Bài viết của Quang Anh

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 - 2020”.

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước giai đoạn 2016 - 2020”.

Tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại

Mục tiêu của Đề án nhằm thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý hơn, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội; quốc phòng, an ninh; lĩnh vực độc quyền tự nhiên; ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư; thực hiện công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường và quy định của pháp luật trong cổ phần hoá và thoái vốn, không để xảy ra tiêu cực, lợi ích nhóm, thất thoát vốn, tài sản nhà nước.

Đầu tư của doanh nghiệp nhà nước tập trung vào các lĩnh vực khoa học, công nghệ; ngành, lĩnh vực mang tầm chiến lược, có tính dẫn dắt, định hướng xây dựng nền kinh tế tri thức, có hàm lượng công nghệ cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế; nâng cao hiệu quả hoạt động, sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh, tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước; kiện toàn nâng cao năng lực quản lý và năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế; hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được quản lý, giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch, bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Sớm tách chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của Nhà nước

Đề án tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường.

Hoàn thiện mô hình quản lý, giám sát doanh nghiệp nhà nước và vốn, tài sản Nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp; sớm tách chức năng đại diện chủ sở hữu vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước với chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành, địa phương.

Nhà nước chỉ giữ 100% vốn tại 103 doanh nghiệp

Nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn 2016 - 2020 là hoàn thành cổ phần hóa 137 doanh nghiệp; phấn đấu đến hết năm 2020, Nhà nước chỉ giữ 100% vốn tại 103 doanh nghiệp (chưa bao gồm các công ty nông, lâm nghiệp, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh, Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước, Công ty mua bán nợ Việt Nam và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam, công ty thủy nông thực hiện sắp xếp theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ) theo Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 - 2020 tại Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Xây dựng lộ trình và tổ chức bán phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên để phù hợp với tiêu chí tại Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28/12/2016.

Đề án tiếp tục cơ cấu lại toàn diện doanh nghiệp nhà nước. Cụ thể, sắp xếp lại doanh nghiệp; nâng cao năng lực tài chính; đổi mới công tác quản trị, công nghệ; đổi mới tổ chức, quản lý nguồn nhân lực; cơ cấu sản phẩm, ngành nghề sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Rà soát, xử lý dứt điểm tồn tại, yếu kém của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp thua lỗ, các dự án đầu tư không hiệu quả, hiệu quả thấp theo cơ chế thị trường và xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân liên quan. Tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại, yếu kém của 12 dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương và tiếp tục rà soát đối với các dự án, doanh nghiệp khác.

http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Co-cau-lai-DNNN-trong-tam-la-tap-doan-kinh-te-TCty-nha-nuoc-giai-doan-2016-2020/307303.vgp

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra ...

Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 7/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra lấy ý kiến góp ý.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, ngày 7/7/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản; Nghị định 89/2015/NĐ-CP ban hành ngày 7/10/2015, Nghị định 172/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP (Nghị định 67). Nghị định 67 bao gồm nhiều nhóm chính sách phát triển thủy sản mang tính đột phá, đồng bộ, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của đông đảo ngư dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển ngành thủy sản theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tái cơ cấu ngành thủy sản, phát triển bền vững.

Tính đến 28/2/2017, các ngân hàng thương mại đã ký hợp đồng tín dụng để đóng mới, nâng cấp tàu với số tiền cam kết cho vay khoảng 9.139 tỷ đồng. Hiện đã có 557 tàu cá đóng mới và 104 tàu nâng cấp đi vào hoạt động tại các tỉnh trong đó có 188 tàu vỏ thép, 22 tàu composite và 347 tàu vỏ gỗ và nâng cấp 105 tàu. Các tàu này chủ yếu làm nghề lưới vây, rê, chụp. Số tàu cá đóng mới đi vào hoạt động sản xuất đều đạt hiệu quả cao, an toàn. Tính đến ngày 28/2/2017, các chủ tàu đã trả nợ gốc cho ngân hàng đạt 65 tỷ đồng, tổng dư nợ còn 7.963 tỷ đồng.

Các Ngân hàng thương mại đã thẩm định, ký hợp đồng với 250 chủ tàu và thực hiện giải ngân với tổng số tiền gần 604 tỷ đồng tại các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Tiền Giang, Phú Yên, Thừa Thiên Huế, Khánh Hòa, Bạc Liêu, Bình Thuận, Ninh Thuận. Hiện có 85 khách hàng còn dư nợ với số tiền gần 23 tỷ đồng.

Các địa phương cũng đã tổ chức đào tạo, hướng dẫn thuyền viên tàu cá vận hành tàu vỏ thép, tàu vỏ vật liệu mới; hướng dẫn kỹ thuật khai thác, bảo quản sản phẩm theo công nghệ mới cho 2.347 thuyền viên với kinh phí là 9.409 triệu đồng. Hỗ trợ được 3.740 chuyến biển tương đương số tiền là 155,54 tỷ đồng theo chính sách hỗ trợ vận chuyển hàng hóa từ đất liền ra khai thác hải sản xa bờ và vận chuyển sản phẩm hải sản khai thác xa bờ về đất liền cho các tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ có tổng công suất máy chính từ 400CV trở lên…

Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bên cạnh những kết quả tích cực, trong quá trình triển khai thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc cần được sửa đổi bổ sung. Cụ thể, về chính sách đầu tư, việc cân đối, bố trí kinh phí đối với các công trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho ngành thủy sản chưa được bố trí theo đúng quy định tại Điều 3 Nghị định 67/2014/NĐ-CP (bố trí kinh phí hàng năm giai đoạn 2015 – 2020 với mức đầu tư bình quân hàng năm tăng gấp 2 lần so với mức bình quân giai đoạn 2011 – 2014), cụ thể, ngân sách năm 2015 tăng 30,5% so với 2014; năm 2016 giảm 22,5% so với năm 2015. Do đó đã ảnh hưởng tiến độ và khả năng đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nghề cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, đặc biệt là nơi neo đậu đối với các tàu cá có kích thước lớn, tàu vỏ thép…

Bên cạnh đó, Nghị định 67/2014/NĐ-CP quy định vốn đối ứng của địa phương nhưng không đạt, đầu tư không đồng bộ, các cảng cá không có mái che và hệ thống xử lý nước thải trong sản xuất, chưa có hạng mục đầu tư đối với nạo vét luồng lạch, đặt phao tiêu biển để tàu cập cảng, tránh trú bão ở các cảng cá loại I và khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng. Nguồn vốn để thực hiện đầu tư hạ tầng cho ngành thủy sản còn dàn trải, chưa tập trung để đáp ứng được trực tiếp sản xuất.

Về chính sách tín dụng hỗ trợ lãi suất vốn vay đóng mới, nâng cấp tàu, Nghị định 67/2014/NĐ-CP chưa có quy định đối với ngư dân đang đóng hoặc mới đóng xong nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên không tiếp tục thực hiện dự án đóng tàu nữa muốn chuyển nhượng cho chủ tàu khác.

Trường hợp ngư dân đề nghị được vay vốn bổ sung vượt dự toán ban đầu do có sự điều chỉnh thiết kế hoặc do khối lượng vật tư thực tế vượt dự toán chưa được thực hiện. Trường hợp tàu đóng xong đi vào hoạt động bị bắt, bị xử phạt, một số trường hợp bị tịch thu tàu nhưng chưa có phương án xử lý thu hồi vốn để bảo toàn vốn vay cho ngân hàng thương mại…

Vì vậy, cần thiết ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 67/2014/NĐ-CP cho phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang lấy ý kiến góp ý dự thảo này trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ...

http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/De-xuat-sua-doi-mot-so-chinh-sach-phat-trien-thuy-san/307326.vgp

Chiều muộn ngày 29/5, sau khi Quốc hội kết thúc phiên thảo luận chiều, Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã họp phiên toàn thể lần thứ 5.

Chiều muộn ngày 29/5, sau khi Quốc hội kết thúc phiên thảo luận chiều, Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội đã họp phiên toàn thể lần thứ 5.

Thẩm tra tờ trình của Chính phủ về việc tách nội dung thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án thành phần để thực hiện trước phục vụ cho việc sớm triển khai dự án cảng hàng không quốc tế Long Thành là nội dung cuộc họp này.

Phải tách mới kịp

Chính phủ giải thích, theo quy định hiện hành, Thủ tướng có thể quyết định việc tách này sau khi báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án được Quốc hội thông qua.

Tuy nhiên, do công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án chưa hoàn thành nên Chính phủ chưa thể trình Quốc hội để xem xét, thông qua.

Theo tiến độ dự kiến, báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án sẽ được hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét thông qua vào năm 2019. Trong khi UBND tỉnh Đồng Nai cần khoảng thời gian ít nhất 3 năm để hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 của dự án.

Nếu Quốc hội đồng ý cho tách thì tỉnh Đồng Nai sẽ tổ chức thực hiện giải phóng mặt bằng song song với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi.

Dự kiến nếu Quốc hội thông qua báo cáo nghiên cứu khả thi vào năm 2019 thì sớm nhất 2020 địa phương mới có thể bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư để triển khai các bước tiếp theo của dự án phù hợp với tiến độ đưa cảng hàng không quốc tế Long Thành vào khai thác từ 2025 theo nghị quyết của Quốc hội.

Nếu không được tách thì dự án có thể phải kéo dài khoảng 2 - 3 năm, chưa kể kinh phí giải phóng mặt bằng sẽ tăng thêm, đời sống của dân vùng dự án sẽ gặp thêm nhiều khó khăn.

Chính phủ cho biết, tổng kinh phí khái toán cho công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư của dự án khoảng 23.000 tỷ đồng (trong đó có 5.030 tỷ để xây dựng khu tái định cư).

Tổng diện tích đất dự kiến thu hồi cho dự án là 5.614,65 ha.

Tổng số hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất là 4.730 hộ, cá nhân với khoảng 15.000 nhân khẩu và 26 tổ chức (bao gồm các tổ chức tôn giáo, trụ sở cơ quan hành chính nhà nước, trường học, trạm y tế và doanh nghiệp).

18 nghìn tỷ nữa lấy ở đâu?

“Hiện nay mới bố trí được 5.000 tỷ, phần thiếu 18 nghìn tỷ chưa thấy có phương án cụ thể”, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nêu vấn đề.

Đây cũng là câu hỏi được nêu nhiều tại phiên họp, bới nghị quyết của Quốc hội yêu cầu phải giải phóng mặt bằng một lần và tiền bố trí mới được 5.000 tỷ trong kế hoạch vốn trung hạn thì số còn lại lấy ở đâu?

Dù các ý kiến từ các vị đại biểu đến từ Hội đồng Dân tộc, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách, Uỷ ban Đối ngoại, Uỷ ban Pháp luật… và nhiều thành viên Uỷ ban Kinh tế đều đồng ý với sự cần thiết phải tách như đề xuất của Chính phủ.

Phó chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Nguyễn Hữu Toàn băn khoăn: 80% tiền còn thiếu ở đâu ra, tờ trình của Chính phủ nói không trông được vào vốn ODA mà phải sử dụng tiền ngân sách và chỉ có thể hoàn trả một phần vốn từ việc đấu giá quyền sử dụng đất để xây dựng các công trình thương mại và dịch vụ.

“18 nghìn tỷ lớn lắm, phương án bố trí vốn như thế nào?”,ông Toàn băn khoăn.

Phó chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội Nguyễn Mạnh Tiến cho rằng, cần xem luôn ngoài chuyện xin tách dự án như trên thì còn cần gì cần tách nữa không, xin thì xin một lần, đừng để mỗi kỳ xin một thứ thì không nên.

“Nghị quyết Quốc hội nói thu hồi đất một lần thì 5.000 tỷ có đủ không? Nếu không thì phải sửa ngay nghị quyết”, ông Tiến nói.

Phát biểu tại phiên họp, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh, việc tách dự án như Chính phủ trình phải dựa trên nghị quyết đã được Quốc hội thông qua về dự án sân bay Long Thành.

Ông Hiển cũng cho rằng câu hỏi quan trọng nhất là vốn ở đâu, vì ban đầu Chính phủ nói cần 12 nghìn tỷ, Đồng Nai nói cần 18 nghìn, giờ lại lên đến 23 nghìn, vậy tới đây dừng lại hay tăng thêm nữa?

Theo Phó chủ tịch Quốc hội thì nguồn vốn ở đâu cũng phải giải trình được với Quốc hội, xem mới có 5 nghìn thì 18 nghìn nữa lấy ở đâu.

Một là phải đi vay hai là dùng từ dự phòng ngân sách, hai là dùng chính một phần đất của dự án đó để sinh lời, Chính phủ phải chỉ ra được.

Chốt lại, ông nói, nếu kỳ họp cuối năm nay Quốc hội có đồng ý phê duyệt báo cáo khả thi thì Chính phủ mới có thể triển khai dự án xin tách này.

“Nói với dân phải nhất ngôn”

Ở khía cạnh khác, Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Trường Giang thì băn khoăn khi đất phải thu hồi đã tăng hơn 600 ha so với nghị quyết của Quốc hội.

Phó chủ nhiệm Uỷ ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi cho rằng phải đánh giá thêm sự đồng tình của dân, vì khi đi vào đền bù thì mới nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp.

Ông Lợi cũng lưu ý, cần thực hiện đúng quy định,  vì nếu xác định chi trả đền bù cho dân theo đơn giá 2017, nhưng lại lấn sang 2018 - 2019 thì rất khó khăn.

“Nói với dân phải nhất ngôn, không thì sẽ xảy ra khiếu kiện ngay thôi”, ông nhấn mạnh.

Đại diện UBND tỉnh Đồng Nai cho biết, nói là giải phóng mặt bằng một lần nhưng không phải 1 năm mà xong mà sẽ ưu tiên giải phóng để xây dựng sân bay trước.

Nếu nhanh nhất thì đầu 2018 sẽ triển khai chứ không phải 5.000 tỷ dùng ngay một năm, còn từ nay đến 2020 cố gắng giải phóng 2.750 ha cho sân bay trước, vị này cho biết.

Kết thúc phiên họp, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh đề nghị Chính phủ cần có báo cáo giải trình bổ sung những vấn đề đã được đặt ra tại phiên họp.

http://vneconomy.vn/bat-dong-san/mat-bang-cho-san-bay-long-thanh-18-nghin-ty-nua-lay-o-dau-20170529070658359.htm

Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có CPI tháng 5 giảm so với tháng trước.

Có 4/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có CPI tháng 5 giảm so với tháng trước.

Trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1.43% (lương thực giảm 0.06%; thực phẩm giảm 2.27% do giá thịt tươi sống giảm, tác động làm CPI giảm 0.51%); giao thông giảm 0.34% do điều chỉnh giảm giá xăng, dầu tại thời điểm 5/5/2017 và 20/5/2017 (giá nhiên liệu giảm 0.71%, tác động làm CPI giảm 0.03%); bưu chính viễn thông giảm 0.05%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0.02%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có CPI tăng nhẹ: Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0.13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0.1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0.08%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0.05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0.04%; giáo dục tăng 0.02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0.15%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 4.47% so với bình quân cùng kỳ năm 2016. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 5/2017 tăng 0.37% so với tháng 12/2016 và tăng 3.19% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 5/2017 tăng 0.08% so với tháng trước và tăng 1.33% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 5 tháng đầu năm 2017 tăng 1.56% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 5/2017 giảm 0.10% so với tháng trước; tăng 2.91% so với tháng 12/2016 và tăng 4.12% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2017 giảm 0.03% so với tháng trước; giảm 0.05% so với tháng 12/2016 và tăng 1.66% so với cùng kỳ năm 2016./.

Xu hướng sụt giảm của lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng từ đầu tháng 5/2017 đến nay tiếp tục thể hiện, mạnh hơn trong tuần qua.

Xu hướng sụt giảm của lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng từ đầu tháng 5/2017 đến nay tiếp tục thể hiện, mạnh hơn trong tuần qua.

Trạng thái vốn của các tổ chức tín dụng dồi dào cũng đang tạo điều kiện cho hoạt động đấu thầu trái phiếu diễn ra thuận lợi và sôi động.

Cụ thể, trong tuần tính đến 26/5, ngoại trừ kỳ hạn 1 tuần, lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng giảm liên tục cả tuần, đặc biệt phiên cuối tuần giảm mạnh từ 0,35-0,46 điểm phần trăm so với phiên trước đó.

Chốt tuần, lãi suất qua đêm chào bình quân phổ biến quanh 2,97%, là mức thấp nhất kể từ cuối tháng 2/2017 đến nay; lãi suất chào bình quân kỳ hạn 1 tuần ở 4,08%; 2 tuần giảm còn 3,3%; 1 tháng giảm còn 3,65%, giảm từ 0,83-1,03 điểm phần trăm so với cuối tuần trước đó.

Diễn biến trên một phần phản ánh trạng thái vốn dồi dào hơn trong hệ thống các tổ chức tín dụng. Với trạng thái này, Ngân hàng Nhà nước cũng liên tục giảm khối lượng chào thầu trên kênh cầm cố; tuần qua giảm từ 7.000 tỷ đồng tuần trước đó xuống 5.000 tỷ đồng.

Với khối lượng trên, các tổ chức tín dụng chỉ hấp thụ 2.175 tỷ đồng (tỷ lệ trúng thầu ở mức 44%). Đặc biệt, phiên cuối tuần không có khối lượng trúng thầu. Khối lượng đáo hạn trong tuần qua ở mức 4.744 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 2.569 tỷ đồng.

Tính đến 26/5, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố đứng ở mức 2.175 tỷ đồng và sẽ đáo hạn toàn bộ trong tuần này.

Trạng thái vốn của các tổ chức tín dụng dồi dào cũng đang tạo điều kiện cho hoạt động đấu thầu trái phiếu diễn ra thuận lợi và sôi động.

Trong tuần qua có hai phiên đấu thầu trái phiếu của Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Chính sách Xã hội. Lãi suất trúng thầu trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 5 năm và 7 năm lần lượt tại 5,03% và 5,35% - chạm mức thấp nhất kể từ đầu năm. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 20 năm và 30 năm cũng giảm nhẹ so với tuần trước đó.

Cụ thể, ngày 22/5, Ngân hàng Chính sách Xã hội gọi thầu 1.000 tỷ đồng ở ba kỳ hạn 5 năm (200 tỷ đồng), 10 năm (400 tỷ đồng) và 15 năm (400 tỷ đồng). Kết quả, ngoại trừ kỳ hạn 5 năm đấu thầu thất bại, hai kỳ hạn 10 năm và 15 năm huy động được toàn bộ khối lượng gọi thầu. Lãi suất trúng thầu kỳ hạn 10 năm và 15 năm lần lượt là 6,35% và 7,1% - giảm tương ứng 6 điểm và 5 điểm so phiên đấu thầu trước đó.

Ngày 24/5, Kho bạc Nhà nước huy động được 5.865/6.500 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ (tỷ lệ trúng thầu 90%). Lãi suất trúng thầu đồng loạt giảm ở tất cả các kỳ hạn, lãi suất kỳ hạn 5 năm tại 5,03% (giảm 13 điểm); kỳ hạn 7 năm tại 5,35% (giảm 9 điểm); kỳ hạn 20 năm tại 7% (giảm 9 điểm); kỳ hạn 30 năm tại 7,55% (giảm 8 điểm). Tổng khối lượng dự thầu đạt 23.000 tỷ đồng, gấp 3,5 lần khối lượng cần huy động...

http://vneconomy.vn/tai-chinh/lai-suat-lien-ngan-hang-xuong-thap-nhat-ba-thang-qua-20170529082828203.htm

“Hiện tồn kho gạo của 3 nước xuất khẩu gạo lớn: Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam đã cạn trong khi nhu cầu mua gạo của các nước là rất lớn. Do vậy, các nước xuất khẩu gạo cần công bố thông tin về sản xuất để ...

“Hiện tồn kho gạo của 3 nước xuất khẩu gạo lớn: Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam đã cạn trong khi nhu cầu mua gạo của các nước là rất lớn. Do vậy, các nước xuất khẩu gạo cần công bố thông tin về sản xuất để các nước nhập khẩu biết mà có cách tính toán và có giải pháp can thiệp kịp thời, nếu không khủng hoảng gạo như năm 2008 có thể xảy ra vào năm 2018...”.

Thị trường xuất hiện những nhu cầu rất rõ ràng từ các nước nhập khẩu gạo trong khi nguồn cung từ các nước xuất khẩu lớn gồm Ấn Độ, Thái Lan, Việt Nam đang gặp khó.

Đó là nhận định của các chuyên gia hàng đầu về lúa gạo của Thái Lan và Việt Nam trước “Hội nghị Gạo Thái Lan” diễn ra vào ngày 29/5/2017, do Bộ Thương mại Thái Lan tổ chức.

Nguồn cung gặp khó

Vì tính nghiêm trọng diễn biến của thị trường gạo sắp tới nên có rất nhiều lãnh đạo bộ thương mại các nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Bangladesh và các nước Trung Đông... tham dự. Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh dẫn đầu đoàn trực tiếp đến tham dự hội nghị này.

“Tại hội nghị, Thái Lan sẽ công bố về tình hình sản xuất và tồn kho gạo đến thời điểm hiện tại để khách hàng biết mà tính toán. Nhằm thể hiện tinh thần trách nhiệm của Thái Lan đối với các nước nhập khẩu gạo”, Bộ trưởng Thương mại Thái Lan cho biết.

Được biết, 1,8 triệu tấn gạo cũ tồn kho của Thái Lan còn sử dụng được đã bán hết, tồn kho gạo mới không nhiều, vụ mùa mới đến tận tháng 9 năm nay và sản lượng cũng chỉ khoảng 3 triệu tấn, còn vụ lúa chính phải tháng 11 mới bắt đầu. Như vậy, từ nay đến cuối năm nguồn cung gạo của Thái Lan không còn, nên họ không có khả năng bán ra.

Đối với Việt Nam - nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới, đến tháng 8/2017 mới thu hoạch vụ hè-thu nhưng sản lượng không lớn. Trong khi tồn kho của các doanh nghiệp không nhiều và lượng gạo này đã bán hết cho các thương nhân Trung Quốc, tuy chưa nhận hàng.

Còn đối với Ấn Độ - nước xuất khẩu gạo số 1 thế giới đang lo cung ứng cho thị trường châu Phi, vì Thái Lan không còn bán gạo vào thị trường này. Là đất nước đông dân nên Ấn Độ không cam kết trách nhiệm gạo với thế giới, khi thấy tình hình căng thẳng nước này có thể sẽ ngừng xuất khẩu gạo như 2008 đã từng làm.

Nhu cầu nhập khẩu gạo lớn

Trong khi đó, thị trường xuất hiện những nhu cầu rất rõ ràng. Nhất là từ Philippines, từ nay đến cuối năm và gối đầu sang quý 1/2018, Philippines cần tối thiểu là 1,5 -1,6 triệu tấn, vì tồn kho gạo của nước này chỉ đủ cho nhu cầu vài ngày.

Bên cạnh đó, Bangladesh đã khởi động nhập khẩu gạo, ngay sau khi gia hạn biên bản ghi nhớ với Chính phủ Việt Nam đến 2020, họ đã đặt vấn đề từ nay đến cuối năm mua 500 ngàn tấn gạo của Việt Nam.

Trước mắt, Bangladesh yêu cầu mua 200 nghìn tấn gạo, trong đó, có 25 nghìn tấn gạo đồ và giao trong vòng 45 ngày. Tuy nhiên, các nhà máy gạo đồ trong nước đã ngưng hoạt động, chỉ còn nhà máy gạo đồ của Công ty Thịnh Phú, nhưng không có khả năng chế biến 25 ngàn tấn gạo đồ trong vòng 40 ngày.

Bộ trưởng Bộ Lương thực Bangladesh cũng đặt vấn đề mua 500 ngàn tấn gạo trắng và gạo đồ của Thái Lan, nhưng nhiều khả năng Thái Lan cũng không có đủ, nhất là nước này không có lúa để làm gạo đồ.

“Đặc biệt, nhu cầu gạo đồ từ Bangladesh là rất lớn, nhưng Thái Lan và cả Việt Nam cũng không có lúa để làm gạo đồ”, ông Trương Thanh Phong chuyên gia về xuất khẩu gạo cho biết.

Indonesia cũng đang chuẩn bị nhập khẩu gạo trở lại, tuy nhiên, chưa cho biết số lượng cụ thể. Còn Malaysia cũng đã quay lại mua gạo của Việt Nam, vừa qua họ đã mua 40 ngàn tấn gạo và đang mua thêm 80 ngàn tấn nữa.

Từ những nhu cầu trên, các chuyên gia Việt Nam và Thái Lan dự báo, có thể xảy ra sốt giá gạo như năm 2008. Do vậy, các nước xuất khẩu gạo lớn cần công bố sớm tình hình sản xuất và nhu cầu tiêu thụ của các nước nhập khẩu, nếu không sẽ gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp, nông dân và cả những nước nhập khẩu gạo.

Năm 2008, khi xảy ra sốt gạo, các nước nhập khẩu đã than phiền các nước xuất khẩu gạo đã không công bố tình hình sản xuất và gây khó cho họ. Do vậy, với tinh thần trách nhiệm trước vấn đề lương thực của thế giới, Việt Nam cần sớm cho các nước nhập khẩu biết tình hình gạo trong thời gian tới để các nước nhập khẩu có bước chuẩn bị.

Hiện nay, gạo 5% tấm của Việt Nam đang chào giá 375 USD/tấn, nhưng có thể lên mức 400 USD/tấn, vì gạo 5% tấn của Thái Lan đã tăng lên 425 USD/tấn. Vừa qua, những doanh nghiệp Việt Nam đã ký bán giá thấp nên đã lỗ nặng. Vì vậy, Việt Nam cần xác định giá cả phù hợp để có lợi cho cả doanh nghiệp và người trồng lúa. Quay lại nguyên nhân gây ra sốt giá gạo 2008 là do Thái Lan không đủ gạo cung cấp, sau đó Ấn Độ tuyên bố ngừng xuất khẩu rồi đến Việt Nam cũng tuyên bố ngưng xuất khẩu gạo, đã tạo áp lực lên thị trường. Lúc đó các nước nhập khẩu và các nhà nhập khẩu gạo thế giới cho rằng, “các nước xuất khẩu như Việt Nam, Ấn Độ và Thái Lan đã gây áp lực lên họ”.

http://vneconomy.vn/thi-truong/xuat-khau-gao-co-the-roi-vao-khung-hoang-20170528111845594.htm

Nghị định 20 năm 2017 được cho là đã “điểm trúng huyệt” nhiều doanh nghiệp FDI thua lỗ triền miên hàng chục năm nhưng luôn đầu tư mở rộng sản xuất, nhưng khung pháp lý về vấn đề này cần tiếp tục hoàn ...

Nghị định 20 năm 2017 được cho là đã “điểm trúng huyệt” nhiều doanh nghiệp FDI thua lỗ triền miên hàng chục năm nhưng luôn đầu tư mở rộng sản xuất, nhưng khung pháp lý về vấn đề này cần tiếp tục hoàn thiện.

Mới đây, dư luận quan tâm việc hệ thống Lotte Mart (thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần Trung tâm Thương mại Lotte Việt Nam) suốt 10 năm kinh doanh tại Việt Nam chưa năm nào báo lãi, tổng số lỗ lên tới gần 2.000 tỷ đồng trong khi công ty mẹ là Lotte Shopping (Hàn Quốc) vẫn liên tục cho mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Vụ việc được nhiều chuyên gia đặt nghi vấn.

Dấu hiệu nào nhận biết chuyển giá?

Theo chuyên gia kinh tế, PGS. TS Ngô Trí Long, một số dấu hiệu để đưa doanh nghiệp vào diện nghi vấn là tỷ suất lợi nhuận (đối với những doanh nghiệp có lãi) trên doanh thu không đáng kể; tỷ lệ đóng góp vào ngân sách quốc gia thấp, không tương xứng với tỷ trọng tổng đầu tư xã hội hàng năm.

Các doanh nghiệp này thường xuyên báo cáo lỗ trong nhiều năm, doanh nghiệp lỗ mất vốn chủ sở hữu, nhưng vẫn tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh. Từ những nghi vấn này, thanh tra chuyển giá cơ của quan thuế sẽ rà soát và tiến hành thanh tra, làm rõ các khoản lỗ này là lỗ thật hay lỗ do chuyển giá để trốn thuế.

Năm 2014, ngành thuế cả nước đã tiến hành thanh kiểm tra ở 2.077 doanh nghiệp lỗ, doanh nghiệp có dấu hiệu chuyển giá và doanh nghiệp có hoạt động giao dịch liên kết, kết quả  đã giảm lỗ hơn 5.400 tỉ đồng. Năm 2015, kiểm tra 4.751 doanh nghiệp và đã giảm lỗ hơn 10.000 tỉ đồng. Riêng vụ Metro Cash và Carry chuyển giá sau 12 năm hoạt động tại Việt Nam, ngành thuế đã truy thu hơn 507 tỉ đồng. Năm 2016 ngành thuế đã thanh tra chống chuyển giá tại 329 doanh nghiệp, truy thu, truy hoàn và phạt 607,52 tỷ đồng, giảm lỗ 5.162,21 tỷ đồng.

Ông Ngô Trí Long nhận định: “Đối với nước ta chuyển giá là vấn đề không mới nhưng có dấu hiệu ngày càng gia tăng và đang gây ra nhiều khó khăn, lúng túng cho các cơ quan chức năng trong việc phát hiện và xử lý”.

Vạch mặt những “chiêu trò”

Vị chuyên gia đánh giá các thủ thuật chuyển giá ngày càng đa dạng, tinh vi. Phổ biến việc các doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn đa quốc gia thường khai thuế kiểu “hạch toán toàn ngành” tại nơi nào có mức thuế thấp nhất trong số các địa phuơng có trụ sở, chi nhánh hoặc nơi bán hàng của công ty để hưởng lợi nhờ chênh lệch thuế.

Để khiến thu nhập chịu thuế giảm, nhiều doanh nghiệp FDI tìm cách nâng giá trị tài sản cố định, chi phí khấu hao, hoặc nâng giá trị chuyển giao tài sản vô hình như công nghệ, bí quyết kỹ thuật, bản quyền, nhãn mác, kỹ thuật quản lý điều hành và các dịch vụ khác trong góp vốn đầu tư.

Ngoài ra, các doanh nghiệp còn dùng “chiêu” nâng cao các khoản chi phí như giá nguyên vật liệu, chi phí lãi vay, chi phí nhân công, bán hàng hoặc hạ giá bán sản phẩm đầu ra (thậm chí với giá thấp hơn giá thành sản xuất) cho một công ty liên kết trong nội bộ của tập đoàn hoặc giữa hai công ty độc lập về hình thức pháp lý, nhưng vẫn hạch toán nội bộ chung.

Đối với Việt Nam do chính sách thuế còn nhiều hạn chế và hay thay đổi, cộng thêm việc phụ thuộc vào nguồn hàng hóa, dịch vụ và công nghệ nhập và việc mở rộng cho phép doanh nghiệp tự khai, nộp thuế cũng tạo mảnh đất “mầu mỡ” cho chuyển giá.

“Hệ lụy của chuyển giá rất nặng nề bởi chuyển giá vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp khiến thuế phải nộp ít đi, đồng nghĩa với NSNN thất thu” – Ông Ngô Trí Long khẳng định. Không chỉ có vậy, doanh nghiệp chuyển giá sẽ có thêm nguồn lực tài chính, tăng lợi thế cạnh tranh trên thường trường, thì các doanh nghiệp khác lại không khỏi cảm thấy “thua thiệt, thiếu công bằng” khi phải nghiêm chỉnh nộp thuế. Tất cả tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, tác động không tốt đến môi trường đầu tư.

Cần có giải pháp đồng bộ

PGS. TS Ngô Trí Long cho rằng dù có nhiều nỗ lực nhưng việc chống chuyển giá vẫn là một khâu yếu của ngành thuế. Dù mới đây Chính phủ đã ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, nhưng khung pháp lý về vấn đề này vẫn còn không ít bất cập. Hệ thống thông tin, dữ liệu về người nộp thuế vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện.

Mặc dù, Nghị định 20 được cho là đã “điểm trúng huyệt” nhiều doanh nghiệp FDI thua lỗ triền miên hàng chục năm nhưng luôn đầu tư mở rộng sản xuất mà còn hướng đến quản lý thuế hiệu quả hơn trên diện rộng.

“Muốn chống được chuyển giá thì phải tìm ra bằng chứng cụ thể mới truy thu được”, ông Long khẳng định. Để làm điều này đòi hỏi phải tiếp cận được với những số liệu mà công ty mẹ báo cáo với nước chủ nhà và lấy đó phân tích, đối chiếu với những số liệu của chi nhánh hoạt động ở Việt Nam để phát hiện ra những lỗ hổng. Nhưng khó ở chỗ là không có cơ quan nào để cung cấp những thông tin đó vì thông thường cơ quan thuế các nước cũng phải bảo vệ doanh nghiệp của họ.

Để đối phó với “vấn nạn” chuyển giá, PGS. TS Ngô Trí Long đề xuất, trước mắt Việt Nam cần hoàn thiện hành trang pháp lý về chống chuyển giá và tiến tới ban hành luật về chống chuyển giá. Cần thu hẹp các ưu đãi về thuế, cụ thể là hạn chế tối đa các chính sách xã hội trong ưu đãi thuế.

Tập trung thanh, kiểm tra giá chuyển nhượng đối với các tập đoàn có nhiều doanh nghiệp thành viên, các doanh nghiệp đã hoạt động nhiều năm chưa được thanh tra kiểm tra. Đặc biệt, cần lưu ý các doanh nghiệp đã và đang thực hiện tái cơ cấu có khả năng lợi dụng chuyển giá để tránh thuế.

Vị chuyên gia khẳng định muốn chống chuyển giá hiệu quả, cơ quan thuế phải chủ động khai thác nhiều nguồn thông tin khác nhau; xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp, ngành hàng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ. Để xử lý được một vụ chuyển giá thì ngay cả các nước tiên tiến với công nghệ quản lý thuế hiện đại, có rất nhiều thông tin để phân tích, so sánh cũng phải mất từ 1 - 2 năm.

Bên cạnh việc xây dựng các cơ sở dữ liệu phục vụ chống chuyển giá, cần coi trọng và mạnh dạn đầu tư lớn để xây dựng đội ngũ cán bộ mạnh, chuyên nghiệp và chuyên trách thực hiện nhiệm vụ liên quan đến chống chuyển giá.

Trong ngắn hạn, việc chống chuyển giá có thể tác động đến khả năng thu hút đầu tư nước vào Việt Nam theo hướng giảm số lượng dự án và vốn đầu tư, song về dài hạn sẽ nâng cao chất lượng thu hút FDI, thu hút được các nhà đầu tư có uy tín...

http://baochinhphu.vn/Kinh-te/Can-diem-trung-huyet-nhung-chieu-tro-chuyen-gia/307214.vgp

“Với Việt Nam tăng trưởng có nhiều ý nghĩa như tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo việc làm, thu ngân sách để chi đầu tư, an sinh xã hội. Tất cả những vấn đề này góp phần ổn định xã hội, góp ...

“Với Việt Nam tăng trưởng có nhiều ý nghĩa như tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo việc làm, thu ngân sách để chi đầu tư, an sinh xã hội. Tất cả những vấn đề này góp phần ổn định xã hội, góp phần ổn định chính trị, điều rất quan trọng với chúng ta”, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng nói.

Trao đổi với TBKTSG Online Online, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng đã giải thích rõ hơn tại sao Chính phủ vẫn kiên định giữ mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm nay và các vấn đề liên quan.

TBKTSG Online: Trước tình hình tăng trưởng những tháng đầu năm thấp như vậy, vì sao Chính phủ lại quyết giữ mục tiêu tăng trưởng 6,7%, một mức mà nhiều chuyên gia, đại biểu Quốc hội cho là rất khó đạt?

- Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Đây là năm thứ hai thực hiện kế hạch 5 năm. Năm ngoái tăng trưởng thấp 6,21%, năm nay mà không đạt thì sẽ khó cho kế hoạch năm năm.

Ở khía cạnh hội hập, nước ta nếu không phát triển nhanh hơn thì tụt hậu so với các nước trong khu vực. Trên một số phương diện chúng ta đã thua kém nhiều nước trong khu vực rồi, buộc chúng ta phải tăng tốc nhanh hơn. Chúng ta phải phát triển nhanh để giữ ổn định; và giữ ổn định mới phát triển nhanh được. Mọi người nói phải ổn định kinh tế vĩ mô, giữ lạm phát là đúng rồi, nhưng khi chúng ta đã giữ ổn định rồi thì phải tăng tốc phát triển. Chúng ta duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng phải phát triển nhanh hơn. Nhận thức này là chung, mạnh mẽ và quyết liệt của Trung ương, và Chính phủ.

Với Việt Nam tăng trưởng có nhiều ý nghĩa như tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển, tạo việc làm, thu ngân sách để chi đầu tư, an sinh xã hội. Tất cả những vấn đề này góp phần ổn định xã hội, góp phần ổn định chính trị, điều rất quan trọng với chúng ta. Vì thế giữ mục tiêu này là nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. Trước yêu cầu đó, Chính phủ kiên định giữ mục tiêu tăng trưởng 6,7%.

Cơ sở nào để ông tính toán là sẽ đạt mức tăng trưởng như vậy?

- Thứ nhất, bối cảnh quốc tế có nhiều dấu hiệu phục hồi tích cực về kinh tế và thương mại. Dự báo của các tổ cức quốc tế đều đánh giá tình hình thế giới trong ngắn hạn tốt, có dấu hiệu phục hồi, tác động đến nền kinh tế Việt Nam đã mở cửa và hội nhập  sâu rộng.

Thứ hai, tình hình trong nước không khó khăn như năm ngoái xâm ngập mặn, lũ lụt, dịch bệnh, các vấn đề khác đã ảnh hưởng các tỉnh miền Trung. Năm nay, nông nghiệp phục hồi tốt, thị trường tiêu thụ thì tốt. Các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đầu tư trong nước tốt lên; khách du lịch tăng nhanh; thu ngân sách tốt, xuất khẩu tăng tốt; và đặc biệt là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng tốt. Đó là những yếu tố thuận lợi.

Bên cạnh đó, so sánh với kết quả tăng trưởng những năm trước đây, chúng tôi thấy không có chênh lệch quá lớn, và chúng tôi tính toán để tự tin phấn đấu; là cơ sở Chính phủ thấy có thể giữ nguyên mục tiêu tăng trưởng đã đề ra.

Như vậy, quan điểm của Chính phủ về tăng trưởng đã khác đi?

- Về dài hạn, Chính phủ xác định không tăng trưởng bằng mọi giá, hay đánh đổi môi trường. Tuy nhiên, Chính phủ muốn tận dụng triệt để cơ hội, tiềm năng mình có để phát triển. Mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô vẫn là ưu tiên hàng đầu, nhưng Chính phủ muốn đồng thời khơi dậy tiềm năng, lợi thế để thúc đẩy tăng trưởng. Đó là những quan điểm chung của Chính phủ trong thời gian vừa qua.

Tăng trưởng 6,7% là mục tiêu khó khăn nhưng không phải bất khả thi nếu có giải pháp đúng đắn, đồng bộ và triển khai quyết liệt. Đó là hai mặt của vấn đề. Vì thế, cần nỗ lực triển khai quyết liệt. Chúng tôi đang dự thảo Chỉ thị của Thủ tướng với các giải pháp đồng bộ để thúc đẩy các ngành và địa phương triển khai để đạt mục tiêu.

Theo tính toán, để đạt được tăng trưởng 6,7% thì khu vực 1 (nông, lâm nghiệp) phải đạt mức 3,05%, khu vực 2 (công nghiệp và xây dựng) là 7,91%  và khu vực 3 (dịch vụ) là 7,19%. Đây là những mục tiêu cao, nhưng có thể đạt được.

Thưa ông, dự kiến chỉ thị sẽ có những giải pháp nào để thúc đẩy tăng trưởng?

- Chúng tôi phân ra hai nhóm giải pháp.

Thứ nhất là các giải pháp cơ bản, dài hạn. Đó tiếp tục là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm pháp, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế để nâng cao năng suất lao động. Đây là những điểm chốt quan trọng. Bên cạnh đó là mở rộng thị trường xuất khẩu, thị trường trong nước. Chúng ta đã có nhiều hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu, và thị trường trong nước có hơn 90 triệu dân cũng rất lớn.

Thứ hai là các giải pháp ngắn hạn và phải tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Trên thực tế các doanh nghiệp cả FDI và tư nhân trong nước đăng ký nhiều, nhưng làm sao để họ chuyển hóa vốn đăng ký thành vốn đầu tư là cả vấn đề. Chúng ta có năng lực để hấp thụ nguồn vốn này không? Chúng ta cần sẵn sàng về hạ tầng, thể chế, năng lượng, nguồn nhân lực,… mới có khả năng hấp thụ nguồn vốn đăng ký này. Bên cạnh đó phải tháo gỡ ách tắc về đất đai, không thì họ rất khó bỏ vốn ra đầu tư.

Phải giảm chi phí cho doanh nghiệp. Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt để giảm chi phí đầu vào cho sản xuất. Không làm được thì hàng hóa Việt Nam rất khó cạnh tranh và tham gia vào chuỗi giá trị. Tôi rất lo lắng, vì sao hàng hóa chúng ta không nâng cao được năng suất, và có giá thành rất cao. Hàng hóa Trung Quốc, kể cả loại bán thành phẩm cũng rẻ hơn nguyên liệu sơ cấp của chúng ta thì làm sao hàng hóa Việt Nam cạnh tranh được. Chi phí vận tải, logistic rất lớn.

Yếu tố nữa là giải ngân nhanh các nguồn vốn đầu tư. Chúng tôi giao vốn trung hạn rất sớm. Tuy nhiên còn một số nguồn khác còn vấn đề thủ tục thì chúng tôi đang tháo gỡ. Nếu không tháo gỡ thủ tục thì không giải ngân vốn đầu tư xây dựng được.

Bộ trưởng giải thích vì sao Chính phủ lại tăng khai thác dầu thô, hay thúc đẩy Formosa và Samsung để thúc đẩy tăng trưởng?

- Năm 2016 chúng ta khai thác hơn 16 triệu tấn dầu thô, nhưng năm nay chỉ đặt kế hoạch là 12,28 triệu tấn, hụt gần 3 triệu tấn. Năng lực có thể khai thác thêm và giá dầu phục hồi tạo cơ hội khai thác thêm 1 triệu tấn dầu cho tăng trưởng. Chúng ta muốn nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm dần phụ thuộc vào dầu, nhưng hiện nay dầu mỏ vẫn đóng góp tốt cho tăng trưởng.

Về Formosa (Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh), chúng tôi đã báo cáo với Quốc hội. Chúng tôi kiến nghị Formosa đã đầu tư 10 tỉ đô la rồi, họ đã khắc phục các điều kiện chúng ta yêu cầu. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã kiểm tra thấy đủ điều kiện để hoạt động lò số 1. Sau khi họ khắc phục, đảm bảo được các điều kiện về môi trường thì cho họ hoạt động. Chính Formosa cũng đóng góp cho tăng trưởng.

Còn Samsung cho biết năm nay dự kiến xuất khẩu đạt 50 tỉ đô la, tăng 20% so năm ngoái, tức tăng trưởng rất cao và chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Nhưng thúc ép tăng trưởng rồi sẽ phải tăng cung tiền, điều có thể làm tăng bong bóng bất động sản, chứng khoán và dẫn đến bất ổn vĩ mô?

- Hiện nay Chính phủ chưa có chủ trương vung tiền ra, mà chỉ khuyến khích tăng trưởng tín dụng hợp lý tập trung vào các ngành, lĩnh vực đang ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu. Tôi cho là không đáng ngại với dòng tiền chảy vào bất động sản. 

Vì sao Chính phủ cứ phải lo lắng cho tăng trưởng vì có tăng trưởng thêm 1 điểm phần trăm cũng không giải quyết được các vấn đề hiện nay, trong khi lẽ ra Chính phủ cần tập trung nỗ lực vào các chương trình cơ cấu lại nền kinh tế, hay phát triển các loại thị trường đang méo mó hiện nay, thưa ông?

- Cơ cấu lại nền kinh tế là mục tiêu lớn của Chính phủ. Đó là gốc rễ của vấn đề. Chúng ta chủ trương là hướng vào chất lượng, sự bền vững của tăng trưởng chứ không chạy theo số liệu tăng trưởng. Đây là điều tôi rất quan tâm, và Chính phủ có chương trình hành động theo hai nghị quyết của Trung ương và Quốc hội. Chính phủ đang chỉ đạo điều hành để đẩy nhanh tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế. Đó mới là tiền đề cho phát triển nhanh và bền vững cho dài hạn. Còn trong ngắn hạn, chúng ta vẫn cần tăng trưởng 6,7%, dù không phải bằng mọi giá...

http://www.thesaigontimes.vn/160591/Bo-truong-KHDT-Tang-truong-67-khong-bat-kha-thi.html

Theo kế hoạch vốn đã được chính quyền TPHCM phê duyệt, năm 2017, thành phố sẽ xây dựng tổng cộng 80 dự án giao thông với tổng số vốn đầu tư 39.263 tỉ đồng.

Theo kế hoạch vốn đã được chính quyền TPHCM phê duyệt, năm 2017, thành phố sẽ xây dựng tổng cộng 80 dự án giao thông với tổng số vốn đầu tư 39.263 tỉ đồng.

Việc đầu tư nhiều dự án trong năm nay đã biến các cửa ngõ tại TPHCM trở thành “đại công trường” và khiến tình hình giao thông ở một số khu vực ùn tắc nghiêm trọng do bị dự án rào chắn.

Trong số các dự án đang xây dựng, dự án cầu vượt tại nút giao giữa đường Trường Sơn với đường Hồng Hà thuộc quận Tân Bình (trước cổng sân bay Tân Sơn Nhất) là dự án cấp bách nhất. Cầu vượt này được xây dựng theo hình chữ Y (cầu bê tông), trong đó một nhánh dẫn vào nhà ga quốc tế dài 303 mét, một nhánh dẫn vào nhà ga quốc nội dài 153 mét. Dự án có tổng mức đầu tư 242 tỉ đồng, đã được khởi công ngày 8-2-2017 và dự kiến hoàn thành sau 6-8 tháng thi công.

Có thể thấy việc thi công dự án này đã ảnh hưởng rất lớn đến giao thông dẫn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Do việc rào chắn đường để thi công nên thường xuyên xảy ra kẹt xe khiến nhiều hành khách bị trễ chuyến bay. Tuy nhiên, khi dự án hoàn thành, dòng xe đi vào sân bay và dòng xe đi từ đường Trường Sơn ra đường Phạm Văn Đồng sẽ được phân luồng đi trên cầu vượt và phía dưới nên không còn gặp nhau tại nút giao này. Vì thế, sẽ giảm được tình trạng kẹt xe tại đây.

Cách dự án cầu vượt nút giao đường Trường Sơn - Hồng Hà không xa, dự án cầu vượt nút giao Nguyễn Thái Sơn - Nguyễn Kiệm cũng đang được thi công rốt ráo để giải tỏa kẹt xe. Nút giao này cũng xây cầu vượt bằng thép, theo hình chữ N, bao gồm một cầu vượt hướng Nguyễn Kiệm - Nguyễn Thái Sơn, một cầu vượt hướng Nguyễn Kiệm - Hoàng Minh Giám và một cầu vượt hướng Hoàng Minh Giám - Nguyễn Thái Sơn. Dự án có tổng mức đầu tư 504 tỉ đồng, được khởi công ngày 8-2-2017 và dự kiến hoàn thành sau 6-8 tháng thi công. Sau khi hoàn thành cầu vượt nút giao Nguyễn Thái Sơn - Nguyễn Kiệm, người dân đi từ hướng Bình Dương, Đồng Nai, các quận Thủ Đức, quận 9, Bình Thạnh (TPHCM) lên sân bay Tân Sơn Nhất sẽ thuận lợi hơn.

Ở cửa ngõ phía Tây Bắc, dự án hầm chui An Sương đã được khởi công vào tháng 1-2017. Hiện tại, các nhà thầu đang thi công hầm N1 (hướng trung tâm thành phố đi Tây Ninh) và dự kiến hoàn thành sau 10 tháng thi công. Tức là vào tháng 11-2017, một hầm của nút giao An Sương sẽ được đưa vào sử dụng. Sau khi hoàn thành hầm N1, nhà thầu sẽ tiếp tục thi công hầm N2 (hướng từ Tây Ninh vào TPHCM) trong thời gian 10 tháng. Dự án hầm chui An Sương có tổng mức đầu tư 514 tỉ đồng. Sau khi hoàn thành, mỗi hầm sẽ có 2 làn xe lưu thông, gồm 1 làn xe ô tô và 1 làn xe hỗn hợp để giảm bớt ùn tắc qua nút giao này, giúp việc giao thương của TPHCM và các tỉnh miền Đông được thuận lợi hơn.

Ở khu vực cảng Cát Lái, nút giao Mỹ Thủy cũng đang được gấp rút thi công giai đoạn 1 gồm cầu vượt và hầm chui rẽ trái từ vành đai 2 đi Cát Lái. Theo kế hoạch, giai đoạn 1 sẽ hoàn thành vào cuối năm 2017. Sau khi hoàn thành giai đoạn 1, sẽ tách được các dòng xe đi từ xa lộ Hà Nội vào cảng Cát Lái với dòng xe đi từ cầu Phú Mỹ và cảng Cát Lái ra đường vành đai 2. Khi đó, các dòng xe không còn phải xếp hàng chờ đợi để đi qua vòng xoay Mỹ Thủy như hiện nay.

Ở cửa ngõ phía Đông Bắc hiện có hai dự án lớn đang thi công là dự án mở rộng xa lộ Hà Nội, và tuyến metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên).

Dự án mở rộng xa lộ Hà Nội đang trong quá trình thi công mở rộng đoạn từ Suối Tiên đến gần cầu Đồng Nai. Dự án này được khởi công từ tháng 4-2010. Theo kế hoạch ban đầu, toàn bộ dự án hoàn thành vào năm 2013. Tuy nhiên, do vướng giải phóng mặt bằng nên đến nay dự án vẫn chưa ấn định được thời hạn hoàn thành.

Một dự án lớn và quan trọng nhất trong số các dự án đang thi công hiện nay là dự án metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên). Dự án này đang thi công cả đoạn đi ngầm 2,6 ki lô mét và đoạn đi trên cao hơn 17 ki lô mét. Nếu như đoạn đi trên cao dọc xa lộ Hà Nội không ảnh hưởng nhiều đến giao thông thì việc thi công nhà ga Bến Thành và đoạn đường từ chợ Bến Thành đến ga Nhà hát thành phố ảnh hưởng lớn đến giao thông ở khu trung tâm vì đoạn này sẽ phải rào chắn mặt đường. Dự án metro số 1 đã được nghiên cứu từ năm 2001, đến năm 2012 mới chính thức khởi công sau nhiều năm chậm tiến độ và thời hạn hoàn thành được đưa ra là năm 2020.

Ngoài các dự án nói trên, TPHCM cũng đang xây dựng thêm một số nhánh cầu như cầu Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Tri Phương, cầu Nhị Thiên Đường. Những dự án này đã được khởi công từ đầu năm 2017, sẽ hoàn thành trong năm nay, giúp giải tỏa kẹt xe từ khu trung tâm sang khu phía Nam của thành phố.

Đa phần các dự án giao thông được đầu tư trong năm 2017 là dự án trọng điểm mang tính cấp bách, như hai dự án cầu vượt dẫn vào sân bay Tân Sơn Nhất, nút giao Mỹ Thủy, hầm chui An Sương… Chính vì vậy, vốn cho các dự án này đã được bố trí đủ. Duy nhất chỉ có dự án tuyến metro số 1 đang gặp khó khăn về vốn khi Trung ương chưa bố trí kịp vốn ODA cho dự án. Theo báo cáo của Ban Quản lý đường sắt đô thị TPHCM, năm nay dự kiến thành phố cần 5.200 tỉ đồng để chi cho việc thi công tuyến metro số 1 nhưng phần vốn ODA mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình phân bổ chỉ được 2.900 tỉ đồng. Do chậm bố trí vốn nên tính đến ngày 26-4-2017, số tiền mà TPHCM nợ các nhà thầu là 1.339 tỉ đồng. Với tiến độ giải ngân chậm như hiện nay, nguy cơ dự án bị chậm tiến độ đến sau năm 2020 là rất lớn.

Việc thi công các dự án ở cửa ngõ thành phố đã khiến tình hình giao thông trở nên ùn tắc hơn, đặc biệt là ở khu vực xung quanh sân bay Tân Sơn Nhất. Các cơ quan chức năng cần kiểm soát tiến độ để dự án hoàn thành đúng thời hạn, qua đó giảm được kẹt xe cho người dân sớm ngày nào đỡ ngày đó.

http://www.thesaigontimes.vn/160432/Nhung-du-an-co-the-giup-TPHCM-giam-ket-xe.html

Công nghiệp 4.0 - thuật ngữ tiếng Đức “Industrie 4.0” - xuất hiện chính thức vào tháng 4-2011, là chủ đề của hội chợ triển lãm công nghiệp lớn nhất thế giới, mở hàng năm ở thành phố Hannover của Đức.

Công nghiệp 4.0 - thuật ngữ tiếng Đức “Industrie 4.0” - xuất hiện chính thức vào tháng 4-2011, là chủ đề của hội chợ triển lãm công nghiệp lớn nhất thế giới, mở hàng năm ở thành phố Hannover của Đức.

Theo Giáo sư Wahlster, một trong ba người khởi xướng, mầm móng của “Industrie 4.0” (I4.0) là từ Tổ chức Sáng kiến công nghệ SmartFactory KL thành lập năm 2005. Khẩu hiệu “Industrie 4.0”, gọn gàng và súc tích, được sáng tạo cho Hội chợ Hannover 2011 để thay thế cho cụm từ khó hiểu “cyber-physical system” (CPS).

Sau đó, tháng 10-2012, đề án thực hiện I4.0 được trình lên Chính phủ Đức. Một năm sau, 2013, trong Hội chợ Hannover, báo cáo tổng kết tựa đề “Khuyến nghị thực hiện đề án tương lai Industrie 4.0” được công bố. Một tiểu ban tên “Nền tảng Industrie 4.0” được thành lập dưới sự điều khiển của Bộ Kinh tế và Năng lượng cũng như Bộ Giáo dục và Nghiên cứu. Ba hiệp hội quan trọng của nước Đức là thành viên chính, gồm Bitkom (tin học truyền thông), VDMA (cơ khí), ZVEI (điện và điện tử). Chiến lược I4.0 như thế đã đạt tầm cỡ quốc gia. Năm 2016, trong Diễn đàn Kinh tế thế giới tổ chức hàng năm ở Davos (Thụy Sỹ), nơi các nguyên thủ quốc gia và những nhà kinh tế hàng đầu tụ hội, đề tài I4.0 xuất hiện với chủ đề “Mastering the Fourth Industrial Revolution” đã đạt tầm cỡ thế giới.

Ước mơ

Trong quá trình cạnh tranh toàn cầu, nước Đức đã phải chịu nhường bước trong nhiều lĩnh vực sản xuất như sắt thép, tàu thủy, hàng trắng (tủ lạnh, máy giặt), điện tử (ti vi, máy ảnh). Ngành công nghiệp xe hơi của Đức với bề dày kinh nghiệm, tiếng tăm, có những sản phẩm cao cấp, là chuẩn so sánh. Nhưng những nghiên cứu cơ bản, thử nghiệm cho những sản phẩm mới với động cơ điện, động cơ hybrid lại trễ nải, bị các địch thủ như Toyota, Tesla qua mặt. Một thời gian dài, hướng nghiên cứu sử dụng năng lượng thay thế xăng bằng khí hydro lỏng (BMW) hay pin nhiên liệu (Mercedes) tốn khá nhiều thời gian và ngân sách nhưng không đưa được sản phẩm đến thị trường, xem như xếp xó.

Nước Đức hầu như không có dấu ấn trong quá trình phát triển của Internet. Hơn thế, những nghiên cứu cơ bản có tính đột phá từ những học viện, đại học Đức không được nhận thức đúng để chuyển nhanh thành sản phẩm và để cho địch thủ phỏng tay trên. Thí dụ chuẩn MP3 nén nhạc số là một phát minh ở Đức năm 1982 nhưng lại là nền tảng cho sự trỗi dậy thành công của gã khổng lồ Apple với sản phẩm iPod và dịch vụ iTunes.

Tuy vậy, nước Đức có thế mạnh trong công nghiệp với chuỗi giá trị sáng tạo rất cao. Với chiến lược I4.0, Đức muốn là kẻ khởi xướng và dẫn đầu việc kết nối kỹ năng Internet vào công nghiệp. Như thế họ sẽ giữ vững được vị thế cao, thứ nhất trong những ngành rường cột của nền kinh tế nước Đức như sản xuất xe hơi, trang thiết bị kỹ nghệ, cơ khí, điện; thứ hai trong sản xuất và trang bị những CPS cho những cơ xưởng thông minh (smart factory) trên thế giới.

Bản phác thảo nền tảng I4.0 rất cao cấp và phức tạp với những nét chính sau đây:

- Hệ thống CPS (máy móc, thiết bị gia công, thiết bị lưu trữ) với những cảm biến cộng với trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng tự điều hành. Đó là những robot tối tân.

- Internet vạn vật (IoT) là xương sống, kết nối truyền thông cho từng đơn vị (CPS) qua địa chỉ IP.

- Tất cả những quy trình, dữ liệu sản xuất và những dữ liệu liên quan đến đối tác, khách hàng, nhà cung ứng, vận chuyển... được số hóa và lưu trữ trên đám mây.

Theo một nghiên cứu của Bitkom và Viện Fraunhofer, I4.0 sẽ đem đến cho nước Đức đến năm 2025 một nền kinh tế có sự tăng trưởng thêm 78 tỉ euro (tương ứng với 1,7% GDP mỗi năm); trong một vài lĩnh vực như cơ khí, xây dựng nhà máy, mức tăng trưởng đến 30%.

Hơn thế nữa, nước Đức sẽ có một lợi thế cạnh tranh với các nước phát triển, các nước đang lên và giữ vững ở mức độ cao công ăn việc làm trong nước Đức với mức lương cao. Người ta còn cho rằng nước Đức có khả năng giành lại việc sản xuất nhiều mặt hàng từ những xứ nhân công rẻ.

Nhưng cũng phải thấy rằng để đạt được những gì mà nền tảng I4.0 có thể đem đến còn phải giải quyết rất nhiều vấn đề cơ bản...

http://www.thesaigontimes.vn/160402/Co-hay-khong-cach-mang-cong-nghiep-40.html

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, trong chủ trương đầu tư, quản lý không được phân biệt các đơn vị sự nghiệp “công” hay “tư” mà phải đối xử công bằng, cạnh tranh lành ...

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, trong chủ trương đầu tư, quản lý không được phân biệt các đơn vị sự nghiệp “công” hay “tư” mà phải đối xử công bằng, cạnh tranh lành mạnh.

Phục vụ việc hoàn thiện Đề án đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL) trình Hội nghị Trung ương lần thứ 6, chiều 27/5, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước về đổi mới cơ chế hoạt động của ĐVSNCL đã làm việc với Thành phố Hà Nội.

Cùng tham dự buổi làm việc với đoàn công tác của Ban Chỉ đạo có lãnh đạo các Ủy ban của Quốc hội, lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo Thành phố Hà Nội.

Hà Nội chưa có đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn

Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội Nguyễn Doãn Toản cho biết thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, Hà Nội đã sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp thuộc sở, ban, ngành từ 401 đơn vị xuống còn 280 đơn vị; các ĐVSNCL cấp huyện giảm từ 206 đơn vị còn 96 đơn vị.

Số đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ tài chính năm 2016 là 2.596 đơn vị, tăng 82 đơn vị so với năm 2011, trong đó có 70 đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên (tăng 15 đơn vị); 1.353 đơn vị bảo đảm một phần chi thường xuyên (tăng 113 đơn vị); số đơn vị do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là 1.173 (tăng 33 đơn vị).

Số thu của các ĐVSNCL của Hà Nội đã bù đắp được 40% nhu cầu chi thường xuyên. Tới nay, Hà Nội chưa có ĐVSNCL nào tự chủ hoàn toàn, bao gồm tự chủ cả chi thường xuyên và chi đầu tư.

Trong khi đó, số nhân lực làm việc trong các ĐVSNCL năm 2016 là 145.892 người, tăng hơn 34.000 người, trong đó số lao động được cơ quan có thẩm quyền giao tăng hơn 29.000 người, còn lại là số lao động hợp đồng (tăng khoảng 5.000 lao động).

Giải thích biên chế tăng thêm, ông Nguyễn Doãn Toản, Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội cho biết trong giai đoạn 2011- 2016, UBND Thành phố giao tăng thêm 29.168 biên chế so với năm 2011 trong đó tăng biên chế của các lĩnh vực y tế và giáo dục là 28.364 biên chế. Theo đó, UBND đã tuyển dụng 16.278 giáo viên hợp đồng vào biên chế theo lộ trình tới năm 2015 đủ về số lượng, trình độ chuyên môn theo chuẩn.

Đối với các ngành khác, Hà Nội thực hiện nghiêm túc chủ trương tinh giản biên chế, không giao biên chế tăng thêm cho các tổ chức ngoài ngành y tế, giáo dục.

Giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội Trần Huy Sáng cho biết việc sắp xếp các đơn vị của Hà Nội không xảy ra đơn thư khiếu nại vì Hà Nội chưa sắp xếp các lĩnh vực thiết yếu ảnh hưởng tới vấn đề dân sinh, như Sở NN&PTNT giảm được 11 đơn vị.

Ở quận, huyện, Hà Nội sắp xếp trung tâm văn hóa, trung tâm thể dục, thể thao và đài truyền thanh huyện thành một đơn vị...

“Qua sắp xếp, Hà Nội đã giảm 231 cấp trưởng, 116 cấp phó trưởng phòng. Chúng tôi sẽ tiếp tục giảm các cấp phó”, ông Sáng cho biết.

Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Đức Chung cho biết Thành phố thực hiện sắp xếp, giảm số lượng ĐVSNCL dựa trên các quy định của pháp luật. Trong thực tiễn, các lĩnh vực có chức năng, nhiệm vụ gần giống nhau thì được sáp nhập lại.

Ông Nguyễn Đức Chung cũng nêu một số bất cập trong quản lý, sắp xếp các ĐVSNCL khi quy định các xã, phường phải có trạm y tế nhưng lại có bệnh viện tuyến Trung ương, thành phố nằm trên địa bàn xã, phường đó thì có cần phải xây dựng trạm y tế nữa không?...

Thành phố Hà Nội cho rằng để thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng, các Bộ, ngành cần sớm có hướng dẫn cụ thể về cơ chế tự chủ, nhất là tự chủ tài chính để địa phương triển khai.

Đánh giá kỹ mức độ tự chủ tài chính

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đánh giá Hà Nội đã có những bước đi phù hợp và đạt được những kết quả ban đầu trong đổi mới cơ chế hoạt động của ĐVSNCL trong thời gian qua.

Tuy nhiên, mức độ tự chủ của các ĐVNSCL của Thành phố vẫn còn hạn chế và đề nghị Hà Nội cũng như các bộ, ngành đánh giá kỹ vấn đề này, trong đó chú ý đánh giá việc thực hiện tự chủ về tài chính- là bước quan trọng để thực hiện tự chủ biên chế, nhân sự.

Phó Thủ tướng cũng chia sẻ thực hiện tự chủ tài chính trong hoàn cảnh hiện nay không dễ do liên quan tới việc thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ công và các vấn đề bảo đảm các yếu tố kinh tế vĩ mô, an sinh xã hội. Đi liền với đó là tăng cường yêu cầu giám sát của Nhà nước của các bộ, ngành, địa phương và tự quản lý của các ĐVSNCL.

Theo Phó Thủ tướng, trong chủ trương đầu tư, quản lý không được phân biệt các đơn vị sự nghiệp “công” hay “tư” mà phải đối xử công bằng, cạnh tranh lành mạnh.

Trưởng Ban Chỉ đạo yêu cầu Hà Nội tiếp tục hoàn thiện báo cáo để làm căn cứ cho Ban Chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện Đề án trình Trung ương. Đặc biệt, Hà Nội đánh giá kỹ xu hướng xã hội hóa giáo dục ở các cấp mầm non, phổ thông hay việc sắp xếp lại mạng lưới ĐVNSCL theo hướng ngành, lĩnh vực hay theo địa bàn để giảm đầu mối, giảm định biên và nâng cao chất lượng dịch vụ.

http://baochinhphu.vn/Thoi-su/Khong-phan-biet-cac-don-vi-su-nghiep-cong-hay-tu/307210.vgp

Các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp sẽ được miễn tiền thuê đất 7 năm và lên đến 11 năm đối với các dự án đầu tư vào cụm công nghiệp làng nghề.

Các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp sẽ được miễn tiền thuê đất 7 năm và lên đến 11 năm đối với các dự án đầu tư vào cụm công nghiệp làng nghề.

Đây là một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định số 68/2017/NĐ-CP quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với cụm công nghiệp vừa được Chính phủ ban hành vào ngày 25-5 và sẽ có hiệu lực vào ngày 15-7 tới.

Theo nghị định này, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp được miễn tiền thuê đất 7 năm và hưởng các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhiều mức ưu đãi thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất.

Với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp làng nghề, thì được miễn tiền thuê đất 11 năm và được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước với mức không quá 70% tổng mức đầu tư.

Đáng chú ý đối với các nhà đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp thì được ưu đãi cao hơn. Cụ thể nghị định cho miễn tiền thuê đất 11 năm, được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước với mức không quá 70% tổng mức đầu tư và hưởng các ưu đãi khác theo quy định của pháp luật với các dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật.

Dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề được miễn tiền thuê đất đến 15 năm và được xem xét vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước với mức không quá 70% tổng mức đầu tư.

Dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp còn được xem xét đầu tư theo hình thức đối tác công tư.

Nghị định nêu rõ, ngân sách địa phương sẽ hỗ trợ kinh phí di dời các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề vào cụm công nghiệp làng nghề; mức hỗ trợ cụ thể do UBND tỉnh quyết định. Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương xem xét ưu tiên hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp làng nghề.

Ngoài các chính sách trên, dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật và sản xuất kinh doanh trong cụm công nghiệp làng nghề còn được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ đối với cụm công nghiệp và của pháp luật liên quan. Trường hợp nhiều mức ưu đãi, hỗ trợ thì áp dụng mức ưu đãi, hỗ trợ cao nhất.

Nghị định nêu rõ về điều kiện ưu đãi đối với cụm công nghiệp làng nghề là số lượng các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác xã, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề chiếm trên 60% so với số lượng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã di dời hoặc đăng ký di dời vào cụm công nghiệp làng nghề.

Tính đến thời điểm xem xét hưởng ưu đãi, hỗ trợ, tỷ lệ đăng ký lấp đầy trên 80%, trong đó trên 60% của các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình, cá nhân trong làng nghề theo xác nhận của UBND cấp huyện...

http://www.thesaigontimes.vn/160577/Dau-tu-san-xuat-trong-cum-cong-nghiep-duoc-mien-tien-thue-dat-7-nam.html

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong bốn tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc của nước ta đạt 4,432 tỉ đô la Mỹ, nhưng nhập khẩu từ nước này lên đến 14,374 tỉ đô la Mỹ, tăng ...

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong bốn tháng đầu năm nay, kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc của nước ta đạt 4,432 tỉ đô la Mỹ, nhưng nhập khẩu từ nước này lên đến 14,374 tỉ đô la Mỹ, tăng 52,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Với thặng dư thương mại đến 9,942 tỉ đô la Mỹ, Hàn Quốc trở thành nước xuất siêu cao nhất của Việt Nam, vượt cả thị trường đã giữ vị trí này trong nhiều năm qua là Trung Quốc (cùng thời gian trên, Trung Quốc xuất siêu vào Việt Nam 8,82 tỉ đô la Mỹ).

Hiện tượng Hàn Quốc

Trong bốn tháng đầu năm, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng là nhóm hàng mà Việt Nam chi nhiều tiền nhập khẩu nhất, lên đến 11,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáng chú ý, Hàn Quốc đã thay thế Trung Quốc trở thành thị trường lớn nhất cung cấp nhóm hàng này với 3,79 tỉ đô la, tăng 135% (Trung Quốc đạt 3,4 tỉ đô la, tăng 31%).

Đối với nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, Hàn Quốc tiếp tục dẫn đầu xuất khẩu vào Việt Nam với 3,84 tỉ đô la, tăng 39,2% so với cùng kỳ năm ngoái, bỏ xa vị trí thứ hai của Trung Quốc (2,09 tỉ đô la) và vị trí thứ ba của Đài Loan (1,06 tỉ đô la).

Đối với nhóm hàng điện thoại và linh kiện, dù Trung Quốc là nước cung cấp mặt hàng này nhiều nhất vào Việt Nam, đạt 2,13 tỉ đô la, nhưng mức tăng so với cùng kỳ năm ngoái chỉ là 6,3%; trong khi mức tăng của Hàn Quốc tới 31,5% (đạt 1,43 tỉ đô la, cao thứ hai). Hàn Quốc cũng tăng giá trị xuất khẩu sắt thép vào Việt Nam đến 38,4% so với cùng kỳ, đạt 383 triệu đô la Mỹ.

Đặc biệt, nhập khẩu xăng dầu từ nước này trong bốn tháng đầu năm lên đến 986.000 tấn, gấp hai lần so với cùng kỳ năm ngoái; trong khi nhập khẩu mặt hàng này từ các thị trường khác đều sụt giảm, như Singapore (giảm 9,5%); Malaysia (giảm 24,1%); Trung Quốc (giảm 16%). Nguyên nhân, theo một số doanh nghiệp đầu mối, hiện Hàn Quốc là thị trường có mức thuế nhập khẩu xăng, dầu ưu đãi nhất nhờ thực hiện Hiệp định Thương mại ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA). Trong đó, xăng ở mức 10%, thấp hơn 10 điểm phần trăm so với các thị trường khác; dầu diesel ở mức 0%, bằng với mức thuế nhập khẩu từ ASEAN nhưng thấp hơn 5 điểm phần trăm so với thị trường khác...

Theo các chuyên gia, cũng nhờ VKFTA mà giao thương giữa hai nước tăng trưởng mạnh mẽ. Hàn Quốc tăng mạnh xuất khẩu khi Việt Nam từng bước dỡ bỏ thuế nhập khẩu đối với 89,9% số sản phẩm nhập từ Hàn Quốc trong giai đoạn 15 năm kể từ khi hiệp định này có hiệu lực vào cuối năm 2015. Cụ thể, Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan chủ yếu ở các lĩnh vực nguyên phụ liệu dệt may, da giày, động cơ, linh kiện và phụ tùng ô tô, nguyên liệu nhựa và máy móc thiết bị điện... Trong đó, xóa bỏ ngay hoặc trong thời gian ngắn thuế đối với nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất. Chẳng hạn đối với nguyên phụ liệu dệt may, da giày, Việt Nam cam kết đưa hầu hết xuống còn 0% đến năm 2018.

Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam trong bốn năm qua được xem là “hiện tượng” khi số vốn cam kết của các doanh nghiệp nước này luôn đứng đầu nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hàng loạt doanh nghiệp Hàn Quốc, đặc biệt là những tập đoàn lớn tiếp tục rót thêm vốn vào Việt Nam dẫn đến nhu cầu nhập khẩu máy móc, công nghệ, thiết bị, nguyên phụ liệu... từ nước này tăng cao.

Sản phẩm tiêu dùng tràn ngập

VKFTA cắt giảm thuế suất nhập khẩu nhiều loại hàng hóa khiến nhiều mặt hàng tiêu dùng của Hàn Quốc ngày càng đổ nhiều hơn vào Việt Nam và hiện đã tràn ngập trong các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, hệ thống cửa hàng.

Tập đoàn Lock&Lock tuần trước vừa mở thêm cửa hàng P&Q (Price & Quality) đầu tiên tại TPHCM sau khi đã phát triển chuỗi cửa hàng đồ gia dụng Lock&Lock ở các tỉnh thành và đưa sản phẩm vào các siêu thị, trung tâm thương mại lớn. Ông Chun Hae Woo, Tổng giám đốc Lock&Lock Việt Nam, cho biết tập đoàn này sẽ tiếp tục mở thêm nhiều cửa hàng P&Q ở TPHCM và các thành phố lớn khác. P&Q có hàng ngàn sản phẩm tiêu dùng thương hiệu Hàn Quốc thuộc 5 nhóm hàng chính: đồ dùng hàng ngày, văn phòng phẩm, phụ kiện thời trang, đồ chơi và quà lưu niệm. Đáng chú ý, hơn 60% sản phẩm có giá dưới 100.000 đồng, được cho là sẽ cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa trong nước sản xuất.

Không những đẩy mạnh chuỗi kinh doanh, Lock&Lock còn thường xuyên tham gia các chương trình triển lãm, hội chợ nhằm quảng bá sản phẩm và từng bước tiếp cận người tiêu dùng. Đây cũng là cách mà nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc thực hiện khi bắt đầu đưa hàng hóa vào Việt Nam. Tại nhiều cuộc triển lãm chuyên ngành về công nghệ, máy móc thiết bị cũng như những hội chợ hàng tiêu dùng, doanh nghiệp từ xứ sở kim chi luôn dẫn đầu về số lượng doanh nghiệp tham gia và tăng qua từng năm. Các doanh nghiệp Hàn Quốc giới thiệu nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ, từ đồ ăn, thức uống, nông sản, hoa quả tươi... đến vật dụng gia đình, mỹ phẩm, hàng thời trang, vật dụng trang trí, hàng lưu niệm, thiết bị điện tử...

Đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc, Việt Nam là một thị trường lớn với dân số trẻ, có nhiều người tiêu dùng ưa thích và tín nhiệm hàng hóa của Hàn Quốc. Ngoài ra, họ có niềm tin sẽ kinh doanh thuận lợi tại Việt Nam khi nhận thấy văn hóa Việt Nam khá gần gũi với Hàn Quốc. Ông Kim Jung Gwan, đại diện Hiệp hội Thương mại Hàn Quốc, cho biết mối quan tâm của doanh nghiệp Hàn Quốc đối với thị trường Việt Nam hiện nay rất lớn. Sức hấp dẫn của Việt Nam không chỉ là nền kinh tế có dân số lớn thứ 13 trên thế giới mà còn là quốc gia quan trọng nối kết các nước ASEAN-Trung Quốc-Ấn Độ.

Gần đây, nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã tham gia vào chương trình K-wave Festival (Làn sóng Hàn Quốc), một trong những chương trình thuộc chuỗi hoạt động nhằm giới thiệu, trưng bày và quảng bá sản phẩm nhập khẩu từ Hàn Quốc. Các nhà bán lẻ lớn của Hàn Quốc như Lotte, Emart, K&K... cũng nhanh chóng mở rộng hệ thống bán hàng, động thái được xem là “dọn sẵn đường” cho hàng hóa xứ kim chi.

Lý giải nguyên nhân khiến hàng hóa Hàn Quốc ngày càng phổ biến tại thị trường Việt Nam bên cạnh chiều kích VKFTA, ông Pak Chul Ho, Giám đốc Cơ quan Xúc tiến thương mại và đầu tư Hàn Quốc (Kotra) tại Hà Nội, cho rằng hàng hóa Hàn Quốc có nhiều ưu thế về chất lượng so với mức giá. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) cũng dẫn đến sự gia tăng nhu cầu sử dụng sản phẩm từ nước này. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, có xu hướng sử dụng các sản phẩm xuất hiện trong phim ảnh, âm nhạc, thời trang và cả ẩm thực Hàn Quốc. Sự gia tăng đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam cũng dẫn đến gia tăng nhập khẩu hàng tiêu dùng từ nước này để đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư, doanh nghiệp, chuyên gia, người lao động và gia đình của họ khi chuyển sang Việt Nam sinh sống và làm việc...

Sự phổ biến của hàng hóa Hàn Quốc tại Việt Nam mang đến nhiều sự lựa chọn hơn cho người tiêu dùng nhưng là thách thức đối với doanh nghiệp sản xuất trong nước...

http://www.thesaigontimes.vn/160398/Su-troi-day-cua-lan-song-Han.html

Lợi thế mà các bạn có được liên quan đến yếu tố con người. Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm”, nguyên Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy bình luận về lợi ...

Lợi thế mà các bạn có được liên quan đến yếu tố con người. Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm”, nguyên Tổng giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy bình luận về lợi thế của Việt Nam, khi cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang đến gần.

Ông có đánh giá như thế nào về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam kể từ khi gia nhập WTO cho đến nay?

Việt Nam là quốc gia được hưởng lợi nhiều từ toàn cầu hóa và là một ví dụ thành công về tiến trình hội nhập kể từ sau dấu mốc gia nhập WTO 10 năm trước. Việt Nam đã biết tận dụng lợi thế của mình về nguồn nhân lực và hưởng lợi trong những lĩnh vực mà nhân lực đóng vai trò quan trọng.

Tôi thấy rằng việc gia nhập của Việt Nam vào WTO là một thành công, và đã giúp Việt Nam phát triển rất tốt, thuộc nhóm các nước có tăng trưởng cao trên thế giới.

Trong nền kinh tế toàn cầu, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển cũng không cao bằng các nước mới nổi. Ví dụ như Mỹ và Nhật có tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng từ 2-3%. Châu Âu thì thậm chí còn thấp hơn. Tôi mong rằng Việt Nam sẽ cố gắng duy trì được mức tăng trưởng đó.

Nhưng Việt Nam còn có những hạn chế gì trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, và theo ông thì cách khắc phục chúng như thế nào?

Trong việc Việt Nam gia nhập WTO, bước đầu đã có thuận lợi, đạt được mức tăng trưởng trung bình của thế giới, nhưng vẫn đứng trước và cần vượt qua nhiều thử thách như vấn đề cạnh tranh thị trường, việc doanh nghiệp tư nhân hội nhập nhanh hơn doanh nghiệp Nhà nước…

Một số những hạn chế trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng khiến cho tiến trình hội nhập kinh tế chậm lại. Nguyên nhân là các doanh nghiệp Nhà nước gần với quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước, và nhiều khi được quản lý bằng các lý do về mặt hành chính. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân có thể dễ thích nghi hơn.

Ngoài ra còn có vấn đề về tham nhũng, điều mà Viêt Nam không phải là ngoại lệ. Nhưng điều mà tôi muốn nói ở đây là với quãng lùi thời gian mà tôi tính được, Việt Nam đã vươn mình ra thế giới thông qua các hoạt động cải cách và mở cửa, nó đòi hỏi một tiến trình về mặt chính trị đặc biệt.

Nhưng tôi không bi quan về vấn đề này, bởi tôi nhận thấy Việt Nam có khả năng ứng phó, có quyết tâm, kì vọng, năng lực để làm điều này. Việt Nam hoàn toàn có khả năng chịu khó chịu khổ để vượt qua được những khó khăn trong quá trình đổi mới và cải cách.

Ông nói Việt Nam đang hội nhập tốt, nhưng thực tế cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang phải vượt qua những thách thức trong thương mại khi các nước phát triển đang có xu hướng áp đặt các biện pháp bảo hộ thương mại. Vậy theo ông, Việt Nam nên ứng phó như thế nào?

Điều này cũng logic và bình thường thôi. Khi mở cửa thì chắc chắn sẽ có những người e ngại xáo trộn, sợ thay đổi. Đây là một nguyên tắc khi chúng ta mở cửa cho thương mại và nó là tiền đề cho quá trình này.

Chắc chắn không có một quá trình mở cửa nào hoàn toàn thuận lợi. Bao giờ cũng có cả tích cực và tiêu cực gây khó khăn cho một số đối tượng. Vấn đề chính ở đây là làm sao tiến trình này phải được thực hiện tiến hành trong điều kiện công bằng.

Tự do thương mại là tốt nhưng thương mại công bằng còn tốt hơn. Để tiến trình này phát huy được tác dụng tối ưu thì điều quan trọng là chủ thể tham gia thương mại phải tham gia trong một tâm thế bình đẳng.

Liệu Việt Nam có đủ năng lực cạnh tranh hay không và khi tham gia cạnh tranh có bình đẳng hay không? Tôi tin là có cạnh tranh bình đẳng, bởi nếu không thì Việt Nam đã không tham gia WTO. Đây là một mô hình để đàm phán, giải quyết các vấn đề công bằng thương mại với cơ chế đa biên.

Với những quốc gia như Việt Nam thì cần phải chuẩn bị cho mình những tiêu chí ngày càng khắt khe, chặt chẽ hơn.

Theo ông, Việt Nam có những lợi thế gì trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0?

Việt Nam hiện đang ở trên mức tăng trưởng trung bình của thế giới, cao hơn cả những nước có trình độ tương đương, nghĩa là Việt Nam đã đổi mới thành công.

Lợi thế mà các bạn có được liên quan đến yếu tố con người. Đó là đặc tính của người Việt Nam: cần cù, quyết tâm.

Những vấn đề di dân, an ninh mạng sẽ có ảnh hưởng quan trọng tới quá trình hội nhập quốc tế và Việt Nam không nằm ngoài những rủi ro đó.

Trong thời gian tới, Việt Nam nên đầu tư cho công tác đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Tôi nghĩ rằng chiến lược thành công để chống lại mọi rủi ro là đầu tư vào trí tuệ.

Trong cuộc cách mạng 4.0, Việt Nam cần phát huy hơn nữa lợi thế của mình là trí tuệ và chất xám, chứ không phải lao động giá rẻ...

http://vneconomy.vn/thoi-su/cach-mang-40-loi-the-cua-viet-nam-khong-phai-la-lao-dong-gia-re-20170525114051578.htm

Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) Bộ Công an vừa đưa ra cảnh báo các ngân hàng đang bị động trong việc quản lý máy POS (máy cà thẻ) không dây.

Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) Bộ Công an vừa đưa ra cảnh báo các ngân hàng đang bị động trong việc quản lý máy POS (máy cà thẻ) không dây.

Các ngân hàng đang siết lại việc cấp máy POS không dây nhằm tránh bị tội phạm lợi dụng - Ảnh: T.T.D.

Trong khi đó, nhiều ngân hàng (NH) đã phải siết lại điều kiện lắp đặt các POS do phương tiện này bị tội phạm lợi dụng.

Thanh toán khống

Theo C50, thời gian qua phát hiện nhiều vụ đối tượng lợi dụng POS để thanh toán thẻ giả như trường hợp Đ.V.Tùng (26 tuổi, quê Hà Nam).

Theo cơ quan điều tra, sau khi học được “chiêu” làm giả thẻ tín dụng NH trên Internet, Tùng đã làm giả nhiều thẻ tín dụng NH, chiếm đoạt thông tin tài khoản của người nước ngoài rồi mua sắm hàng hóa.

Để thực hiện kế hoạch của mình, Tùng đã ký hợp đồng làm đơn vị chấp nhận thẻ của NH và được cấp một máy chấp nhận thanh toán thẻ POS, lắp đặt tại cửa hàng điện thoại của Tùng.

Từ tháng 1 đến tháng 9-2015, NH ký hợp đồng với Tùng đã phát sinh 307 giao dịch thanh toán thẻ với tổng số tiền khoảng 2,4 tỉ đồng. Trong đó chỉ có 12 giao dịch thành công với số tiền gần 35 triệu đồng, còn lại các giao dịch khác không thành công do hệ thống của NH phát hiện thẻ giả, thẻ bị đánh cắp, thẻ không hợp lệ.

Trước đó, tháng 7-2015, Công an tỉnh Khánh Hòa bắt khẩn cấp Yang Qing (43 tuổi, quốc tịch Mỹ) về hành vi sử dụng thông tin tài khoản, thẻ NH để chiếm đoạt tài sản.

Cụ thể, hóa đơn dùng cơm chỉ vài trăm ngàn đồng nhưng Yang Qing đã cấu kết với nhà hàng cà 42 lần bằng các thẻ tín dụng giả để thanh toán trên 1,5 tỉ đồng. Với số tiền này, chủ nhà hàng được hưởng hoa hồng hơn 700 triệu đồng.

Tại cơ quan công an, Yang Qing khai được một đối tượng người nước ngoài móc nối và chỉ cho phương thức dùng thẻ thanh toán quốc tế giả thực hiện các giao dịch bất hợp pháp để chiếm đoạt tiền của các chủ thẻ.

Giám đốc trung tâm thẻ một NH cổ phần lớn tại TP.HCM cho biết hiện chưa có quy định bắt buộc máy POS không dây phải có tính năng định vị qua GPS và phải bật tính năng này mới thanh toán được. Do vậy, có trường hợp đơn vị chấp nhận thẻ đã lợi dụng.

Phương thức thủ đoạn thường thấy là đối tượng tội phạm người nước ngoài móc nối với người VN để thỏa thuận về việc thanh toán khống qua máy POS, hoặc bắt tay với đối tượng người VN thành lập công ty, ký hợp đồng làm đơn vị chấp nhận thẻ với các NH và yêu cầu đăng ký sử dụng máy POS không dây, sau đó thực hiện giao dịch bằng thẻ giả rồi nhận tiền mặt.

Đổi lại, phía đơn vị chấp nhận thẻ nhận được “hoa hồng” từ các phi vụ thanh toán này.

Cẩn thận “đại lý ma”

Hội Thẻ NH VN đã yêu cầu các NH tăng cường công tác kiểm tra, định vị, giám sát giao dịch tại các đơn vị chấp nhận thẻ, đặc biệt chú ý các đơn vị mới đăng ký hoặc có mối quan hệ với người của những quốc gia thường xuất hiện loại tội phạm này.

Hội yêu cầu trong trường hợp đơn vị chấp nhận thẻ phát hiện các phát sinh giao dịch có dấu hiệu bất thường thì NH cần trì hoãn giao dịch, thông báo cho C50 Bộ Công an để phối hợp xử lý.

Chuyên gia Cấn Văn Lực nói rằng VN đang là một trong những thị trường rủi ro và các tổ chức thẻ quốc tế đã lên tiếng cảnh báo.

“Tình trạng này xảy ra một phần cũng do quy định chưa đầy đủ, hoặc còn tồn tại những kẽ hở mà đối tượng tội phạm lợi dụng. Do vậy, cơ quan quản lý và NH cũng cần rà lại các quy trình, quy định hoặc tăng các biện pháp bảo vệ, song song đó nâng cao ý thức cho các đơn vị chấp nhận thẻ và chủ thẻ” - ông Lực nói.

Theo các chuyên gia, cần thiết ban hành quy định về hoạt động thanh toán qua POS, trong đó quy định cụ thể về điều kiện, lĩnh vực kinh doanh qua POS như những dịch vụ nào sử dụng POS không dây, thời gian các NH báo có cho giao dịch qua POS; tiêu chuẩn về an ninh, an toàn đối với POS; chế tài xử lý vi phạm nhằm hạn chế tình trạng này...

http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20170526/dai-ly-ma-ca-the-gia-chiem-doat-tien/1320798.html

Một trong những lý do tăng thuế môi trường đối với xăng dầu là tăng nguồn thu cho ngân sách. Đây là phương sách bổ sung ngân sách nhanh nhất, ổn định nhất và chắc chắn nhất, không phụ thuộc vào sự ...

Một trong những lý do tăng thuế môi trường đối với xăng dầu là tăng nguồn thu cho ngân sách. Đây là phương sách bổ sung ngân sách nhanh nhất, ổn định nhất và chắc chắn nhất, không phụ thuộc vào sự biến động của giá dầu thô quốc tế cũng như mức độ tăng trưởng của nền kinh tế.

Thế nhưng lợi ích trước mắt và ngắn hạn đó lại ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp, đến sức mua của người dân bởi nó dẫn đến sự gia tăng giá thành sản phẩm ở nhiều mức độ khác nhau. Vậy có nên tăng thuế môi trường lên xăng dầu?

Nhìn lại thuế bảo vệ môi trường đã được tăng từ 1.000 đồng lên 3.000 đồng/lít vào năm 2015 để bù cho thuế nhập khẩu xăng dầu giảm từ 35% xuống 20% theo lộ trình cắt giảm thuế quan trong cam kết thương mại Asean. Trước đó, từ năm 2012-2015, thuế nhập khẩu xăng dầu tăng từ 0% lên 35% để bù đắp thâm hụt ngân sách.

Hiện nay cân đối ngân sách đang ở trạng thái tốt. Theo Bộ Tài chính, thu ngân sách bốn tháng đầu năm nay đạt 396.400 tỉ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ trong khi chi ngân sách 393.300 tỉ đồng, tăng 9,8%. So với cùng kỳ năm ngoái, tốc độ tăng thu ngân sách đã nhanh hơn tốc độ tăng chi. Ngân sách đang thặng dư 3.100 tỉ đồng trong khi cùng kỳ 2016 thâm hụt 53.600 tỉ đồng.

Điều đáng nói mức tăng thu của bốn tháng qua cao hơn nhiều mức tăng dự thu 10,1% của cả năm 2017. Trong chi ngân sách, chi cho đầu tư phát triển mới đạt 19,2% kế hoạch năm, nhưng đã tăng 20% so với cùng kỳ. Thúc đẩy chi đầu tư phát triển phải gắn với cải thiện hiệu quả đầu tư công, bởi thế chúng ta không thể vội vàng dù mục tiêu tăng trưởng GDP của ba quí còn lại khá nặng nề.

Ngoài thặng dư ngân sách, thực trạng thứ hai cần đề cập là sức mua của người tiêu dùng còn yếu. Hãy nhìn chỉ số bán lẻ ba năm gần đây, theo đó mức tăng bốn tháng đầu năm 2015 là 8%; 2016 là 7,5% và 2017 chỉ còn 6,7%, tức mức tăng đang xuống dốc.

Theo tính toán của bộ phận phân tích, nghiên cứu Công ty Chứng khoán Sài Gòn, khi thuế bảo vệ môi trường tăng từ 1.000 đồng lên 3.000 đồng/lít, thu thuế tăng thêm 31.000 tỉ đồng, tương 0,9% tổng mức bán lẻ của năm 2016. Nếu tới đây thuế bảo vệ môi trường xăng dầu tăng lên 8.000 đồng/lít, người tiêu dùng sẽ phải đóng thêm 75.000 tỉ đồng, tức bằng 2,1% tổng mức bán lẻ.

Hiện người tiêu dùng đang đóng hai khoản thuế giá trị gia tăng và thu nhập cá nhân và tốc độ tăng thu của cả hai đều không hề thấp. Việc tăng thuế bảo vệ môi trường xăng dầu sẽ không thể nào giúp người tiêu dùng có thêm nguồn để chi tiêu, cải thiện sức mua của nền kinh tế.

Lý do thứ ba cần cân nhắc khi tăng thuế bảo vệ môi trường xăng dầu là kinh tế đang tăng trưởng chậm do cầu yếu. Muốn nâng tăng trưởng rõ ràng phải có giải pháp kích cầu, giảm thuế, chứ không phải tăng thuế. Từ năm 2014 thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm dần từ 25% về 20%, thuế trước bạ đối với ô tô giảm từ 20% còn 10%.

Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có sức thuyết phục rất lớn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có vốn mở rộng đầu tư, nhưng giảm thuế trước bạ ô tô lại không như vậy. Tỷ lệ nội địa hóa của ô tô thấp nên giảm thuế trước bạ thực chất là kích cầu cho nước ngoài và làm tăng nhập siêu. Ở đây phải nói cho rõ ô tô là mặt hàng đắt tiền, không phải ai cũng có đủ khả năng mua, do đó giảm thuế trước bạ là giảm thuế cho một bộ phận nhỏ người tiêu dùng.

Tăng thuế bảo vệ môi trường lên xăng dầu, ngược lại, động chạm đến gần như hết thảy người dân, không phân biệt thu nhập cao, trung bình hay thấp và như vậy người có thu nhập trung bình và thấp chịu thiệt hơn cả.

Năm 2016 các thành viên của VAMA bán được 304.000 xe. Giả sử 10% thuế trước bạ mỗi xe là 50 triệu đồng, ngân sách đã bị hụt thu 15.200 tỉ đồng. Và 15.200 tỉ đồng có thể tương đương với 1.000 đồng thuế bảo vệ môi trường cho một lít xăng.

Khoảng 1.000 đồng một lít xăng là không nhỏ đối với phần lớn người dân. Số tiền ấy nếu được chi tiêu cho những nhu cầu thiết yếu sẽ tạo ra sức cầu đáng kể.

Tại sao thuế bảo vệ môi trường xăng dầu lại liên quan đến chứng khoán? Lợi nhuận của tất cả doanh nghiệp niêm yết sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực khi giá xăng dầu tạo ra chi phí đẩy đối với giá thành sản phẩm và buộc các doanh nghiệp phải xem xét giá hàng hóa đầu ra. Lợi nhuận giảm, liệu thị giá cổ phiếu có giữ được và VN-Index có tăng trưởng để thị trường chứng khoán là kênh thu hút vốn?

Giới đầu tư có lẽ đang “say mê” với triển vọng xử lý nợ xấu ngân hàng theo đó một nghị quyết về nợ xấu sẽ được trình Quốc hội xem xét, nhưng cũng đừng quên thuế bảo vệ xăng dầu cũng sẽ được mang ra thảo luận. Đấy mới là câu chuyện sát sườn của chứng khoán hiện tại.

http://www.thesaigontimes.vn/160422/Co-nen-tang-thue-moi-truong-doi-voi-xang-dau.html

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa công bố tỷ giá trung tâm áp dụng cho ngày 26/05/2017 là 22,384 đồng/USD, không đổi so với ngày 25/05/2017. Với biên độ dao động +/-3%, các ngân hàng có thể giao ...

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa công bố tỷ giá trung tâm áp dụng cho ngày 26/05/2017 là 22,384 đồng/USD, không đổi so với ngày 25/05/2017. Với biên độ dao động +/-3%, các ngân hàng có thể giao dịch đồng USD trong biên độ 21,712-23,056 đồng/USD.

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 26/05 giảm nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức giảm 10,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (25/05).

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 26/05 giảm nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức giảm 10,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (25/05).

Lúc 08h30, giá vàng miếng SJC được Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI mở cửa ở ngưỡng 36.38 (mua vào) – 36.46 (bán ra) triệu đồng/lượng, cùng giảm 10,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước ở chiều mua và bán.

 

Giá vàng SJC niêm yết tại DOJI ngày 26/05

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp về phương án đầu tư Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông.

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc họp về phương án đầu tư Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông.

Thông báo kết luận nêu rõ, trong điều kiện các dự  án mở rộng Quốc lộ 1A và Quốc lộ 14 đoạn qua Tây Nguyên vừa hoàn thành; tuyến đường bộ ven biển đang tiếp tục đầu tư; tuyến đường Hồ Chí Minh đã hoàn thành và được quy hoạch phát triển thành đường cao tốc trong tương lai, đồng thời để đáp ứng tiến độ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV theo phương án đã báo cáo Bộ Chính trị và trình Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ thống nhất Phương án 1 theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải tại văn bản số 275/BGTVT-ĐTCT ngày 22/5/2017 và ý kiến kiến nghị của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phương án đầu tư.

Thủ tướng Chính phủ lưu ý, công tác giải phóng mặt bằng cần được đặc biệt quan tâm. Từ thực tiễn thành công tại các dự án mở rộng Quốc lộ 1A và Quốc lộ 14 đoạn qua Tây Nguyên, cần huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị tại các địa phương trong tổ chức thực hiện, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả và kịp thời. Phải tập trung chỉ đạo việc này.

Công tác phân kỳ đầu tư được tính toán theo từng giai đoạn, phù hợp với lưu lượng phương tiện phát triển trong thực tế, tuy nhiên cần thực hiện cắm mốc lộ giới để quản lý quỹ đất theo quy hoạch; đồng thời, có giải pháp kỹ thuật để bảo đảm việc kết nối tại các nút giao theo quy hoạch. Bộ Giao thông vận tải khẩn trương chỉ đạo nghiên cứu, điều chỉnh quy hoạch phát triển đường cao tốc, bảo đảm có tầm nhìn dài hạn.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu triển khai thực hiện Dự án phải bảo đảm công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực, chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm, đặc biệt là việc lựa chọn nhà đầu tư./.

 Đó là khẳng định của Kiểm toán nhà nước trong báo cáo thẩm định kết quả tư vấn định giá và xử lý các vấn đề tài chính trước khi chính thức công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của VTVcab.

 Đó là khẳng định của Kiểm toán nhà nước trong báo cáo thẩm định kết quả tư vấn định giá và xử lý các vấn đề tài chính trước khi chính thức công bố giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của VTVcab.

Cụ thể, giá trị của công ty TNHH một thành viên Tổng công ty Truyền hình cáp VN (VTVcab) được doanh nghiệp này báo cáo là 3.999 tỉ đồng, trong khi đó số kiểm toán là hơn 4.278 tỉ đồng.  Kiểm toán nhà nước khẳng định chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp này lên đến 279 tỉ đồng.

Ngoài ra, Kiểm toán nhà nước cũng chỉ ra một số sai sót trong việc kiểm kê, phân loại tài sản của DN này. Theo báo cáo, VTVcab không kịp thời thực hiện các thủ tục bàn giao tài sản là 195m2 nhà tại 844 La Thành. Một số khoản công nợ cũng chưa đối chiếu đầy đủ, thiếu 7 tỉ đồng chi phí thương hiệu…

Để khắc phục sai sót trên, trong báo cáo thẩm định, Kiểm toán nhà nước đề nghị VTVcab kiểm tra, điều chỉnh Báo cáo Tài chính năm 2015 đối với các nội dung liên quan đến công tác xử lý tài chính.

VTVcab phải kê khai và nộp thêm 625,8 triệu đồng tiền thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên cạnh đó, VTVcab tiếp tục xin ý kiến hai địa phương là TP Hà Nội và tỉnh Khánh Hòa  về giá đất vàng ở hai lô đất có tổng diện tích hơn 150 m2 để tính vào giá trị DN khi cổ phần hóa...

http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20170525/dinh-gia-hut-vtvcab-279-ti-dong-khi-co-phan-hoa/1320678.html

It's me

Quang Anh

I'm not lazy, I'm just very relaxed - Anonymous

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán