ông Vân, trong khi nguồn cung heo thịt trong nước vẫn đang dồi dào, nhu cầu không quá biến động, nếu người chăn nuôi thấy giá heo hơi tăng mà vội vàng đầu tư mở rộng đàn heo sẽ khó tránh khỏi rủi ro.

Ông Vân cho biết Bộ NN&PTNT sẽ sớm có văn bản gửi các địa phương, trong đó đề nghị không nên tăng đầu con mà cần đảm bảo chất lượng đàn, lượng giống và giữ giá thịt heo ở mức bình ổn để người chăn nuôi có lời.

“Ngoài ra, các hộ nuôi, các trang trại có heo đến lứa thì cứ bán, không nên giữ để tránh tạo hiện tượng khan hiếm giả tạo”, ông Vân khuyến cáo.

Giá heo hơi tiếp tục giảm

Trong ngày 20-7, giá heo hơi được các thương lái mua vào chỉ còn 35.000-37.000 đồng/kg, giảm 3.000-5.000 đồng so với trước đó hai ngày và giảm xấp xỉ 10.000 đồng so với thời điểm giá lên đỉnh.

Ông Ngô Văn Minh - người chăn nuôi tại huyện Trảng Bom, Đồng Nai - thừa nhận với mức giá này, nếu bán hết 100 con heo thịt (khoảng 100 kg/con) của trang trại, gia đình ông đã “mất” 80 triệu đồng so với tuần trước, khi heo hơi được thương lái mua với mức giá 43.000-45.000 đồng/kg. Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai, thời điểm giá tăng cao, người nuôi không được hưởng lợi nhiều vì đã ghim heo chờ giá tăng thêm, lượng heo được bán chỉ chiếm 10-20%, còn lại là heo của các công ty chăn nuôi.

http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20170721/rot-von-nuoi-heo-luc-nay-se-ganh-nhieu-rui-ro/1355818.html

“Tôi không xác nhận thông tin này, nhưng theo những gì tôi được biết, hiện giờ nhà đầu tư nước ngoài đang ở giai đoạn 2 trong việc soát xét đánh giá lại toàn diện Ocean Bank”.

“Tôi không xác nhận thông tin này, nhưng theo những gì tôi được biết, hiện giờ nhà đầu tư nước ngoài đang ở giai đoạn 2 trong việc soát xét đánh giá lại toàn diện Ocean Bank”.

Đó là câu trả lời của ông Bùi Huy Thọ, Vụ trưởng Vụ Quản lý cấp phép các tổ chức tín dụng (TCTD) và hoạt động ngân hàng, Cơ quan Thanh tra Giám sát, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trả lời câu hỏi của phóng viên, tại buổi Họp báo Diễn đàn M&A Việt Nam 2017 do Báo Đầu tư và AVM tổ chức sáng nay tại Hà Nội, liên quan đến thông tin “Ocean Bank đã được bán cho một đối tác nước ngoài trong khu vực châu Á” được Đầu tư Chứng khoán đưa tin ngày 23/6.

Ông Thọ chia sẻ thêm, việc mua lại một ngân hàng không hề đơn giản, tài sản, công nợ của ngân hàng rất đa dạng, phong phú; có nhiều tài sản chuyên sâu như hoạt động tín dụng, bảo lãnh, thanh toán, mạng lưới trải dài trên toàn quốc…

“Tuy vậy, nhà đầu tư này rất nghiêm túc và thực lòng muốn đầu tư vào Việt Nam”, ông Thọ nói.

Ông Bùi Huy Thọ trả lời tại buổi Họp báo M&A Việt Nam 2017

Nguồn tin của Đầu tư Chứng khoán cho biết, đối tác nước ngoài trong khu vực châu Á này đã có kế hoạch chi 8.000 tỷ đồng để đổ vào OceanBank và đang đợi sự chấp thuận của Chính phủ, NHNN.

Cũng liên quan đến các ngân hàng mua lại bắt buộc, ông Thọ cho biết, đối với 2 ngân hàng còn lại (Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu - GPBank) và Ngân hàng Xây dựng - CBBank – PV) cũng đã có những nhà đầu tư trong và ngoài nước bước đầu đặt vấn đề tham gia tái cơ cấu, mua lại những ngân hàng này.

NHNN đã đồng ý để các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiếp cận 2 ngân hàng mua lại bắt buộc để có những thông tin bước đầu, đánh giá để đưa ra những quyết định bước tiếp theo.

“NHNN và Chính phủ khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia tái cơ cấu các ngân hàng mua lại bắt buộc, yếu kém”, ông Thọ nhấn mạnh.

Xung quanh chủ đề được trao đổi trên thị trường thời gian qua về việc VIB mua lại toàn bộ tài sản, công nợ, mạng lưới, vật chất của CBA và HSBC bán phần vốn của mình tại Techcombank có phải là hiện tượng không tích cực?

Ông Thọ cho biết, không những đây không phải là hiện tượng không tích cực mà còn ngược lại. CBA đóng cửa chi nhánh để tập trung vào quan hệ cổ đông chiến lược với VIB tại Việt Nam, thậm chí đã đặt vấn đề dùng toàn bộ vốn điều lệ của chi nhánh để tăng vốn góp của VIB. Tuy nhiên, hiện giờ room của Ngân hàng không còn.

Còn tại HSBC, do đã có ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam hoạt động hiệu quả, nên HSBC không có nhu cầu là cổ đông chiến lược tại Techcombank nữa.

“Đây cũng là điểm phù hợp với chiến lược của NHNN là giảm đầu mối quản lý số lượng TCTD và tăng quy mô và hiệu quả, lành mạnh của hoạt động”, ông Thọ nhấn mạnh.

Liên quan đến Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu vừa được Quốc hội thông qua, ông Thọ cho rằng, sẽ có những bước đột phá trong thời gian tới liên quan đến việc tái cơ cấu, xử lý nợ xấu.

Về mặt thực tiễn, xử lý tài sản đảm bảo là linh hồn của việc xử lý nợ xấu. Nếu không tháo gỡ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các TCTD hay khi bán một khoản nợ hay xử lý tài sản bảo đảm dưới mệnh giá thì cán bộ tín dụng và cả VAMC đều không dám làm. Do vậy, Nghị quyết 42 đã tháo gỡ cho những lo ngại về trách nhiệm, thậm chí là mặt hình sự cho các cán bộ của TCTD.

Cũng theo ông Thọ, với Nghị quyết 42, nợ xấu sẽ có những bước đột phá có tác động đến M&A trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng và M&A nói chung.

Cụ thể, nhà đầu tư nước ngoài tham gia tái cơ cấu, mua lại một ngân hàng được mua lại bắt buộc, nhà đầu tư nước ngoài cần phải biết triển vọng xử lý nợ xấu thế nào?

Diễn đàn thường niên mua bán, sáp nhập doanh nghiệp năm 2017 (M&A Việt Nam 2017) được Báo Đầu tư và Công ty AVM Việt Nam tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào thứ Năm, ngày 10/8/2017 tại Trung tâm Hội nghị GEM (TP.HCM). Đây là sự kiện thường niên có quy mô lớn thu hút sự quan tâm của các cơ quan Chính phủ, đông đảo các chuyên gia hàng đầu và các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Trong khuôn khổ Diễn đàn M&A 2017 với chủ đề "Tìm bước đột phá - Seeking a big push", Báo Đầu tư sẽ xuất bản Đặc san “Toàn cảnh thị trường Mua bán - Sáp nhập Việt Nam 2017 - Vietnam M&A Outlook 2017”. Đặc san được xuất bản bằng hai ngôn ngữ Việt - Anh, phát hành rộng rãi qua các kênh phát hành của Báo Đầu tư ở trong nước và nước ngoài và là tài liệu chính thức của Diễn đàn M&A Việt Nam 2017.

http://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/sap-lo-dien-nha-dau-tu-nuoc-ngoai-mua-lai-ocean-bank-194738.html

Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam tăng trưởng hai con số trong sáu tháng đầu năm nay, nhưng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước hoạt động trong lĩnh vực này đang giảm dần.

Kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày Việt Nam tăng trưởng hai con số trong sáu tháng đầu năm nay, nhưng tỷ trọng xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước hoạt động trong lĩnh vực này đang giảm dần.

Theo Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong sáu tháng đầu năm nay, xuất khẩu toàn ngành da giày ước đạt 8,7 tỉ đô la Mỹ, tăng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng giày dép các loại ước đạt 7,04 tỉ đô la Mỹ, tăng hơn 12%, và nhóm hàng túi xách, ví, ô, dù đạt 1,65 tỉ đô la Mỹ, tăng hơn 4%.

Theo ông Nguyễn Đức Thuấn, Chủ tịch Hiệp hội Da – Giày – Túi xách Việt Nam (Lefaso), tình hình sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp da giày trong năm nay khá tốt. Lefaso dự báo, trong năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành da giày có thể đạt 17,8 tỉ đô la Mỹ, tăng 10% so với năm 2016.

Trong đó, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam chiếm ưu thế ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép và túi xách. Trong nửa đầu năm nay, doanh nghiệp FDI chiếm đến 81% kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục Hải quan.

Theo Lefaso, doanh nghiệp FDI chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành là do trong các năm qua khối doanh nghiệp FDI tiếp tục mở rộng công suất các nhà máy hiện có và xây dựng các nhà máy mới tại Việt Nam để đón đầu cơ hội giảm thuế nhập khẩu theo các hiệp định thương mại tự do.

Trong khi đó, doanh nghiệp trong nước không mở rộng được sản xuất do gặp khó khăn về nguồn vốn và tiếp cận thị trường. Tỷ trọng xuất khẩu da giày của doanh nghiệp trong nước tiếp tục xu hướng giảm, từ mức 25% năm 2013, xuống còn 18,7% trong năm tháng đầu năm nay. Tỷ trọng xuất khẩu giày dép của doanh nghiệp trong nước giảm từ mức 24,4% trong năm 2013 xuống còn 18,8% trong năm tháng đầu năm nay, và túi xách - cặp các loại giảm từ 27,9% năm 2013 xuống còn 18,5%.

Ngoài ra, theo ông Thuấn, ngành da giày đang đối mặt với vấn đề là làm sao tăng năng suất lao động, tăng thu nhập, giảm giờ làm cho người lao động, và ít phải tăng ca, giúp người công nhân có cuộc sống cân bằng hơn,… để giữ được những người lao động có tay nghề.

“Chúng tôi đang kêu gọi doanh nghiệp phải có tầm nhìn mới, lấy khoa học công nghệ làm nền tảng, tích hợp các khoa học công nghệ trong một chuỗi giá trị sản phẩm trên nền tảng quản trị tự động để gia tăng năng suất lao động”, ông Thuấn nói và cho biết thêm hiện năng suất lao động của công nhân Việt Nam đang thấp hơn Trung Quốc 20% nhưng cao hơn một số nước khác (như Myanmar, Indonesia,…).

http://www.thesaigontimes.vn/162725/Ty-trong-xuat-khau-da-giay-cua-doanh-nghiep-noi-ngay-cang-giam.html

Khai thác thêm dầu thô và than để đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế 6,7% trong năm 2017 được dự báo là sẽ gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân, một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định.

Khai thác thêm dầu thô và than để đảm bảo mức tăng trưởng kinh tế 6,7% trong năm 2017 được dự báo là sẽ gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân, một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định.

Dự kiến sẽ tồn khoảng 13,85 triệu tấn than cuối năm nay. Ảnh: TL.

Khai thác dầu thô đã qua giai đoạn đỉnh

Khó khăn nhất của việc khai thác thêm 1 triệu tấn dầu thô và 1 tỉ m3 khí theo kế hoạch bổ sung cho sáu tháng cuối năm nay được dự báo là giá dầu.

Bộ này dự báo, do nhiều yếu tố quốc tế, giá dầu thô trong nửa cuối năm nay chỉ ở mức 40-50 đô la Mỹ/thùng. “Điều này sẽ dẫn đến việc thu xếp tài chính rất khó khăn, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)”.

Tuy nhiên, cơ quan tham mưu này khẳng định, ngành dầu khí phấn đấu cả năm sẽ đạt 13,28 triệu tấn dầu thô và 10,6 tỉ m3 khí, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch bổ sung.

Về sản suất của ngành dầu khí sáu tháng đầu năm nay, cơ quan này cho biết, sản lượng khai thác dầu khí chỉ đạt hơn 6,9 triệu tấn, giảm 12,5% so cùng kỳ; sản lượng khí khai thác đạt 5,16 tỉ m3, giảm 8,7% so cùng kỳ năm 2016.

Trên cơ sở giá bình quân nửa đầu năm nay là 54,6 đô la Mỹ/thùng, cơ quan này cho biết, đóng góp của ngành dầu khí chiếm tỷ trọng 5,6% tổng sản phẩm nội địa (GDP) và chiếm 20,3% GDP công nghiệp, đóng góp âm 0,69 điểm phần trăm trong tăng trưởng GDP.

Tuy nhiên, hiện nay giá dầu đã giảm xuống mức thấp nhất trong hơn bảy tháng gần đây (46 đô la Mỹ/thùng) do hàng loạt yếu tố ở Mỹ, Nga, và các nước xuất khẩu dầu mỏ lớn khác.

Hơn nữa, sản lượng khai thác dầu thô giảm trong nửa đầu năm nay so với cùng kỳ được lý giải là do hầu hết các mỏ đều đã qua thời điểm đỉnh khai thác, và đang đến giai đoạn suy giảm tự nhiên.

Hơn nữa, giá dầu suy giảm đã ảnh hưởng đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác, làm việc gia tăng trữ lượng gặp nhiều khó khăn.

Ngành than sẽ tồn 13,85 triệu tấn

Báo cáo khẳng định, năng lực sản xuất của ngành than hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu than cho sản xuất, và ngành này phấn đấu hoàn thành mục tiêu sản lượng than sạch khoảng 41,43 triệu tấn, tăng 7,6% so với năm ngoái.

Tuy nhiên, ước tính tồn kho than sạch cuối năm nay sẽ lên đến 13,85 triệu tấn, trong đó 13 triệu tấn thuộc về Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Trong sáu tháng đầu năm, ngành than khai thác đạt 20,6 triệu tấn, bằng 44,5% kế hoạch. Tồn kho nửa đầu năm nay khoảng 10,22 triệu tấn.

Trong nửa đầu năm nay, ngành này đóng góp 0,84% GDP, chiếm hơn 3%/GDP công nghiệp, đóng góp 0,06 điểm phần trăm cho tăng trưởng GDP.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận xét, điều kiện khai thác của các mỏ than ngày càng xuống sâu hơn, việc áp dụng thuế và phí mới làm chi phí khai thác tăng, làm giảm sức cạnh tranh của ngành này với than nhập khẩu.

Trong nửa đầu năm nay cả nước mới chỉ xuất khẩu được 1 triệu tấn than.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị PVN, EVN, các tập đoàn hóa chất, xi măng ưu tiên sử dụng than của TKV trên cơ sở giá thị trường. Tuy nhiên, bộ bổ sung, giá bán than tối đa phải bằng giá than nhập khẩu, và đề nghị nhiều bộ, ngành vào giám sát, kiểm tra cơ cấu giá.

http://www.thesaigontimes.vn/162653/Khai-thac-dau-than-de-thuc-day-tang-truong-deu-kho-khan.html

Công ty TNHH Một thành viên Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) mới đây đã có tờ trình gửi Bộ Công Thương về dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Công ty TNHH Một thành viên Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) mới đây đã có tờ trình gửi Bộ Công Thương về dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Trong bối cảnh BSR dự kiến phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) vào cuối năm 2017, nhà máy lọc dầu Dung Quất được định giá 3,2 tỷ USD (72.879 tỷ đồng), Nhà nước dự kiến sẽ nắm dưới 50% vốn tại đây.

BSR là thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam), và là đơn vị chịu trách nhiệm vận hành nhà máy lọc dầu Dung Quất.

Muốn Chính phủ bảo lãnh vay

Theo tờ trình của BSR, dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất cần tổng vốn đầu tư 1,806 tỷ USD, trong đó vốn chủ sở hữu/vốn vay tối thiểu là 30%/70%, tức phải vay thêm khoảng 1,26 tỷ USD (28.715 tỷ đồng).

Dự kiến, vốn chủ sở hữu do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petro Vietnam) cấp, vốn vay thì từ các nguồn tín dụng xuất khẩu, vay thương mại từ các ngân hàng trong và ngoài nước.

Theo báo cáo tài chính tính đến 31/12/2016, BSR có tổng tài sản 61.319 tỷ đồng. Trong đó, nợ phải trả là 28.951 tỷ đồng, tăng gần 1.900 tỷ so với năm trước. Nợ ngắn hạn là 14.645 tỷ, nợ dài hạn khoảng 14.306 tỷ đồng. Theo BSR, tỷ lệ nợ/tổng tài sản là 50/50, đây là tỷ lệ tốt đối với doanh nghiệp sản xuất.

Như vậy, sau khi nâng cấp và mở rộng nhà máy, khoản nợ vay với nợ phải trả của công ty có thể lên tới 57.666 tỷ đồng.

Trao đổi với VnEconomy, Tổng giám đốc BSR Trần Ngọc Nguyên cho biết, số tiền vay 1,26 tỷ USD cho dự án nâng cấp, mở rộng nhà máy lọc dầu Dung Quất là phù hợp với quyết định phê duyệt của Thủ tướng.

“Công ty đã có kế hoạch về phương án dòng tiền của dự án, trong đó dòng thu vào và chi ra cân đối trả đúng hạn nợ dài hạn, gồm nợ cũ 28.951 tỷ và nợ mới 28.715 tỷ. Đồng thời, công ty cũng cố gắng tìm kiếm nguồn vay có chi phí thấp nhất và thời gian vay dài hạn, trong đó ưu tiên nguồn vay tín dụng xuất khẩu”, ông Nguyên cho hay.

Ông Nguyên cũng mong muốn Chính phủ bảo lãnh cho khoản vay của công ty. “Chúng tôi mong muốn được bảo lãnh của Chính phủ để có cơ hội tiếp cận được nguồn tiền vay tối ưu cho dự án. Hiện nay công ty không bị áp lực về nguồn vay cho dự án, song vẫn cân nhắc để có được nguồn vốn vay lãi suất thấp và thời gian vay dài hạn”, ông nói.

Theo báo cáo tài chính, năm 2016, doanh thu của BSR đạt 73.598 tỷ đồng, trong khi năm trước ở mức  95.064 tỷ, do giá dầu giảm. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế vẫn đạt 4.492 tỷ, dù giảm đáng kể so với mức 6.169 tỷ năm trước đó.

Hiện xăng của Dung Quất đang có lợi thế hơn về thuế so với xăng nhập khẩu. Tuy nhiên lợi thế này sẽ bị san bằng khi theo lộ trình năm 2024, thuế nhập khẩu xăng về 0% theo quy định của các hiệp định thương mại tự do.

Nâng cấp để sản xuất xăng dầu Euro 4

Nhằm hạn chế phát thải các khí độc hại gây ô nhiễm không khí, đặc biệt là tại các đô thị lớn, năm 2011, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 49 về việc quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải tại Việt Nam.

Theo đó từ 1/1/2017, xăng dầu trong nước phải đáp ứng tiêu chuẩn khí thải Euro 4. Quy định là vậy, song đến nay tiêu chuẩn Euro 4 vẫn chưa được thực thi quyết liệt. Nguyên nhân bởi nhiên liệu trong nước vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn Euro 4, và trên 45 triệu động cơ ôtô, xe máy hiện nay cũng đang dùng nhiện liệu Euro 2.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất đến nay mới chỉ cho ra sản phẩm xăng dầu đạt mức Euro 3 với xăng RON 95 và mức Euro 2 đối với các sản phẩm còn lại.

"Sản phẩm của nhà máy lọc dầu Dung Quất hiện nay không thể đáp ứng được tiêu chuẩn Euro 4, Euro 5 theo lộ trình khí thải tại Quyết định 49. Nhưng sau khi hoàn thành nâng cấp mở rộng dự kiến năm 2021, công suất chế biến nhà máy tăng lên 8,5 triệu tấn dầu thô/năm và chất lượng sản phẩm xăng dầu sẽ đáp ứng chỉ tiêu chất lượng Euro 5”, Tổng giám đốc BSR Trần Ngọc Nguyên cho hay.

Trong bối cảnh BSR dự kiến phát hành cổ phiếu lần đầu (IPO) vào cuối năm 2017, nhà máy lọc dầu Dung Quất được định giá 3,2 tỷ USD (72.879 tỷ đồng), Nhà nước dự kiến sẽ nắm dưới 50% vốn tại đây.

http://vneconomy.vn/thoi-su/loc-dau-dung-quat-se-no-gan-58000-ty-sau-nang-cap-2017071706282657.htm

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, việc dựa vào các giải pháp tài chính - tiền tệ trước mắt có thể đạt được tăng trưởng nhưng chính sách này thường có độ trễ nên đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng ...

Trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, việc dựa vào các giải pháp tài chính - tiền tệ trước mắt có thể đạt được tăng trưởng nhưng chính sách này thường có độ trễ nên đóng góp vào tăng trưởng 6 tháng cuối năm còn hạn chế, hơn nữa rất nhiều chỉ số trên thị trường tài chính - tiền tệ đang trong tầm “quan sát”.

Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Giám đốc Trường Đào tạo BIDV, mặc dù lãi suất 6 tháng đầu năm tương đối ổn định song trên thực tế, đang có áp lực tăng nhẹ trong cho vay ở những kỳ hạn dài.

Đây là thông tin được các chuyên gia đưa ra tại hội thảo “Chính sách tài chính - tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm 2017” do Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức cuối tuần qua.

Tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2017 đạt 5,73%, cao hơn không đáng kể so với 6 tháng đầu năm 2016 (5,65%), thấp hơn so với bình quân 2011-2016 và thấp hơn mục tiêu tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2017.

“Vì vậy, cần một sự bứt phá mạnh mẽ trong 6 tháng cuối năm, tối thiểu 7,4% để đạt mục tiêu 6,7% cả năm. Song điều này là không dễ”, ông Đào Văn Hùng, Giám đốc Học viện Chính sách và Phát triển, nhận định.

Thứ nhất, trong ngắn hạn, tăng cung tiền M2 sẽ làm lạm phát tăng cao và nhanh nhưng tăng cung tiền ở mức hợp lý thì sẽ giúp ổn định và kiểm soát lạm phát. Mức cung tiền 6 tháng đầu năm khoảng 5,69%, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu cả năm là 16-18%. Vì vậy, còn có thể tăng cung tiền để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2017.

Tuy nhiên, CPI bình quân 6 tháng đầu năm của Việt Nam đã tăng 4,15% so với cùng kỳ năm 2016, và cao hơn mức trung bình của khu vực. “Vì vậy tăng M2 cần hết sức thận trọng lựa chọn các kênh tăng cung tiền phù hợp”, ông Hùng cho biết.

Thứ hai, áp lực tăng tỷ giá trong thời gian tới là rất lớn, nguyên nhân là bởi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, cùng với đó chính sách điều chỉnh thuế biên giới của Mỹ cũng tác động đến tăng lãi suất của việt Nam.

Nếu Việt Nam không kiểm soát tốt và để tỷ giá tăng quá cao sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. “Để tỷ giá không tác động đến tăng trưởng, Việt Nam cần thực hiện chính sách kiểm soát tỷ giá trong biên độ phù hợp từ 2-3%” - ông Đào Văn Hùng nhấn mạnh.

Thứ ba, mặc dù gần đây Ngân hàng Nhà nước có động thái giảm mức lãi suất điều hành 0,25 điểm phần trăm và 0,5 điểm phần trăm trần lãi suất cho vay ngắn hạn của tổ chức tín dụng của một số lĩnh vực ưu tiên (vào ngày 7/7/2017) nhằm tạo cho ngân hàng thương mại cơ hội giảm lãi suất cho vay và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, Giám đốc Trường Đào tạo BIDV, mặc dù lãi suất 6 tháng đầu năm tương đối ổn định song trên thực tế, đang có áp lực tăng nhẹ trong cho vay ở những kỳ hạn dài.

Cụ thể, lãi suất cho vay kỳ hạn dưới 6 tháng có xu hướng đi ngang thì ở kỳ hạn trên 6 tháng đã tăng nhẹ khoảng 0,2-0,5%/năm. “Huy động vốn tăng trưởng chậm hơn so với cùng kỳ năm 2016 trong khi tín dụng tăng trưởng cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây. Hệ số tín dụng/vốn huy động tăng nhẹ 1,53% so với cuối năm 2016”, ông Lực phân tích.

Hơn nữa, theo ông Hùng, nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và GDP giai đoạn quý 1/2000 đến quý 1/2017 cho thấy, do đặc thù của kinh tế Việt Nam, tín dụng ngân hàng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế khoảng 10,6% với độ trễ 2 quý; 19,7% với độ trễ 3 quý; 21,13% với độ trễ 4 quý; 26,5% với độ trễ 8 quý và sau đó giảm dần.

“Vì vậy, kỳ vọng tăng trưởng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 6 tháng cuối năm là hạn chế, do độ trễ tín dụng đến GDP là khoảng 1 năm, nhưng các chính sách tín dụng vào những tháng cuối năm sẽ tạo đà cho tăng trưởng vào năm 2018”, ông Hùng khẳng định.

Ở góc độ khác, ông Lực cho biết mặc dù vẫn còn dư địa để tăng trưởng tín dụng (18-20% năm 2017) nhưng cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn vào khu vực sản xuất. “Mức tăng trưởng tín dụng này là rất rủi ro cho thị trường. Hơn nữa việc giao quota tăng trưởng cho các ngân hàng cũng không hợp lý”, ông Lực bày tỏ.

Thứ tư, ông Hùng cho biết nghiên cứu số liệu về ngân sách Nhà nước và chi tiêu thường xuyên của Chính phủ 2001-2016 cho thấy tỷ lệ thu ngân sách/GDP tăng và tăng chi tiêu thường xuyên sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, trong những tháng đầu năm, chi thường xuyên vẫn tăng gần 10% so với cùng kỳ. Thậm chí, theo ông Lực, cơ cấu thu, chi ngân sách nhà nước của Việt Nam có thay đổi trong vòng 3 năm qua nhưng đáng tiếc lại theo chiều hướng kém tích cực.

“Không còn nhiều dư địa về trần nợ công và bội chi để mở rộng tài khoá. Việt Nam chỉ còn cách thúc đẩy tăng trưởng thông qua điều chỉnh cơ cấu thu-chi, tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công và đặc biệt nâng cao hiệu quả phân bổ và sử dụng vốn đầu tư”, ông Hùng khuyến nghị.

http://vneconomy.vn/thoi-su/tang-truong-dua-vao-tai-chinh-tien-te-con-duong-khong-de-di-20170716112236789.htm

Hãng Vietnam Airlines đã đủ chuẩn, nhưng vì Cục Hàng không Việt Nam chưa đạt chuẩn theo yêu cầu nên đường bay thẳng Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn chưa thể mở dù đã chuẩn bị chục năm nay. 

Hãng Vietnam Airlines đã đủ chuẩn, nhưng vì Cục Hàng không Việt Nam chưa đạt chuẩn theo yêu cầu nên đường bay thẳng Việt Nam - Hoa Kỳ vẫn chưa thể mở dù đã chuẩn bị chục năm nay. 

Nhiều hành khách mệt mỏi khi phải chờ đợi ở sân bay nước ngoài để được nối chuyến bay sang Mỹ - Ảnh: Châu Anh

Trong suốt hàng chục năm qua, việc mở đường bay thẳng đi Mỹ chưa thể thực hiện, khiến hãng bay Việt Nam vẫn phải chuyển khách cho hãng khác tại sân bay quá cảnh.

Cục níu chân hãng, hành khách mòn mỏi đợi bay

Năm 2003, Hiệp định hàng không Việt Nam - Mỹ ký kết cho phép các hãng hàng không mở đường bay thẳng giữa hai nước.

Khi đó, nhiều người dân phấn khởi vì có đường bay thẳng sẽ bay nhanh hơn, bay hãng bay Việt cũng được phục vụ phù hợp với thói quen người Việt Nam.

Việc thiết lập đường bay thẳng đi Mỹ được Chính phủ Việt Nam giao Bộ Giao thông - Vận tải xúc tiến nhưng đến nay vẫn chưa thể hiện thực hóa.

Để được bay đến Mỹ, hiện tại còn vướng một khâu: Cục Hàng không Việt Nam phải đáp ứng được tiêu chuẩn giám sát của FAA, cụ thể là phải được phê chuẩn mức 1 (CAT1).

Do Cục Hàng không Việt Nam vẫn chưa đạt được điều này nên đã “níu chân” việc mở đường bay hàng chục năm nay.

Đáng lưu ý, trong một ký kết với Boeing vào năm 2015 thì quý 4-2015, Cục Hàng không Việt Nam sẽ đạt CAT1 song việc này đã được lùi đến quý 3-2016.

Mới đây, Bộ Giao thông - Vận tải đồng ý cấp 40.000 USD để Cục Hàng không Việt Nam phối hợp với FAA tiến hành đợt rà soát kỹ thuật, theo tính toán, kết thúc vào tháng 5-2017, nhằm đánh giá tổng thể năng lực giám sát an toàn của Cục Hàng không Việt Nam theo các quy định của ICAO.

Sắp “vượt vũ môn”?

Theo lãnh đạo Cục Hàng không Việt Nam, việc mở đường bay trực tiếp đến Mỹ là công việc hết sức khó khăn, không đơn giản như nhiều người nghĩ...

Muốn nhận giấy phép mở đường bay thẳng đến Mỹ, các hãng hàng không phải là thành viên chính thức của Hiệp hội Vận tải hàng không quốc tế (IATA), phải có chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn khai thác bay (IOSA), phải có chứng chỉ mở rộng tầm khai thác khi bay qua biển đối với máy bay hai động cơ...

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Đinh Việt Thắng - Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam - cho biết ICAO vừa tiến hành đợt thanh tra về an toàn và đánh giá Cục Hàng không Việt Nam đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của ICAO.

Chứng chỉ đã được chủ tịch ICAO trao tại Bộ Giao thông - Vận tải ngày 6-7.

“Hiện VNA đã gửi hồ sơ đến FAA và chờ thông tin chính thức, dự kiến sớm nhất đến quý 3-2017” - ông Thắng nói và khẳng định đợt này đã chuẩn bị rất kỹ, chắc chắn sẽ đạt CAT1.

Để chuẩn bị cho đợt rà soát của FAA, Cục Hàng không Việt Nam cho biết đã chuẩn bị khá công phu, kéo dài nhiều năm để nâng cao năng lực giám sát an toàn hàng không.

Trong đó, việc quan trọng đầu tiên phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu hướng dẫn liên quan đến an toàn và giám sát an toàn...

Tuy nhiên, một chuyên gia hàng không cho rằng hàng không Việt Nam cần lưu ý nhiều vấn đề về an ninh hàng không như tình trạng chiếu tia laser, nhân viên không lưu ngủ quên...

“Phải chỉnh sửa thật tốt nếu muốn mở đường bay thẳng từ Việt Nam qua Mỹ” - vị chuyên gia này nói.

Phải đáp ứng nhiều tiêu chuẩn

Theo Cục Hàng không liên bang Mỹ (FAA), cơ quan quản lý hàng không dân sự các nước (CAA) sẽ bị xếp vào hạng hai (đồng nghĩa hãng bay của nước đó nếu chưa hoạt động ở Mỹ, sẽ không được bay thẳng đến Mỹ) nếu được xác định thiếu một hoặc nhiều hơn các tiêu chuẩn sau:

1- Thiếu luật hoặc quy định cần thiết để hỗ trợ việc cấp chứng nhận hoặc giám sát các hãng hàng không theo các tiêu chuẩn quốc tế tối thiểu.

2- CAA thiếu chuyên môn kỹ thuật, nguồn lực và tổ chức để cấp phép hoặc giám sát các hoạt động của hãng hàng không.

3- CAA không có nhân sự kỹ thuật đạt yêu cầu hoặc được đào tạo phù hợp.

4- CAA không cung cấp chỉ dẫn thanh tra phù hợp để đảm bảo việc thực thi và tuân thủ các quy định hàng không quốc tế tối thiểu.

5- CAA có hồ sơ và lý lịch không đạt yêu cầu về việc cấp chứng nhận và liên tục thiếu theo dõi và giám sát các hoạt động của hãng hàng không.

TRẦN PHƯƠNG

Hành khách sẽ bớt phải chờ đợi

Nếu đường bay thẳng Việt - Mỹ thành hiện thực, hành khách sẽ bớt phải chờ đợi mệt mỏi. Hiện Vietnam Airlines đã khai thác các đường bay đi/đến Mỹ với tần suất 7 chuyến/tuần dưới hình thức bay liên danh.

Thời gian chờ để chuyển máy bay nếu chặng bay có một điểm dừng khoảng 3-5 giờ, tổng thời gian bay khoảng 17h. Nếu có 2 điểm dừng và chuyển đổi sân bay, tổng thời gian có thể kéo dài 25-38 giờ.

Theo kế hoạch của VNA, trong giai đoạn 2016-2020 sẽ mở đường bay thẳng đến bờ tây nước Mỹ với hai địa điểm đang được “đong đếm” là San Francisco hoặc Los Angeles.

Hành trình bay sẽ có một điểm dừng kỹ thuật là Tokyo hoặc Osaka (Nhật Bản).

Tại đây, máy bay sẽ được tiếp nhiên liệu, cung cấp suất ăn, thời gian tối đa khoảng một giờ và hành khách không phải xuống máy bay.

Trả lời Tuổi Trẻ, ông Dương Trí Thành - Tổng giám đốc Vietnam Airlines - cho biết hãng đã nộp hồ sơ xin cấp phép bay thương mại lên Bộ Giao thông Hoa Kỳ.

Trên cơ sở đánh giá CAT1 của FAA, Vietnam Airlines sẽ nghiên cứu, lập kế hoạch bay đến Hoa Kỳ vào thời điểm thích hợp, mục tiêu là năm 2019.

http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20170717/cuc-niu-chan-hang-hanh-khach-mon-moi-doi-duong-bay-thang-toi-my/1353211.html

Mới đây, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) đã lần đầu tiên công bố thông tin chi tiết về tình hình kinh doanh của mình. Theo đó, doanh thu của VNR trong mấy năm qua liên tục sụt giảm, từ 8.700 tỉ ...

Mới đây, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) đã lần đầu tiên công bố thông tin chi tiết về tình hình kinh doanh của mình. Theo đó, doanh thu của VNR trong mấy năm qua liên tục sụt giảm, từ 8.700 tỉ đồng năm 2013 xuống còn 6.500 tỉ đồng năm 2016.

Xếp hàng hóa lên tàu tại ga Giáp Bát, Hà Nội. Ảnh: NGUYỄN NAM

Cùng với đó, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển có xu hướng sụt giảm tương tự (trừ năm 2014, lượng hàng hóa vận chuyển tăng so với năm 2013).

Lý giải về kết quả kinh doanh yếu kém này, VNR đổ lỗi cho sự cạnh tranh của các hãng hàng không giá rẻ, ô tô chất lượng cao, và đặc biệt khi đường bộ cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và Hà Nội - Lào Cai bắt đầu được khai thác.

Trước hết là tại mình

Phải đồng ý ngay với VNR rằng các chỉ tiêu kinh doanh của họ liên tục đi xuống đúng là do chủ yếu từ sự cạnh tranh của vận tải đường không và đường bộ. Nhưng sự cạnh tranh này có được không phải chỉ là do sự hấp dẫn nội tại của đường không và đường bộ, mà còn có phần lớn do bản thân VNR đã tự để mình xuống cấp, tụt hậu, ngày càng trở nên kém hấp dẫn khách hàng, làm cho đường không và đường bộ trở thành lựa chọn đương nhiên cho nhiều khách hàng tiềm năng.

Còn nhớ ấn tượng của người viết trong một lần đi từ Hà Nội xuống Hải Phòng bằng tàu lửa cách đây vài năm. Cả chuyến tàu hàng chục toa có rất ít khách. Các trang thiết bị trên tàu vừa thiếu, vừa cũ kỹ, chắp vá, như là đã tồn tại từ thời bao cấp, rõ ràng là đã được sửa chữa, gia công bởi thợ vụng về, để cho có. Nhà vệ sinh trên tàu thì khỏi cần tả lại. Cũng may mà hành trình chỉ hơn hai giờ đồng hồ, không đủ dài để cho hành khách được trải nghiệm những ấn tượng để đời trong việc này. Gần đây, ngành đường sắt cũng đã nỗ lực thay đổi, nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách. Nhưng dường như những nỗ lực đó là chưa đủ.

Nếu có cơ chế mời gọi đầu tư hấp dẫn thì với công nghệ xây dựng hiện tại, các nhà đầu tư tư nhân không khó khăn gì để xây các trung tâm thương mại, khách sạn, tổ hợp bất động sản đa chức năng tận dụng các khoảng không bên trên các ga tàu.

So với ô tô giường nằm, ô tô chất lượng cao, và máy bay thì rõ ràng tàu lửa ở Việt Nam hầu như không có một ưu điểm nào để hấp dẫn được hành khách. Về tần suất, mỗi ngày một hoặc hai chuyến tàu trên các tuyến chính là một con số quá ít ỏi, so với hàng chục, hàng trăm chuyến xe khởi hành từ sáng đến tối của hàng chục hãng xe, đáp ứng nhu cầu đa dạng về thời gian của hành khách. Về mức độ an toàn, một trong những điểm cộng lớn nhất của vận tải đường sắt, thì ưu thế này đã bị lu mờ bởi nhiều vụ tai nạn đường sắt, dù nguyên nhân có cả chủ quan lẫn khách quan. Về sự tiện nghi và thoải mái thì tàu lửa Việt Nam, như đã nói, hầu như không có điểm cộng. Thời gian hành trình cũng là một điểm yếu khác của loại hình vận tải này, khi tốc độ trung bình toàn tuyến chỉ là vài chục ki lô mét/giờ do những giới hạn về hạ tầng đường sắt và chất lượng thiết bị chậm được đầu tư, đổi mới. Giá vé cũng không thuộc dạng hấp dẫn đến mức không đi không được.

Có thể làm được gì?

Trong báo cáo của mình, VNR đặt mục tiêu tăng sản lượng 8%/năm cho giai đoạn 2016-2020, với nhiều giải pháp mà người ngoài cuộc hoàn toàn có thể đoán được như nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp tục đầu tư cả về hạ tầng và phương tiện như mua đầu máy mới...

Tất nhiên là giải pháp nào đưa ra cũng đều cần đến tiền và nhiều tiền, trừ chuyện nâng cao tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của nhân viên. Vốn từ trước đến nay vẫn trông chờ vào ngân sách nhà nước cho các khoản đầu tư mua sắm, chắc chắn mọi kế hoạch đầu tư tham vọng của VNR trong các năm tới sẽ bị gác lại nếu nguồn tài chính chủ yếu vẫn chỉ là từ ngân sách đang ngày càng eo hẹp.

Trong bối cảnh như vậy, câu thần chú “xã hội hóa” tỏ ra sẽ được việc. Nhưng việc cổ phần hóa nửa vời tại các công ty con và công ty thành viên nơi VNR vẫn nắm quyền kiểm soát chỉ có tác dụng giúp cho VNR có thêm một chút vốn so với nhu cầu vốn đầu tư khổng lồ cần có, chưa kể về bản chất sau cổ phần hóa các công ty con và công ty thành viên vẫn hầu như không có nhiều thay đổi cần có và được kỳ vọng từ việc cổ phần hóa.

Bởi vậy, song song với việc tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn, giảm thiểu vai trò chi phối của mình, VNR có thể cân nhắc thêm các động thái xã hội hóa khác đã và đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới.

Tận dụng không gian trên các ga tàu

Đây là giải pháp có thể thực hiện được ngay tại nhiều ga, nhất là ở các thành phố lớn. Các ga tàu thường nằm ngay trung tâm thành phố và có khoảng không rất rộng lớn phía trên chưa được khai thác, đến hàng chục héc ta. Nếu có cơ chế mời gọi đầu tư hấp dẫn thì với công nghệ xây dựng hiện tại, các nhà đầu tư tư nhân không khó khăn gì để xây các trung tâm thương mại, khách sạn, tổ hợp bất động sản đa chức năng tận dụng các khoảng không này. Hình thức “đổi không gian lấy hạ tầng” này nếu thực hiện được sẽ mang lại cho ngành đường sắt một khoản vốn nhiều ngàn tỉ đồng dành cho đầu tư, trong khi bộ mặt và chất lượng nói chung của ngành đường sắt sẽ được “đẹp lây” lên nhiều.

Cho phép và thu hút FDI vào cơ sở hạ tầng đường sắt

Sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước hay vốn thu được từ cổ phần hóa, thoái vốn của VNR sẽ không bao giờ giúp ngành đường sắt có đủ vốn để xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng đường sắt hiện đại như đường sắt khổ rộng, tốc độ cao mà chi phí lên tới nhiều tỉ đô la Mỹ. Để làm được việc này thì nhất thiết phải có sự tham gia của vốn FDI dưới dạng PPP (hợp tác công - tư).

Nhiều nước trên thế giới từng không cho phép FDI vào lĩnh vực này cũng như lĩnh vực khai thác dịch vụ đường sắt, nhưng nay đã phải thay đổi thái độ, mà điển hình trong đó là Ấn Độ. Nước này hiện nay cho phép sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trong những lĩnh vực như đường sắt chuyên dụng vận chuyển hàng hóa, các dự án tàu cao tốc, sản xuất đầu máy, thiết bị và cơ sở duy tu, bảo dưỡng, hệ thống tín hiệu tự động, điện khí hóa đường sắt, kho bãi cho các ga hàng hóa, các viện đào tạo nhân viên kỹ thuật đường sắt, ga hành khách, cơ sở thử  nghiệm, nhà vệ sinh tự hủy trên tàu...

Tư nhân hóa các dịch vụ

Sự tham gia của các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước cũng cần được khuyến khích trong lĩnh vực dịch vụ đường sắt, trong đó có dịch vụ ăn uống trên tàu, vốn là một trong những nỗi ngán ngẩm cùa hành khách đi tàu ở Việt Nam.

Bên cạnh những giải pháp trên, doanh thu của VNR sẽ được cải thiện mạnh nếu họ nỗ lực thu hút thêm khách hàng có nhu cầu vận chuyển hàng hóa của mình, vốn đã bị hấp dẫn bởi vận tải đường bộ. Sự tăng chuyến, tăng tải, đảm bảo đúng giờ là một vài trong số những yếu tố giúp thực hiện được mục tiêu này. Với vận tải hành khách, sự cải thiện trải nghiệm của hành khách liên quan đến các yếu tố vệ sinh như nhà vệ sinh tự hủy, chăn nệm, giường nằm và ghế ngồi, điều hòa, thông gió... luôn phải là ưu tiên thực hiện.

http://www.thesaigontimes.vn/162458/De-duong-sat-Viet-Nam-song-duoc.html

Tạm gác lại những trắc trở trên con đường thu thuế với những chủ hàng trên Facebook, vấn đề lớn hơn cơ quan chức năng cần làm gì để tạo được sự đồng thuận của người dân.

Tạm gác lại những trắc trở trên con đường thu thuế với những chủ hàng trên Facebook, vấn đề lớn hơn cơ quan chức năng cần làm gì để tạo được sự đồng thuận của người dân.

Ảnh minh họa. (Nguồn: Doãn Đức/Vietnam+)

Điều này theo phó giáo sư, tiến sỹ Hoàng Văn Cường (Đại biểu Quốc hội khóa 14, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) không chỉ xuất phát từ công tác tuyên truyền, chính sách khuyến khích người dân mà thậm chí phải chính từ từng cán bộ công chức ngành thuế.

Phóng viên VietnamPlus đã có cuộc trao đổi với ông Hoàng Văn Cường để cùng nhìn lại câu chuyện dài kỳ với cái kết còn bỏ ngỏ.

Có kiên trì được không?

- Thưa ông Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã rà soát và thông báo tới hàng vạn chủ tài khoản Facebook về việc thực hiện kê khai nộp thuế. Ông nhận định nhu thế nào về việc này?

Ông Hoàng Văn Cường: Trước hết, đã kinh doanh là phải nộp thuế, đó là điều bình thường trong luật và là điều các nước phải thực hiện. Vì thế, chủ trương của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh rà soát thu thuế với người kinh doanh trên mạng xã hội theo tôi là một chủ trương đúng. Vấn đề làm làm sao thực hiện được chủ trương này.

- Về thực hiện chủ trương này, ngành thuế mới ở bước đầu tiên là yêu cầu các cá nhân kinh doanh tự giác kê khai, sau đó mới là thanh kiểm tra. Quy trình này tất nhiên không chỉ ở kinh doanh qua mạng. Vậy, theo ông, bước đi này có khả quan không?

Ông Hoàng Văn Cường: Thực tế, ở các nước, quản lý thuế với các hoạt động kinh doanh cá nhân cũng phải dựa vào những kê khai của chính các đối tượng đó. Tức là, trước hết phải dựa vào sự tự giác của chính người kinh doanh. Điều này ở các nước khác cũng vậy.

Tuy vậy, ở nhiều nước, nếu người nộp thuế không tự giác, và dù chỉ một lần bị phát hiện, đối tượng kinh doanh sẽ bị xử lý nặng. Điều này mới thúc đẩy người dân dần dần tự giác.

Ngay cả bây giờ chúng ta yêu cầu người kinh doanh tự giác kê khai thì tôi nghĩ chưa đạt kết quả tốt ngay. Tuy nhiên, ta phải nhìn nhận, tỷ lệ chấp hành chỉ là một phần nhỏ. Quan trọng là ta thấy đây là chủ trương đúng thì phải đi tới cùng để đưa hoạt động này vào nề nếp, thành hoạt động thường xuyên.

Ta phải bắt đầu ngay bởi nếu không làm từ bây giờ thì mãi mãi không thu được thuế. Ngày hôm nay chúng ta thực hiện việc khuyến khích có thể người kinh doanh chưa tự giác nhưng năm này qua năm khác, làm kiên trì thì mọi việc sẽ dần đi tới đích. Quan trọng là cơ quan thuế và các cơ quan chức năng có kiên trì thực hiện khách quan, đầy đủ không. Bởi nếu ngay từ đầu các đơn vị làm không nghiêm túc, làm chặt đối tượng này, bỏ qua đối tượng khác thì không thể kêu gọi tính tự giác được.

Khi xác định chủ trương là đúng thì cơ quan chức năng làm phải quyết tâm, phải đưa vào lộ trình.

Phó giáo sư, tiến sỹ Hoàng Văn Cường, Đại biểu Quốc hội khóa 14, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. (Ảnh: Doãn Đức/Vietnam+)

Cán bộ đi đêm, phải phạt nặng gấp 10

- Vậy theo ông, muốn thu thuế của những cá nhân kinh doanh trên Facebook, cơ quan chức năng làm những gì?

Ông Hoàng Văn Cường: Theo tôi, muốn làm tốt cần tạo sự đồng thuận cả về phía người nộp thuế và những người liên quan tới hoạt động thu thuế. Tôi nghĩ, đừng đặt mục tiêu thu thuế chỉ nhằm tăng nguồn thu. Nếu đặt thế thì có thể dẫn tới việc mọi người trốn tránh, tìm cách lợi dụng và ngược lại sẽ ảnh hưởng tới nguồn thu.

Thu thuế nhưng phải hiểu được mục tiêu quan trọng nữa là tạo môi trường kinh doanh thực sự lành mạnh và minh bạch cho người kinh doanh.

Ví dụ, nếu người kinh doanh nộp thuế đầy đủ, Nhà nước có thể đứng ra bảo hộ đây là địa chỉ kinh doanh uy tín thì đương nhiên người kinh doanh này sẽ có uy tín hơn, khách tới nhiều hơn. Điều này tức là bên cạnh thu thuế thì cơ quan chức năng phải đảm bảo cho họ khả năng cạnh tranh tốt. Được như vậy, người ta sẽ sẵn sàng nộp thuế.

- Vậy còn vấn đề khiến cơ quan chức năng đau đầu hiện tại với kinh doanh online là thanh toán bằng tiền mặt qua đội ngũ vận chuyển hàng. Điều này có thể giải quyết thế nào, thưa ông?

Ông Hoàng Văn Cường: Theo tôi, nếu một cửa hàng kinh doanh và nộp thuế đầy đủ, không trốn tránh, có địa chỉ, tên tuổi rõ ràng thì Nhà nước sẽ kiểm soát được nếu có tranh chấp.

Ví dụ nếu khách hàng mua hàng tại các cửa hàng đã được Nhà nước bảo đảm uy tín, đã nộp thuế mà phát hiện hàng không đúng như quảng cáo, hàng “rởm” thì có quyền thông tin và kiện. Nhà nước phải đảm bảo quyền lợi của khách hàng trong những trường hợp này bởi khách hàng đã mua ở cửa hàng có chứng nhận của Nhà nước.

Đặc biệt, nếu khách hàng trả tiền qua tài khoản thì nếu kiện cáo, người dùng có thể cung cấp bằng chứng cho cơ quan chức năng để được bảo hộ. Lúc đó, người ta tội gì mà dùng tiền mặt. Người ta sẽ trả qua tài khoản để có chứng cứ mua hàng.

Có ý kiến là, người bán có thể giảm giá cho người trả bằng tiền mặt, ví dụ giá 100 đồng nhưng trả tiền mặt nên được chiết khấu chỉ còn 95 đồng, nhiều người tham 5 đồng sẽ trả tiền mặt. Tuy vậy, trả tiền mặt xong thì người dùng sẽ không có chứng cứ để khiếu kiện về chất lượng hàng hóa nếu xảy ra vấn đề sau đó.

Theo tôi, ngay lúc này, một số người vì lợi ích nhỏ nên không thực hiện trả tiền qua tài khoản nhưng về lâu dài, người ta sẽ chấp nhận hình thức thanh toán qua ngân hàng.

- Ông có nhắc tới việc đảm bảo công bằng và tạo sự đồng thuận từ người bán, người mua. Tuy nhiên, có ý kiến lo ngại rằng, cán bộ thuế và người kinh doanh có thể “đi đêm” để không phải nộp thuế. Điều này sẽ dẫn tới việc thiếu niềm tin từ những người làm ăn chân chính. Ông có lo về viễn cảnh này không?

Ông Hoàng Văn Cường: Nếu người kinh doanh chỉ một lần bị phát hiện có vi phạm thì phải bị xử phạt nặng. Cán bộ, quan chức cũng thế, nếu chỉ một lần bị phát hiện có sự thông đồng, bỏ qua vi phạm thì thậm chí phải xử lý nặng hơn. Nếu ta làm nghiêm chuyện đó, thực hiện một cách công bằng thì người dân mới theo.

Tôi cho rằng, xử lý nghiêm với người kinh doanh “một” thì với người có chức trách, nhiệm vụ phải gấp mười lần. Thậm chí, cán bộ sai phạm có thể bị cho thôi việc với chỉ một lần vi phạm. Có như thế thì mới không sợ thông đồng hay việc tính thuế không chính xác giữa các đối tượng./.

- Xin cảm ơn ông!

http://www.vietnamplus.vn/bai-5-quan-thue-kinh-doanh-online-lam-cong-bang-nguoi-dan-moi-theo/456286.vnp

Tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại TPHCM diễn ra chậm chạp có một phần không nhỏ do ý chí của lãnh đạo doanh nghiệp.

Tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại TPHCM diễn ra chậm chạp có một phần không nhỏ do ý chí của lãnh đạo doanh nghiệp.

Tại cuộc họp sơ kết công việc 6 tháng đầu năm, Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (DN) đánh giá tiến độ cổ phần hóa (CPH), thoái vốn tại DN có vốn nhà nước đang diễn ra chậm, đạt tỉ lệ thấp… Trong đó, TPHCM chậm nhất trong số các đơn vị khi chưa có DN nào được CPH trong danh sách 39 DN nhà nước phải CPH cho tới năm 2020.

Khó xác định giá trị DN

Nhiều nguyên nhân làm cho tiến trình CPH của TPHCM diễn ra chậm như: tính pháp lý tài sản, giá trị DN, chào bán cổ phần… lẫn mức độ quyết tâm của lãnh đạo DN và các cơ quan có thẩm quyền.

Nhiều doanh nghiệp thuộc diện cổ phần hóa, thoái vốn ở TPHCM đang hoạt động trong lĩnh vực công ích Ảnh: TẤN THẠNH

Theo tài liệu của Đảng ủy Khối DN - Ban Đổi mới quản lý DN TPHCM, trong số 51 DN thực hiện CPH giai đoạn 2016-2018, 39 DN đã có quyết định CPH và tiến độ xác định giá trị DN, 7 DN có quyết định giao tài sản để CPH, 38 DN được cấp trên chấp thuận cho việc chọn lựa đơn vị tư vấn CPH. Tuy nhiên, việc chuyển giao tài sản và mặt bằng cho DN CPH hết sức phức tạp vì vướng tranh chấp, tiêu tốn nhiều thời gian khi phải xin ý kiến cơ quan thẩm quyền tỉnh, TP khác đối với tài sản, đất ngoài địa bàn TPHCM.

Trong khi đó, DN chưa có hướng dẫn về biện pháp chế tài các đơn vị tư vấn xác định giá trị DN, tư vấn xây dựng phương án CPH trong trường hợp các đơn vị này xác định không đúng giá trị tài sản hoặc phương án CPH không có nhà đầu tư tham gia. Mặt khác, DN còn nhiều vướng mắc trong việc tính giá trị đất vào giá trị DN, giá trị thương hiệu…

Lãnh đạo Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị TP (đơn vị đang thực hiện CPH) cho hay sau khi có quyết định CPH vào tháng 4-2017, chỉ trong 2 tháng tiếp theo, công ty đã lập thủ tục giao tài sản, phương án sử dụng đất; xây dựng dự thảo phương án CPH… Thế nhưng, khó khăn lớn nhất mà công ty này phải đối mặt là chỉ có 2 trong số 4 khu đất đã hoàn tất thủ tục pháp lý. Hai khu đất còn lại phải chờ các sở, ban, ngành giải quyết những vấn đề pháp lý, ảnh hưởng đến việc xác định tài sản để tính giá trị DN. Vì thế, đại diện DN này kiến nghị UBND TP gia hạn sổ đỏ cho một khu đất và cấp sổ đỏ cho khu đất còn lại để công ty sớm xác định tài sản.

Cần quyết tâm cao

Theo các chuyên gia tài chính, một trong những rào cản của CPH là DN không dễ chào bán cổ phần lần đầu (IPO). Bởi lẽ, khi DN IPO với tỉ lệ thấp thì không khuyến khích nhà đầu tư tham gia. Trong khi đó, phần lớn nhà đầu tư đều muốn thu gom cổ phần với tỉ lệ lớn để nắm quyền quản lý nhằm sớm đổi mới cơ chế hoạt động của DN.

Lâu nay, dư luận cho rằng tiến trình CPH bị chậm còn do lãnh đạo DN thiếu quyết tâm. Thậm chí, người đứng đầu DN có thể xây dựng phương án, chính sách CPH sao cho giá bán cổ phần có lợi cho các nhà đầu tư thân quen với mình, mà trường hợp bà Hồ Thị Kim Thoa - Thứ trưởng Bộ Công Thương, liên quan đến quá trình CPH Công ty CP Bóng đèn Điện Quang - là một minh chứng.

Để tránh việc lãnh đạo DN hạ thấp giá trị DN trước khi CPH, nhiều ý kiến đề xuất nhà nước cần kiểm tra, xử lý các vấn đề về tài chính trước và trong quá trình CPH nhằm ngăn chặn thất thoát vốn và tài sản nhà nước. TS Nguyễn Văn Thuận (Trường ĐH Tài chính - Marketing) nhận định vấn đề cốt lõi của CPH là mức độ quyết tâm của lãnh đạo DN và các cơ quan chủ quản DN đó. Bởi lẽ, chủ trương, chính sách CPH của nhà nước đã đầy đủ. Thế nhưng, nhiều DN, cơ quan có thẩm quyền cứ "lình xình" khi giải quyết các vướng mắc liên quan đến CPH. Lãnh đạo DN thì lo ngại mất quyền lợi sau khi CPH thành công. Từ đó, họ xây dựng phương án theo hướng có lợi cho mình rồi trình lên cấp trên. Đồng thời, các đơn vị quản lý DN lại thiếu kiên quyết xử lý khiến việc CPH trở nên ì ạch.

"Bài học CPH Tổng Công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) cho thấy quá trình CPH của DN này liên quan đến không ít cá nhân là lãnh đạo DN. Khi Chính phủ, dư luận gây sức ép thì DN này mới niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán và hoàn tất việc CPH" - ông Thuận dẫn chứng.

Tổng giám đốc một công ty nhà nước đã CPH ở TPHCM cho rằng quá trình thực hiện CPH DN nhà nước trên địa bàn đang "tắc". Nếu TPHCM không có sự thay đổi quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo CPH thì chắc chắn đến cuối năm 2018 không thể CPH xong 39 DN.

Quá trình CPH chậm là do khó xác định giá trị DN. Việc xác định giá trị DN ở những DN có quá trình hoạt động càng lâu càng khó, nhất là những công ty mẹ. Trước đó, khi công ty con CPH, những khó khăn, vướng mắc đã dồn hết về công ty mẹ, đến khi công ty mẹ CPH thì vướng càng thêm vướng. Khó khăn tiếp theo là công ty lâu đời còn công nợ không có chứng từ để xử lý tài chính.

Ngoài ra, quá trình định giá tài sản công ty liên quan đến nhiều sở, ngành, đơn vị…; tài sản của DN nằm ở các tỉnh, thành khác nhau cũng gây khó khăn cho quá trình xác định giá trị. Chưa kể, những vướng mắc trong thủ tục hành chính, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm trong việc định giá cao hay thấp… cũng khiến quá trình định giá tài sản DN kéo dài.

TPHCM vẫn chưa thể hiện vai trò nhạc trưởng trong việc quảng cáo, tiếp thị, xúc tiến kêu gọi nhà đầu tư chiến lược đầu tư vào các DN CPH. DN phải tự rao bán, tìm nhà đầu tư, 2 bên gặp gỡ thỏa thuận hợp tác với nhau… Có thể nhà đầu tư được chọn chưa phải là nhà đầu tư tốt nhất, nếu có phương án "bán hàng" chủ động và tốt hơn thì DN sẽ tìm được nhà đầu tư tốt hơn. 

Ý KIẾN

Chuyên gia kinh tế BÙI KIẾN THÀNH:

Xem lại cách làm cổ phần hóa

 

 

 

 

 

DN nhà nước chiếm đến 40%-50% tổng đầu tư cả nước nhưng đa số hoạt động không hiệu quả, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế. Chủ trương CPH DN nhà nước đã có từ hơn chục năm nay nhưng quá trình triển khai cứ ì ạch, bây giờ phải làm tới nơi tới chốn. Việc thực hiện CPH DN nhà nước đang gặp trở ngại, cả chủ quan lẫn khách quan. Tuy nhiên, cái gốc của vấn đề là lẽ ra không nên giao cho DN làm những việc đó.

Ở các nước muốn CPH DN, nhà nước thuê công ty giám định độc lập vào nghiên cứu giá trị của DN đó và đất đai, nhà cửa, tài sản cố định, thương hiệu, thị trường… Sau khi giám định xong giá trị DN, DN nào không bán và CPH được thì bán và thanh lý; DN nào CPH được thì làm một cách triệt để. Theo tôi, nên bán hết 100% vốn nhà nước tại các công ty này, không cần giữ lại tỉ lệ vốn sở hữu nhà nước, như vậy mới hợp lý.

Chuyên gia kinh tế ĐINH THẾ HIỂN:

 

 

 

 

 

Tháo nút thắt từ cơ chế

TPHCM còn lại những DN công ích, tổng công ty đang trong quá trình thực hiện CPH. Những DN hoạt động nửa công ích, nửa kinh tế thị trường, có quỹ đất lớn còn nhiều phức tạp trong việc xử lý tài sản cũng như cách thức hoạt động sau CPH.

Ở những DN lớn có hoạt động tốt, độc quyền tương đối và có quỹ đất lớn thì bản thân ban lãnh đạo DN dù muốn CPH nhanh cũng khó vì vướng cơ chế về quản lý đất đai, quá trình định giá mất nhiều thời gian. Vì là độc quyền tương đối nên bài toán lợi ích của nhà nước trong công ty sau khi CPH, chuyển đổi sang hoạt động theo cơ chế mới không phải dễ giải và phụ thuộc vào quyết định của các cấp lãnh đạo.

Không nên áp đặt lộ trình CPH mang tính hành chính mà phải làm sao cho quy định về đất đai, tài sản, bất động sản của các DN nhà nước nắm giữ khi chuyển qua công ty cổ phần rõ ràng, cụ thể; phân biệt giữa những hoạt động chính trị và những hoạt động có tính công ích để chiến lược CPH được thực hiện nhanh; đồng thời cử ra một cán bộ cấp cao nhất của cơ quan chủ quản theo dõi, có quyền quyết định việc CPH và phải chịu trách nhiệm nếu không thực hiện đúng pháp luật về CPH. Nếu làm được 3 việc trên thì mới có thể đẩy nhanh quá trình CPH.

LS-TS BÙI QUANG TÍN, Trường ĐH Ngân hàng TPHCM:

 

 

 

 

 

Phải lên sàn để minh bạch hoạt động

Mấu chốt của CPH là chất lượng của DN. Giả sử DN chỉ chào bán 10%-20% cổ phần, đồng nghĩa nhà nước vẫn nắm giữ cổ phần chi phối. Như thế, lãnh đạo của DN sẽ trở thành đại diện cho 80%-90% vốn nhà nước. Từ đó, họ có thể đưa ra các quyết sách kinh doanh có lợi cho mình, dẫn đến DN hoạt động thiếu hiệu quả.

Do đó, theo quy định, sau một năm CPH, dứt khoát DN phải niêm yết cổ phần trên sàn chứng khoán để định giá chính xác tài sản, minh bạch thông tin… nhằm nâng cao chất lượng hoạt động.

Th.Nhân - C.Thy ghi

http://nld.com.vn/kinh-te/tp-hcm-i-ach-co-phan-hoa-20170715214531048.htm

Một số dự báo cho thấy thị trường du lịch trực tuyến của Việt Nam có thể đạt đến 9 tỉ đô la Mỹ trong vòng ba năm tới. Đây là “miếng bánh lớn” nhưng để giành được một phần trong đó lại không phải ...

Một số dự báo cho thấy thị trường du lịch trực tuyến của Việt Nam có thể đạt đến 9 tỉ đô la Mỹ trong vòng ba năm tới. Đây là “miếng bánh lớn” nhưng để giành được một phần trong đó lại không phải chuyện dễ dàng.

Khách tìm kiếm thông tin tại Ngày hội Du lịch trực tuyến 2017. Ảnh: Đào Loan

Đầu tư lớn

Xu hướng bán dịch vụ du lịch trực tuyến đang tăng trưởng mạnh và được nhiều doanh nghiệp, chuyên gia trong ngành đánh giá là xu hướng không thể đảo ngược, doanh nghiệp buộc phải tham gia nếu không muốn mất dần khách hàng.

Theo bà Lại Việt Anh, Phó cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin, không những số lượng người dùng Internet tăng cao mà tỷ lệ người mua sắm qua mạng cũng rất lớn. Có đến 45% người dùng Internet tại Việt Nam có đặt dịch vụ khách sạn, vé máy bay..., tốc độ tăng khoảng 11%/năm. Dự kiến trong vòng ba năm tới, thị trường du lịch trực tuyến Đông Nam Á sẽ đạt gần 90 tỉ đô la Mỹ và Việt Nam chiếm khoảng 10% doanh số của thị trường.

Kết quả nghiên cứu thị trường của Công ty Nielsen Việt Nam cũng cho thấy dịch vụ du lịch là sản phẩm đứng hàng thứ ba trong tốp đầu các nhóm sản phẩm được người Việt chi tiêu nhiều nhất trên thương mại điện tử (sau thời trang, sách - nhạc - văn phòng phẩm). Trong đó, từ đầu năm đến nay, chỉ riêng du lịch trong nước đã tăng 40% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trao đổi với TBKTSG, nhiều doanh nghiệp cho biết có những công ty đầu tư mạnh cho bán hàng trực tuyến và cũng đã có những công ty chuyên bán tour trên kênh trực tuyến, tuy nhiên, số lượng chưa nhiều. Doanh nghiệp rất muốn thâm nhập kênh bán hàng mới này nhưng bị vướng nhiều thứ, trong đó, rào cản lớn nhất là vốn và kỹ thuật tiếp thị, bán hàng.

Mười một năm trước, Công ty Du lịch Vietravel đã bắt đầu tính chuyện bán hàng trực tuyến và cho ra trang web https://travel.com.vn để làm việc này với kinh phí đầu tư rất lớn. Chưa kể chi phí cho kỹ thuật, nhân lực, chỉ riêng số tiền quảng cáo trang web trong năm đầu tiên đã lên đến 100.000 đô la Mỹ. Hiện nay, cùng với trang web này, Vietravel còn đầu tư cho những kênh trực tuyến khác, như trang mạng Facebook, để hỗ trợ mảng bán hàng trực tuyến. Công ty hiện có khoảng 30 nhân viên tiếp thị trực tuyến.

Nhưng đầu tư lớn không hẳn là có khách ngay. Mãi cho tới hai năm gần đây, lượng khách mua tour trực tuyến của Vietravel mới tăng trưởng khá. Năm 2015, công ty có khoảng 4.000 khách mua tour trực tuyến. Con số này tăng lên gấp ba vào năm ngoái (12.000 khách), và chỉ trong nửa đầu năm nay, lượng khách mua tour trực tuyến đã gấp đôi so với cả năm 2016. Bà Trần Thị Việt Hương, Giám đốc tiếp thị và truyền thông của Vietravel, chia sẻ: “Khác với các công ty khai thác du lịch nước ngoài mạnh về công nghệ và ngân sách tiếp thị, chúng tôi chỉ mạnh về sản phẩm, nên khi tham gia vào mảng này, chúng tôi đã phải chi phí lớn cho trang web, cho các phần mềm điện thoại và truyền thông mới có được kết quả như hôm nay”.

Nhiều doanh nghiệp cũng nhận xét bán hàng trực tuyến là một kênh bán hàng rất khác, nên cho dù doanh nghiệp đã rất mạnh với kênh bán hàng truyền thống thì vẫn phải đầu tư lớn cho mảng trực tuyến, phải đi từ chiến lược về giá, sản phẩm cũng như phải có cách tiếp cận đúng với đối tượng khách hàng trực tuyến, đặc biệt là phải có chiến lược thương hiệu.

Ông Nguyễn Duy Vĩ, Giám đốc tiếp thị của công ty sở hữu trang web Tugo.com.vn, cho biết công ty đã phải trả “học phí” rất đắt để bán được tour trên kênh trực tuyến. Thời gian đầu, công ty đã chọn sai đối tượng khách hàng tiềm năng. Trong khi lượng khách quan trọng là những người từ 35 tuổi thì các chương trình tiếp thị của công ty lại tập trung vào nhóm khách ở độ tuổi 20, dẫn đến tiếp thị sai đối tượng và sản phẩm cũng không hợp lý. Điều này sau đó đã được khắc phục nhưng để thu hút được khách cũng không phải dễ dàng. Công ty phải tiếp tục đầu tư để tạo ra những nhu cầu mới, tạo ra những “cơn sốt” du lịch và có những thời điểm phải chấp nhận lỗ để thực hiện chiến dịch. “Làm trực tuyến không đơn giản. Năm đầu tiên, chúng tôi mất trắng vài tỉ đồng. Hiện chúng tôi đã có thể kiếm tiền qua kênh này nhưng vẫn phải chi đều đặn. Riêng chi phí quảng cáo hàng tháng cũng hết cỡ 1 tỉ đồng”, ông Vĩ cho biết.

Trong thời đại Internet, có ý kiến cho rằng những doanh nghiệp nào chưa thể tự mình kinh doanh trực tuyến thì cũng cần phải hợp tác với các trang mạng bán hàng trực tuyến để gia tăng kênh phân phối và độ nhận diện của khách hàng. Tuy phải chi hoa hồng cho các trang web bán hàng nhưng đổi lại, doanh nghiệp đỡ phải lo lắng việc đầu tư nguồn nhân lực tiếp thị, bán hàng, thu tiền. “Kiểu hợp tác này cũng tương tự như các siêu thị, bạn hàng lớn hợp tác với nhà sản xuất trong nước làm nhãn hàng riêng, hai bên cùng đứng tên. Hệ thống phân phối rộng lớn của họ sẽ giúp nhà sản xuất mang hàng đi khắp nơi. Tên tuổi của công ty cũng có cơ hội đến với khách hàng cũng như kỳ vọng vào những cơ hội hợp tác trong tương lai”, ông Lê An Bình, Giám đốc tiếp thị của trang web mua sắm Hotdeal.vn, nhận xét.

“Cuộc chiến” OTA

Trong khi cuộc cạnh tranh bán hàng trực tuyến giữa các công ty du lịch trong và nước ngoài còn chưa quá nóng bỏng thì sự cạnh tranh giữa các đại lý du lịch trực tuyến (OTA) lại hết sức nhộn nhịp. Phần thắng hiện nghiêng về phía các OTA nước ngoài nhưng doanh nghiệp trong nước cho biết họ cũng đang đầu tư rất lớn, và nếu được thêm sự ủng hộ từ các đối tác trong nước thì họ hoàn toàn có thể cạnh tranh được.

Sự kiện Ngày hội Du lịch trực tuyến 2017 diễn ra tại TPHCM hồi tuần trước xuất hiện một hình ảnh trái ngược. Trong khi các OTA trong nước sôi nổi giới thiệu hình ảnh của mình thì một số khách sạn - đối tác lớn của kênh này lại nói nhiều về kinh nghiệm giao dịch và kết quả kinh doanh thu được từ các OTA nước ngoài. Trao đổi với TBKTSG, một số khách sạn cho biết tuy cùng lúc hợp tác với hơn chục OTA nhưng họ không kỳ vọng vào các OTA trong nước từ thực tế doanh số mà nguồn này đem lại, có khi chỉ bằng 1% so với các trang nước ngoài.

Trong khi đó, đại diện một số trang như Gotadi.com hay Tripi.vn cho rằng họ đã gặt hái được một số thành công sau vài năm tham gia thị trường. Chẳng hạn Tripi.vn chỉ sau hơn hai năm hoạt động, hiện đã có 700.000 khách hàng, số lượng khách hàng tháng sau luôn cao hơn tháng trước. Tuy nhiên, cái khó nhất trong kinh doanh là chưa có nhiều khách sạn, công ty du lịch chịu bán hàng qua kênh này dù giá hoa hồng cho mỗi giao dịch thấp, chỉ từ 10-15%, trong khi các OTA nước ngoài đang lấy từ 20-30%.

Theo ông Ngô Minh Đức, người sáng lập trang Gotadi.com, các OTA trong nước đang phải đương đầu với những đối thủ mạnh hơn về kinh nghiệm, công nghệ và tài chính. Thêm vào đó, phần lớn những đối thủ này lại không phải đóng thuế tại Việt Nam. Nhưng dù sao, để trở thành một công ty công nghệ nhằm gia tăng sức cạnh tranh, công ty vẫn đang đầu tư lớn và cố gắng thu hút sự hợp tác của các đơn vị cung ứng trong nước.

“Chúng tôi đi đàm phán hợp đồng với mức hoa hồng đề nghị chỉ 10-15% nhưng các khách sạn vẫn lắc đầu và họ chọn OTA nước ngoài với mức phí rất cao. Dĩ nhiên, trong thời gian đầu, OTA nước ngoài đã mang lại hiệu quả kinh doanh cho các khách sạn nhưng những OTA nội sẽ lớn mạnh. Tại sao chúng ta không hợp tác để có những kênh bán hàng tốt với chi phí thấp hơn?”, ông Đức tâm sự.

Gần đây, trong một lần trao đổi với TBKTSG về kinh doanh OTA, ông Trần Trọng Kiên, CEO của tập đoàn Thiên Minh, người sáng lập trang web www.ivivu.com, cho rằng OTA trong nước đang gặp phải những khó khăn và không thể cạnh tranh ngang ngửa với OTA nước ngoài nếu làm giống họ. Theo ông, OTA trong nước nên đi vào những thị trường ngách và những mô hình phù hợp với Việt Nam. Ông cho biết: “Năm năm trước chúng tôi làm khá giống với mô hình OTA trên thế giới nhưng nay chúng tôi thay đổi, tập trung vào nội dung và giá, cho khách hàng biết là họ đi đâu, xem gì, ăn gì thay vì chỉ đưa phòng ra bán như những OTA khác”.

http://www.thesaigontimes.vn/162427/Tiep-can-thi-truong-9-ti-do-la-My.html

Làm sao thu thuế của ông chủ, bà chủ những cửa hàng trên mạng xã hội không phải là câu hỏi mới đặt ra ngày hôm qua. Từ khoảng 4 năm trước, một lãnh đạo ngành thuế đã tiết lộ rằng, có những người kinh ...

Làm sao thu thuế của ông chủ, bà chủ những cửa hàng trên mạng xã hội không phải là câu hỏi mới đặt ra ngày hôm qua. Từ khoảng 4 năm trước, một lãnh đạo ngành thuế đã tiết lộ rằng, có những người kinh doanh trên mạng xã hội lãi hàng chục tỷ đồng. Tất nhiên, ở thời điểm đó, quản sao những với những “đại gia” online này là câu hỏi chẳng thể bắt tay vào giải, bởi như một đại diện cấp vụ của ngành thuế từng thừa nhận, một trong những lý do là kinh nghiệm ngành thuế còn yếu.

Trong những năm sau đó, thỉnh thoảng, người ta lại nghe thấy lời cảm thán quen thuộc từ phía cơ quan chức năng rằng: khó hoặc khác đi một chút là… rất khó.

Vài năm sau, tới tháng Sáu vừa rồi, khi Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lần đầu gọi tên những người kinh doanh trên Facebook lên làm việc, nhiều người mới để ý, hóa ra có hàng vạn người đang “rung đùi” thu tiền mà chưa chắc đã phải nộp một đồng thuế nào. Con số này dĩ nhiên mới là thống kê từ phía ngành thuế ở hai thành phố, điều này đồng nghĩa, nếu tính trên cả nước, số lượng có thể gấp nhiều lần.

Câu hỏi đặt ra là: Sau chừng ấy thời gian, cơ quan chức năng làm được điều gì khác so với thời còn non kinh nghiệm? Bởi nếu không, mọi thứ cũng chỉ như “ném đá ao bèo.”

Ai cũng biết, quản thế nào với người kinh doanh online là bài toán khó. Thế nhưng, bài toán này khác với những con số trong phương trình toán học. Bởi, nó không cho phép người giải trả lời bằng một đáp án vô nghiệm.

Bài 1: Quản lý kinh doanh trên mạng xã hội: Đã tới hồi cao trào?

Cuộc ra quân rầm rộ của cơ quan chức năng đã gây sóng gió không nhỏ cho giới kinh doanh online. Thế nhưng, sau phút bỡ ngỡ ban đầu, nhiều chủ hàng đang tìm cách thích nghi, bằng cách này hay cách khác.

Ngành thuế “xắn tay”

Đầu tháng Sáu, giới kinh doanh online ở Thành phố Hồ Chí Minh xôn xao bởi nhiều thành viên bất ngờ nhận được giấy mời tới cơ quan thuế làm việc về việc kinh doanh bán hàng qua mạng xã hội.

Anh Đức, một chủ hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh chuyên bán quần áo nam thừa nhận, chính anh đã nhận được thông tin này. Anh đem chuyện này hỏi thăm nhiều người trong giới thì mới biết, không ít người cũng nhận được thông tin tương tự. Tuy nhiên, không phải 100% shop online được mời lên làm việc với ngành thuế. Theo anh, phần lớn trong số này có lượt “thích” và “theo dõi” lớn và số lượng giao dịch sôi động.

“Từ những tháng trước, mình đã nghe thông tin Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đang bàn với các cơ quan chức năng khác để thu thuế kinh doanh online nhưng không ngờ giấy mời tới nhanh như thế,” anh Đức nói.

Mặc dù bất ngờ nhưng chủ cửa hàng này cho rằng, bản thân chưa có ý định lên gặp cơ quan chức năng vì cửa hàng của anh đang có ý định chuyển hướng kinh doanh. Bởi vậy, trong quãng thời gian chuyển tiếp này, anh không muốn có bất cứ rắc rối nào.

Tiến hành sau Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thuế thành phố Hà Nội chọn giải pháp “trực tuyến hơn.” Đó là gửi tin nhắn SMS cho hơn 13.000 chủ tài khoản Facebook có kinh doanh và đề nghị các chủ hàng kê khai online.

Cơ quan chức năng ráo riết là vậy nhưng ở phía những ông chủ các shop online, không phải ai cũng răm rắp làm theo những hướng dẫn.

Run, nằm im và… mặc kệ

Trên Facebook, một số chủ shop bày tỏ sự lo lắng với thông tin từ báo chí, rằng ngành thuế đang ráo riết tìm cách thu thuế với họ. Một chủ shop online chuyên bán đồ hải sản có nickname N.T.T.H chia sẻ dòng trạng thái “khuyến nghị” những người kinh doanh trên Fanpage bỏ hết các thông tin liên lạc như số điện thoại, email, tài khoản… để tránh sự “truy lùng” của ngành thuế.

Khi được hỏi vậy thì làm thế nào để khách hàng liên lạc, nickname này bày “kinh nghiệm” có thể để số điện thoại trong bài viết chứ không để ở trong mục thông tin của Facebook.

Trong khi đó, một chủ shop kinh doanh đồ chơi trẻ em có nickname là Đ.N cho biết, chị chưa nhận được thông báo qua tin nhắn từ cơ quan thuế. Tuy nhiên, vị chủ shop này tỏ ra hoang mang bởi là người có cửa hàng tại Hà Nội, chị đã đóng thuế theo quy định và không biết việc bán hàng trên Facebook, các diễn đàn… có bị áp thêm thuế hay không?

“Tôi mong ngành thuế có cách tính đúng đắn để các đơn vị có cả cửa hàng ‘mặt đất’ và cửa hàng ‘ảo’ như chúng tôi có thể yên tâm làm ăn, tránh phí chồng phí, gây khó khăn cho cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ,” chị nói.

Cùng tâm trạng như vậy, song một chủ cửa hàng online khác cũng cho hay, anh mới kinh doanh tranh sơn mài trên mạng được hơn hai tháng. Mặt hàng kinh doanh trên mạng được lấy từ các cơ sở nhỏ lẻ của làng nghề Hạ Thái (Thường Tín, Hà Nội) nên không có hóa đơn VAT. Bởi vậy, anh rất lo lắng bởi không biết sẽ bị áp thuế như thế nào.

“Tuy chưa nhận được tin nhắn của ngành thuế, song tôi cũng đang thấp thỏm chờ đợi. Việc đóng thuế cho nhà nước là đúng, nhưng là cơ sở mới kinh doanh, hàng hóa chưa bán được là bao nên nếu trong trường hợp bị áp thuế lớn, chúng tôi sẽ không biết phải làm sao,” anh nói.

Theo ghi nhận của phóng viên, ngoài việc lo lắng và chờ đợi, nhiều chủ shop online cũng cho rằng việc kinh doanh nhỏ trên Facebook chỉ là tạm thời. Do đó, trong trường hợp ngành thuế phối hợp cùng các cơ quan chức năng truy thu gắt gao, họ sẽ đóng cửa hàng trên mạng và chuyển nghề, hoặc sẽ lách bằng cách lập nick, Fanpage khác. Bởi lẽ, việc “chuyển cửa hàng” trên không gian mạng cực kỳ đơn giản và không quá tốn chi phí như cửa hàng thực tế…/.

http://www.vietnamplus.vn/thu-thue-kinh-doanh-tren-facebook-phim-dai-tap-hoi-ket-van-mit-mo/456278.vnp

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Janet Yellen nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ 3% là một điều đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng là mục tiêu khó đạt được trong mấy năm tới.

Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Janet Yellen nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ 3% là một điều đáng ngưỡng mộ, nhưng cũng là mục tiêu khó đạt được trong mấy năm tới.

Theo hãng tin Bloomberg, phát biểu này của bà Yellen đã phủ bóng nghi ngờ lên khả năng của chính quyền ông Trump về đạt mục tiêu tăng trưởng nói trên thông qua nới lỏng quy chế giám sát, tăng đầu tư cơ sở hạ tầng và cải cách thuế.

“Đó là một điều tuyệt vời nếu có thể đạt được. Tôi mong là thế”, bà Yellen nói khi trả lời một câu hỏi của thượng nghị sỹ Cộng hòa Bob Corker đến từ bang Tennessee trong phiên điều trần ngày 13/7 trước Quốc hội Mỹ. Ông Corker đã hỏi Chủ tịch Fed liệu kinh tế Mỹ có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 3% trong vòng 5 năm tới nay không.

“Đây là một nhiệm vụ khá nhiều thách thức”, bà Yellen nói, và giải thích rằng tăng trưởng kinh tế là tổng của gia tăng năng suất và gia tăng lực lượng lao động.

Trong đó, tăng trưởng năng suất là “rất khó để dịch chuyển”, và một chính sách của chính phủ nếu giúp yếu tố này tăng trưởng chỉ vài phần nghìn đã là một “kết quả rất tốt”, bà Yellen nói. Xét tới sự tăng trưởng chậm chạp của lực lượng lao động ở Mỹ hiện nay, tăng trưởng năng suất ở Mỹ phải vượt mức 2% để nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng 3%, bà nói.

Chủ tịch Fed nói thêm rằng, tăng trưởng năng suất ở Mỹ chỉ đạt mức trung bình 0,5% mỗi năm trong 5 năm qua, so với mức 1,1% mỗi năm trong vòng 1 thập kỷ qua.

Quan điểm hoài nghi của bà Yellen được đưa ra chỉ một ngày sau khi ông Mick Mulvaney, Giám đốc ngân sách của Nhà Trắng, có một bài viết đăng trên tờ Wall Street Journal nhắc lại mục tiêu tăng trưởng kinh tế 3% bền vững, so với mức tăng trưởng trung bình khoảng 2% mà nền kinh tế Mỹ đã duy trì kể từ sau suy thoái.

Nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng 3%, chính quyền Trump đã đề xuất cải cách thuế, nới lỏng các quy chế giám sát, cải cách chế độ phúc lợi xã hội, đàm phán các thỏa thuận thương mại mới, mở rộng việc khai thác năng lượng, và cắt giảm ngân sách chính phủ.

Bài viết của ông Mulvaney nói rằng mức tăng trưởng 3% sẽ giúp thu ngân sách chính phủ tăng thêm 2,9 nghìn tỷ USD trong thập kỷ tới và tiền lương của người lao động tăng thêm 7 nghìn tỷ USD.

“Chính quyền đã bị chỉ trích là phi thực tế”, ông Mulvaney viết. “Đối với chúng tôi, như thế cũng chẳng sao. Chúng ta đã từng nghe sự bi quan như vậy từ 40 năm trước, khi nước Mỹ chìm trong tình trạng tăng trưởng trì trệ kết hợp lạm phát cao (stagflation) và bất ổn”.

Giới kinh tế đã đặt cho kế hoạch tăng trưởng của Nhà Trắng một cái tên là “MAGAnomics”, với từ “MAGA” là những chữ cái đầu trong khẩu hiệu chính trị của Tổng thống Trump “Make America great again” (tạm dịch: “Hãy làm cho nước Mỹ trở nên vĩ đại thêm lần nữa”).

Không chỉ bà Yellen mà nhiều chuyên gia và các nhà đầu tư cũng đã tỏ ra nghi ngờ về chương trình nghị sự kinh tế của ông Trump. Sự nghi ngờ này có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây khi ông Trump tiếp tục bị vướng vào cuộc khủng hoảng xung quanh nghi vấn chiến dịch tranh cử của ông có thông đồng với Nga. Nhiều người cho rằng điều này sẽ cản trở Tổng thống Mỹ thực thi các chính sách có lợi cho nền kinh tế.

http://vneconomy.vn/the-gioi/chu-tich-fed-nghi-ngo-muc-tieu-tang-truong-kinh-te-cua-ong-trump-20170714051457602.htm

Sở Giao thông Vận tải (GTVT) TPHCM đã bắt đầu nghiên cứu lộ trình cấm xe máy vào khu trung tâm với đề án mang tên tăng cường vận tải hành khách công cộng kết hợp kiểm soát sử dụng xe cá nhân. Bước ...

Sở Giao thông Vận tải (GTVT) TPHCM đã bắt đầu nghiên cứu lộ trình cấm xe máy vào khu trung tâm với đề án mang tên tăng cường vận tải hành khách công cộng kết hợp kiểm soát sử dụng xe cá nhân. Bước đầu đề án đưa ra từng giai đoạn thực hiện và dự kiến đến năm 2030 (hoặc sau đó) sẽ ngưng toàn bộ xe máy đi vào một số khu vực trung tâm và nơi thường xảy ra ùn tắc.

Theo Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải, xe cá nhân được đề xuất nằm trong danh sách hạn chế gồm ô tô con cá nhân; xe công vụ, mô tô, gắn máy 2 bánh, 3 bánh, xe đạp; xe cá nhân chở hàng gồm xe tải các loại, xe chuyên dùng, xe mô tô, xe gắn máy 3, 4 bánh.

Tại buổi làm việc giữa Sở GTVT TPHCM với Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải hôm 14-7, hai bên đã thảo luận và đưa ra các nhóm giải pháp để thực hiện hạn chế dần việc sử dụng xe cá nhân, tăng cường phát triển xe buýt.

Cụ thể, việc thực hiện được chia làm 2 giai đoạn với từng giải pháp cụ thể. Trong đó giai đoạn 2017- 2020, kiểm soát sử dụng xe cá nhân tham gia giao thông bao gồm lập đề án thu phí đối ô tô con, phí ô nhiễm môi trường, thống kê số lượng phương tiện xe máy.

Các giải pháp hành chính được nghiên cứu là kiểm soát xe cá nhân lưu hành theo biển số chẵn - lẻ (theo ngày và theo giờ), hạn chế dừng đỗ, hạn chế và cấp phép cho xe đi vào nội đô, giới hạn đăng ký xe ở từng quận - huyện...

Giải pháp về tài chính gồm thu phí chống ùn tắc, đấu giá biển số (đặc biệt là đăng ký, bán đấu giá biển số xe taxi và quy định chỉ có 1-2 màu với loại xe này để dễ nhận dạng, kiểm tra, xử lý và phân biệt được với các loại xe cá nhân khác...).

Đối với giải pháp về kỹ thuật gồm trồng cọc tiêu mềm, đặt hộp phân cách, tạo bậc thềm không cho xe cá nhân, đặc biệt là xe máy đi vào một số tuyến đường...

Giai đoạn 2020-2030, nghiên cứu kiểm định khí thải đối với xe máy chạy trên 5 năm và chu kỳ kiểm định lần kế tiếp là 2 năm sau đó. Theo dự báo của Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải, đến năm 2020 xe cá nhân ở TPHCM vẫn chiếm trên 81% thị phần vận tải (vận tải công cộng chỉ chiếm khoảng 15-18%). Giai đoạn này cần nghiên cứu phân vùng lưu thông, thống kê số lượng và dự kiến đến năm 2030 (hoặc sau đó) sẽ ngưng toàn bộ xe máy đi vào một số khu vực trung tâm và nơi thường xảy ra ùn tắc...

Tại cuộc họp, một số chuyên gia cho rằng đề án tăng cường vận tải hành khách công cộng, hạn chế xe cá nhân là rất khả thi. Tuy nhiên đề án phải có sự chuẩn bị, nghiên cứu kỹ và đưa ra các phương án thay thế xe cá nhân để thực hiện theo lộ trình.

PGS.TS Phạm Xuân Mai, giảng viên Đại học Bách khoa TPHCM cho rằng, để hạn chế xe cá nhân thì cần phải có nguồn lực tài chính để đầu tư khoảng 21.000 xe buýt nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân.

Ông Mai góp ý, đề án nên đi vào cụ thể, phân tích về bối cảnh của TPHCM so với các thành phố khác thế nào. Nguyên nhân gây ra kẹt xe nên đưa ra cụ thể, không nên đưa chung chung, chỉ rõ cái gì gây ra ùn tắc thì mới có giải pháp tháo gỡ.

Theo thống kê của Sở GTVT TPHCM, tính đến ngày 15-6-2017, TPHCM đang quản lý 8.062.426 xe, trong đó có 652.389 xe ô tô và 7.410.037 xe máy. So với cùng kỳ năm 2016 lượng xe tăng 5,67%.

Trong khi xe cá nhân tăng nhanh thì lượng người đi xe buýt chỉ tăng nhẹ. Sáu tháng đầu năm 2017, số người đi xe buýt đạt 139,8 triệu lượt hành khách, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt 40% so với kế hoạch năm 2017.

http://www.thesaigontimes.vn/162573/TPHCM-nghien-cuu-lo-trinh-cam-xe-may-vao-khu-trung-tam.html

It's me

Hoài Xuân

lời nói đi đôi với hành động

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán