Bài viết của Anh Tuấn

Tổng cục Thống kê cho biết, tính chung 4 tháng đầu năm khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4.28 triệu lượt người, tăng 30.3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt ...

Tổng cục Thống kê cho biết, tính chung 4 tháng đầu năm khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 4.28 triệu lượt người, tăng 30.3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.5 triệu lượt người, tăng 32.6%; đến bằng đường bộ đạt 611 ngàn lượt người, tăng 11.1%; đến bằng đường biển đạt 162 ngàn lượt người, tăng 77.6%.

Trong đó, khách quốc tế đến trong tháng 4 ước tính đạt 1,071.7 ngàn lượt người, tăng 6.5% so với tháng trước (là tháng thứ 4 liên tiếp từ đầu năm đón trên 1 triệu lượt khách), trong đó: Khách đến bằng đường hàng không tăng 8.3%; bằng đường bộ giảm 16.8%; bằng đường biển tăng mạnh, gấp 2.2 lần do đang là thời điểm thời tiết biển thuận lợi.

So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta tăng 34%, trong đó khách đến từ châu Á tăng 38.3%; từ châu Âu tăng 31.8%; từ châu Mỹ tăng 12.2%; từ châu Úc tăng 12.9%; từ châu Phi tăng 24.5%.

Tính chung 4 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt hơn 3 triệu lượt người, tăng 35.3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều tăng. Cụ thể, khách đến từ Trung Quốc đạt 1.3 triệu lượt người, tăng 61.1%; Hàn Quốc 702 ngàn lượt người, tăng 35.1%; Nhật Bản 261.6 ngàn lượt người, tăng 6.6%; Đài Loan 199 ngàn lượt người, tăng 22.3%; Ma-lai-xi-a 152.8 ngàn lượt người, tăng 19.6%; Thái Lan 109.2 ngàn lượt người, tăng 15.8%; Xin-ga-po 85 ngàn lượt người, tăng 7%.

Khách đến từ châu Âu ước tính đạt 747.1 ngàn lượt người, tăng 25.5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến từ Liên bang Nga 230.9 ngàn lượt người, tăng 60.3%; Vương quốc Anh 106.5 ngàn lượt người, tăng 12.6%; Pháp 105.3 ngàn lượt người, tăng 12.6%; Đức 82.8 ngàn lượt người, tăng 17.6%; Thụy Điển 24.6 ngàn lượt người, tăng 24.5%.

Khách đến từ châu Mỹ đạt 315 ngàn lượt người, tăng 11.1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Hoa Kỳ đạt 228.5 ngàn lượt người, tăng 9.1%. Khách đến từ châu Úc đạt 144.7 ngàn lượt người, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2016./.

CTCP Xuất Nhập Khẩu Quảng Bình (HOSE: QBS) đã công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 17 tỷ đồng, giảm 32% so với cùng kỳ năm trước.

CTCP Xuất Nhập Khẩu Quảng Bình đã công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 17 tỷ đồng, giảm 32% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, doanh thu thuần quý 1 của QBS đạt 861 tỷ đồng, giảm mạnh 65% so với cùng kỳ năm 2016. Theo đó, lợi nhuận gộp giảm từ 66.5 tỷ xuống còn 44 tỷ.

Doanh thu tài chính và chi phí tài chính trong quý 1 của QBS đều giảm khá mạnh so với cùng kỳ năm trước, lần lượt đạt 1.7 tỷ và 7.5 tỷ đồng. Mặt khác, chi phí quản lý doanh nghiệp và bán hàng đều giảm đáng kể.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí, QBS ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 17 tỷ đồng, giảm 32% so với cùng kỳ./.

Tài liệu đính kèm:
20170428_20170428 - QBS - BCTC hop nhat qui I.2017.pdf

Theo Tổng cục Thống kê, trong 15 ngày đầu tháng 4/2017, ước tính bội chi Ngân sách Nhà nước khoảng 20,100 tỷ đồng.

Theo Tổng cục Thống kê, trong 15 ngày đầu tháng 4/2017, ước tính bội chi Ngân sách Nhà nước khoảng 20,100 tỷ đồng.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 316.7 ngàn tỷ đồng, bằng 26.1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 253.8 ngàn tỷ đồng, bằng 25.6%; thu từ dầu thô 13 ngàn tỷ đồng, bằng 33.9%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 49.9 ngàn tỷ đồng, bằng 27.7%.

Trong thu nội địa, thu tiền sử dụng đất đạt 29.5 ngàn tỷ đồng, bằng 46.3% dự toán năm; thu thuế thu nhập cá nhân 26.2 ngàn tỷ đồng, bằng 32.5%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 52,1 ngàn tỷ đồng, bằng 26.8%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 47.3 ngàn tỷ đồng, bằng 23.5%; thu thuế bảo vệ môi trường 9.5 ngàn tỷ đồng, bằng 21%; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 49.4 ngàn tỷ đồng, bằng 17.3%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 336.8 ngàn tỷ đồng, bằng 24.2% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 246.7 ngàn tỷ đồng, bằng 27.5% dự toán năm; chi trả nợ lãi 31.6 ngàn tỷ đồng, bằng 32%; riêng chi đầu tư phát triển mới đạt 57.8 ngàn tỷ đồng, bằng 16.2% dự toán năm. Chi trả nợ gốc từ đầu năm đến thời điểm 15/4/2017 ước tính đạt 54 ngàn tỷ đồng, bằng 33% dự toán năm./.

CTCP Tập Đoàn Pan (HOSE: PAN) vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế đạt 56.6 tỷ đồng, giảm 57% so với cùng kỳ năm trước.

CTCP Tập Đoàn Pan vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế đạt 56.6 tỷ đồng, giảm 57% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, doanh thu thuần trong quý 1 của PAN đạt 536 tỷ đồng, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2016 còn giá vốn hàng bán cũng giảm từ 491 tỷ xuống còn 405 tỷ làm cho lợi nhuận gộp quý 1 của Công ty đạt 131 tỷ đồng, giảm nhẹ 6%.

Đặc biệt, doanh thu hoạt động tài chính của PAN giảm mạnh từ 131 tỷ đồng chỉ còn 13 tỷ đồng. Mặt khác, chi phí tài chính cũng giảm khá mạnh, ở mức 6 tỷ đồng. Các khoản chi phí khác có biến động không lớn trong quý 1.

Như vậy, lợi nhuận sau thuế quý 1/2017 của PAN chỉ đạt 57 tỷ đồng, giảm 57% so với cùng kỳ năm ngoái chủ yếu do doanh thu tài chính giảm mạnh.

Được biết, năm 2017 PAN đặt kế hoạch doanh thu thuần đạt 3,080 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 280 tỷ đồng. /.

Tài liệu đính kèm:
20170428_20170428 - PAN - BCTC Hop nhat Quy 1.2017.pdf

Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 ước tính tăng 7.4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5.6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11.1%; ...

Tổng cục Thống kê cho biết, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 4 ước tính tăng 7.4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5.6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11.1%; sản xuất và phân phối điện tăng 9.9%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6.5%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 5.1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ năm 2016, nhưng cao hơn mức tăng 4.2% của quý 1 năm nay.

Trong các ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 9.2%, đóng góp 6.5 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9.3%, đóng góp 0.6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6.3%, đóng góp 0.1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 9.7%, làm giảm 2.1 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 47.5%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 13.3%; dệt tăng 12.5%; sản xuất xe có động cơ tăng 10.9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 10.7%; sản xuất đồ uống tăng 10.3%.

Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 6.4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4.5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4.2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 1.5%; khai thác than cứng và than non tăng 0.8%; sản xuất thuốc lá tăng 0.5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 12.9%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2017 tăng 15.1% so với tháng trước và tăng 7.4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, chỉ số tiêu thụ ngành chế biến, chế tạo tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2016 tăng 10.2%), trong đó các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15.5%; sản xuất xe có động cơ tăng 13.4%; sản xuất kim loại tăng 9.5%; sản xuất thiết bị điện tăng 9.4%.

Một số ngành có chỉ số tiêu thụ 3 tháng tăng thấp hoặc giảm: Dệt tăng 6.9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 5.4%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 4.7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2.4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0.5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3.8%./.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2017 không thay đổi so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có 7 nhóm chỉ số giá tháng 4 tăng so với tháng ...

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2017 không thay đổi so với tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chủ yếu có 7 nhóm chỉ số giá tháng 4 tăng so với tháng trước.

Trong đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 8.05% (dịch vụ y tế tăng 10.59%) do trong tháng có 14 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế bước 2 theo Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính (tác động làm CPI tăng khoảng 0.41%).

Nhóm văn hóa, giải trí, du lịch và nhóm thiết bị, đồ dùng gia đình cùng tăng 0.1%; đồ uống và thuốc lá tăng 0.06%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0.02%; giáo dục tăng 0.01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0.08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm, trong đó nhóm giao thông giảm 1.38% do ảnh hưởng từ 2 đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 21/3/2017 và thời điểm 5/4/2017 (làm giá xăng, dầu giảm 3.06%), tác động làm CPI chung giảm 0.13%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0.66% (lương thực tăng 0.16%; thực phẩm giảm 1.11%); nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0.24%; bưu chính, viễn thông giảm 0.03%.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 4.80% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, thấp hơn mức bình quân 4.96% của quý 1/2017. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 tăng 0.90% so với tháng 12/2016 và tăng 4.30% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 4/2017 tăng 0.09% so với tháng trước và tăng 1.50% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 1.62% so với bình quân cùng kỳ năm 2016.

Chỉ số giá vàng tháng 4/2017 tăng 1.01% so với tháng trước; tăng 3.01% so với tháng 12/2016 và tăng 5.74% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2017 giảm 0.28% so với tháng trước; giảm 0.02% so với tháng 12/2016 và tăng 1.58% so với cùng kỳ năm 2016./.

CTCP Khoan & DV Khoan Dầu khí (HOSE: PVD) vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lỗ ròng gần 9.5 tỷ đồng mặc dù quý 1 năm trước vẫn lãi 3.7 tỷ đồng.

CTCP Khoan & DV Khoan Dầu khí (HOSE: PVD) vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lỗ ròng gần 9.5 tỷ đồng mặc dù quý 1 năm trước vẫn lãi 3.7 tỷ đồng.

Cụ thể, doanh thu thuần trong quý 1/2017 chỉ đạt 22 tỷ đồng, giảm 69% so với cùng kỳ năm trước còn giá vốn hàng bán đạt 22.5 tỷ đồng, giảm 62%. Do đó, lợi nhuận gộp trong quý 1 ghi nhận giá trị âm 0.3 tỷ đồng.

Mặt khác, doanh thu tài chính của PVD giảm mạnh từ 3.1 tỷ xuống còn 1.8 tỷ đồng. Chi phí quản lý 7.9 tỷ đồng, tăng 36% so với cùng kỳ năm trước.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí, quý 1 PVD ghi nhận khoản lỗ ròng gần 9.5 tỷ đồng. Được biết,  PVD đặt mục tiêu doanh thu 2,300 tỷ đồng, giảm 57% so với thực hiện năm 2016 và không lỗ trong năm nay./.

Tài liệu đính kèm:
20170428_20170428 - PVD - BCTC hop nhat quy 1 nam 2017.pdf

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 29/04 tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 60,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó ...

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 29/04 tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 60,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (28/04).

Lúc 08h30, giá vàng miếng SJC được Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI mở cửa ở ngưỡng 36.69 (mua vào) – 36.79 (bán ra) triệu đồng/lượng, tăng so với chốt phiên trước 10,000 đồng/lượng ở chiều mua và tăng 10,000 đồng/lượng ở chiều bán. Đến thời điểm gần 10h00, giá vàng tăng 40,000 đồng/lượng ở chiều mua và 40,000 đồng/lượng ở chiều bán so với lúc mở cửa sáng nay, chốt ở mức 36.73  – 36.83 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC niêm yết tại DOJI ngày 29/04

Nhìn chung, giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 29/04 tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 60,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (28/04).

Bảng giá vàng SJC niêm yết tại một số công ty sáng ngày 29/04
Đvt: ngàn đồng/lượng
Nguồn: Tổng hợp

CTCP Transimex (HOSE: TMS) vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế đạt 50.4 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

CTCP Transimex vừa công bố BCTC hợp nhất quý 1/2017 với lợi nhuận sau thuế đạt 50.4 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, trong quý 1 doanh thu thuần của TMS đạt 178 tỷ đồng, tăng trưởng 34%. Trong khi giá vốn hàng bán tăng 29% lên 121 tỷ đồng. Do đó, lợi nhuận gộp đã tăng 18 tỷ đồng, tương ứng tăng 46% so với cùng kỳ năm 2016.

Bên cạnh đó, phần lợi nhuận từ công ty liên doanh liên kết trong quý 1 đạt gần 23 tỷ đồng, tăng 28.5% đã góp phần làm tăng lợi nhuận của TMS. Doanh thu tài chính cũng tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ năm trước, đạt 2.3 tỷ đồng.

Sau khi trừ đi các loại chi phí, TMS ghi nhận lợi nhuận sau thuế quý 1 đạt 50.4 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước./.

Tài liệu đính kèm:
20170428_20170428 - TMS - BCTC HN Q1-2017 kem giai trinh KQKD.pdf

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu Thanh tra Chính phủ kiểm tra nội dung báo chí phản ánh Nhà máy nghìn tỷ bị bỏ hoang tại tỉnh Nghệ An.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu Thanh tra Chính phủ kiểm tra nội dung báo chí phản ánh Nhà máy nghìn tỷ bị bỏ hoang tại tỉnh Nghệ An.

Trước đó, ngày 24/4/2017, Báo điện tử Nghệ An phản ánh dự án Nhà máy sản xuất bột giấy Tân Hồng (tại xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An) có mức đầu tư nghìn tỷ, sau thời gian ngắn hoạt động đến nay bỏ hoang; nhà xưởng, máy móc xuống cấp vì không được vận hành.

Về việc này, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu Thanh tra Chính phủ kiểm tra nội dung báo chí phản ánh, xử lý theo đúng thẩm quyền và quy định của pháp luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 25/5/2017./.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 52/2017/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó quy định điều kiện UBND cấp tỉnh được ...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 52/2017/NĐ-CP về cho vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ đối với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trong đó quy định điều kiện UBND cấp tỉnh được vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi.

Cụ thể, UBND cấp tỉnh được vay lại từ nguồn vốn vay ODA và vay ưu đãi khi đáp ứng các điều kiện:

- Có dự án được cấp có thẩm quyền cho phép huy động vốn vay để thực hiện đầu tư phát triển kinh tế - xã hội hoặc dự án có phần vốn góp của ngân sách địa phương theo phương thức hợp tác công tư, thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương, thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn của địa phương do cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại Luật đầu tư công.

- Dự án được bố trí vốn đối ứng để thực hiện phù hợp với quy định hiện hành.

- Tổng mức dư nợ vay của ngân sách địa phương tại thời điểm thẩm định chủ trương đầu tư chương trình, dự án không vượt quá hạn mức dư nợ của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

- Không có nợ vay lại của Chính phủ quá hạn trên 180 ngày.

- Nghĩa vụ trả nợ hàng năm của UBND cấp tỉnh đối với các khoản vay lại vốn ODA, vay ưu đãi không vượt quá 10% nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp tại thời điểm xem xét khoản vay lại.

Nghị định cũng quy định tỷ lệ cho vay lại vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi. Theo đó, tỷ lệ cho vay lại nguồn vốn vay ODA cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương do UBND cấp tỉnh đề xuất.

Cụ thể, địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 70% trở lên áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 10% vốn vay ODA; địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 50% đến dưới 70% áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 20% vốn vay ODA.

Địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương dưới 50% áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 30% vốn vay ODA.

Địa phương có điều tiết về ngân sách trung ương (trừ thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh) áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 50% vốn vay ODA.

Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vay lại 80% vốn ODA.

Tỷ lệ cho vay lại vốn vay ưu đãi cho các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương do UBND cấp tỉnh đề xuất. Cụ thể, các địa phương có tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương so với tổng chi cân đối ngân sách địa phương từ 70% trở lên, thuộc danh mục các địa phương có huyện nằm trong danh sách theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/2/2008 của Chính phủ, áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 30% vốn vay ưu đãi.

Địa phương nhận bổ sung cân đối từ ngân sách trung ương ngoài các địa phương nêu trên áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 70% vốn vay ưu đãi.

Địa phương có điều tiết về ngân sách trung ương áp dụng tỷ lệ cho vay lại là 100% vốn vay ưu đãi.

Tỷ lệ cho vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi sử dụng làm phần đóng góp của địa phương trong các dự án hợp tác công tư (PPP) là 70%./.

Bộ Công Thương vừa chính thức công bố thông tin và hướng xử lý 12 dự án chậm tiến độ, thua lỗ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương quản lý.

Bộ Công Thương vừa chính thức công bố thông tin và hướng xử lý 12 dự án chậm tiến độ, thua lỗ, kém hiệu quả thuộc ngành công thương quản lý.

Theo đó, không chỉ dừng lại ở 5 dự án bước đầu được báo cáo với Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIV, Ban Chỉ đạo đã xác định 12 dự án/doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả thuộc ngành Công Thương để xem xét, đánh giá gồm: Nhóm 04 dự án đầu tư sản xuất phân bón: Nhà máy sản xuất đạm Ninh Bình, nhà máy sản xuất đạm Hà Bắc, nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 - Hải Phòng và DAP số 2 - Lào Cai; Nhóm 03 dự án đầu tư sản xuất nhiên liệu sinh học (NLSH): Nhà máy NLSH Quảng Ngãi, nhà máy NLSH Phú Thọ và nhà máy NLSH Bình Phước;  Nhóm 02 dự án đầu tư sản xuất thép: Nhà máy thép Việt Trung và dự án mở rộng giai đoạn 2 nhà máy Gang thép Thái Nguyên; Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ (PVTex); Công ty TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy Dung Quất (DQS); Nhà máy sản xuất bột giấy Phương Nam.

Trong số 12 Dự án/nhà máy trên (sau đây gọi là Dự án), tới thời điểm hiện nay, có 06 nhà máy đang được vận hành sản xuất, kinh doanh nhưng bị thua lỗ (gồm 04 nhà máy sản xuất phân bón; DQS; và Nhà máy thép Việt Trung); 03 Dự án đang bị dừng thi công do chi phí tăng cao và thiếu vốn (Dự án sản xuất nhiên liệu sinh học Phú Thọ; Dự án mở rộng giai đoạn 2 Nhà máy gang thép Thái Nguyên; Dự án nhà máy bột giấy Phương Nam); 03 nhà máy đang bị dừng sản xuất do giá thành cao, thua lỗ lớn (Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Dung Quất; Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Bình Phước; Nhà máy sản xuất sơ sợi Đình Vũ - PVTex).

Tổng mức đầu tư ban đầu của 12 Dự án trên là: 43,673.63 tỷ đồng, và sau đó được phê duyệt điều chỉnh tăng lên: 63,610.96 tỷ đồng (tăng 45.65%). Trong đó, vốn chủ sở hữu là: 14,350.04 tỷ đồng, chiếm 22.56%; vốn vay là: 47,451.24 tỷ đồng, chiếm 74.6%; còn lại 2.84% là từ các nguồn khác.

Trong tổng số vốn vay, vốn vay các ngân hàng trong nước 41,801.24 tỷ đồng, trong đó vay Ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) là: 16,858.63 tỷ đồng và vay nước ngoài có bảo lãnh của Chính phủ là: 6,617.24 tỷ đồng.

Tổng số lỗ luỹ kế của 10 nhà máy đang sản xuất hoặc đã dừng sản xuất tới thời điểm 31/122016 là: 16,126.02 tỷ đồng, trên tổng số vốn chủ sở hữu của các nhà máy này còn lại là: 3,985.14 tỷ đồng; Tổng tài sản của 12 nhà máy là: 57,679.02 tỷ đồng; Tổng nợ phải trả là: 55,063.38 tỷ đồng, trong đó nợ phải trả VDB là: 10,633.43 tỷ đồng và nợ phải trả nước ngoài có bảo lãnh của Chính phủ là: 4,299.83 tỷ đồng.

Tổng số vốn đã giải ngân của 03 Dự án dở dang, đang bị dừng thi công là 8,614 tỷ đồng, trên tổng nguồn thanh toán dự kiến là 13,066 tỷ đồng.

Song song với quá trình rà soát, đánh giá, xử lý các dự án như nêu trên, trong thời gian qua, với tinh thần khẩn trương, tập trung xử lý ngay những khó khăn, vướng mắc ở từng dự án theo chỉ đạo chung của Chính phủ và Ban Chỉ đạo, đến nay kết quả bước đầu xử lý ở một số dự án đã có những chuyển biến tích cực, cụ thể như sau:

- Với nhóm các dự án nhà máy sản xuất phân bón: Hiện nay, Nhà máy Đạm Ninh Bình đã vận hành sản xuất trở lại ở mức công suất 85% vào tháng 1 năm 2017 sau gần 6 tháng dừng sản xuất. Các nhà máy đang vận hành sản xuất ổn định với phương án sản xuất kinh doanh được xây dựng theo hướng tăng cường các biện pháp quản trị doanh nghiệp, tiết giảm các chi phí sản xuất để giảm lỗ. Kết quả hoạt động trong quý I năm 2017 của các nhà máy, đặc biệt là nhà máy DAP số 1 - Lào Cai, đạm Hà Bắc đã thực hiện tiết giảm chi phí sản xuất, tiêu hao nguyên nhiên vật liệu đạt và vượt kế hoạch, đồng thời thực tế chi phí biến đổi khi sản xuất các sản phẩm của các nhà máy đã giảm so với trước (DAP 1 - Lào Cai giảm 27%; đạm Hà Bắc giảm 1% và đạm Ninh Bình giảm 6.9%).

- Với nhà máy thép Việt - Trung (VTM): Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong tháng 1 và tháng 2 năm 2017 vẫn ghi nhận lỗ. Tuy nhiên, sang tháng 3 năm 2017, tình hình sản xuất kinh doanh của VTM có nhiều tiến bộ rõ rệt, sản lượng sản xuất, tiêu thụ quặng sắt và phôi thép đều tăng cao, chất lượng cải thiện hơn và Công ty đã có lãi 28.4 tỷ đồng, góp phần làm giảm bớt lỗ của quý I năm 2017 xuống còn âm 39.9 tỷ đồng trên tổng doanh thu đạt 1,165.5 tỷ đồng (bằng 140% so với cùng kỳ năm 2016). Mức lỗ này so với cùng quý I năm 2016 (lỗ 272.25 tỷ đồng) đã giảm 85%.

- Với Dự án mở rộng giai đoạn 2 nhà máy gang thép Thái Nguyên: Với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo, các cơ quan đơn vị đã phối hợp với Tổng công ty cổ phần Thép Việt Nam và Hội đồng quản trị Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên (TISCO) hoàn tất việc rút 1.000 tỷ đồng vốn góp của Tổng công ty Đầu tư kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) khỏi Dự án theo đúng quy định của pháp luật để bảo toàn một phần vốn góp nhà nước tại Dự án này.

Một số Phương án xử lý cụ thể đối với từng dự án

- Đối với 04 Dự án đầu tư sản xuất phân bón: Phương án xử lý là tiếp tục tập trung thực hiện xử lý các khó khăn, vướng mắc theo các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo của Chính phủ, đặc biệt là các giải pháp liên quan tới quản trị doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các Dự án. Sau khi đã hoạt động có hiệu quả sẽ thực hiện cổ phẩn hóa, thoái vốn nhà nước khỏi doanh nghiệp (dự kiến sau năm 2018). Riêng dự án Đạm Ninh Bình phải tiến hành xử lý dứt điểm tranh chấp vướng mắc đối với hợp đồng EPC.

- Đối với Dự án Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Quảng Ngãi: Có 2 phương án được xem xét để xử lý đối với Dự án, bao gồm: Phương án 1: Công ty cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí miền Trung (BSR-BF) chuyển nhượng/thoái vốn tại Công ty và Phương án 2: Tái cơ cấu lại Công ty nhiên liệu sinh học miền Trung. Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi…, đề xuất lựa chọn Phương án 1: BSR-BF chuyển nhượng/thoái vốn tại Công ty. Tuy nhiên, trước khi thực hiện phương án, cần phải thực hiện các công việc sau: (1) Tính toán khởi động lại nhà máy; (2) Xử lý dứt điểm các vướng mắc với nhà thầu EPC về hạng mục xử lý nước thải để hoàn thành việc quyết toán Dự án đầu tư xây dựng nhà máy; (3) Thực hiện các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ nhiên liệu sinh học thông qua các cơ chế, chính sách của nhà nước.

- Đối với Dự án Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Phú Thọ: Có 4 phương án được xem xét để xử lý đối với Dự án, bao gồm: Phương án 1: Tiếp tục triển khai Dự án với nhà thầu PVC; Phương án 2: Tiếp tục triển khai Dự án, thanh lý hợp đồng với nhà thầu PVC để tìm nhà thầu khác; Phương án 3: Dừng triển khai Dự án, phá sản Công ty và Phương án 4: PVOil chuyển nhượng/thoái vốn khỏi Dự án. Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi…, đề xuất lựa chọn Phương án 4: PVOil chuyển nhượng/thoái vốn khỏi Dự án.

- Đối với Dự án Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Bình Phước: Có 3 phương án được xem xét để xử lý đối với Dự án, bao gồm: Phương án 1: Tạm dừng nhà máy và vận hành trở lại khi thuận lợi; Phương án 2: Cho thuê tài chính - Bán tài sản và Phương án 3: PVOil chuyển nhượng vốn/thoái vốn khỏi Dự án. Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi..., đề xuất lựa chọn Phương án 3: PVOil Chuyển nhượng vốn/thoái vốn khỏi Dự án.

- Đối với Dự án mở rộng sản xuất giai đoạn 2 Nhà máy gang thép Thái Nguyên: Có 3 phương án được xem xét để xử lý đối với Dự án, bao gồm: Phương án 1: Bán Dự án; Phương án 2: Kêu gọi doanh nghiệp, nhà đầu tư góp vốn đầu tư Dự án và Phương án 3: Thoái vốn nhà nước và tái cơ cấu TISCO. Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi…, đề xuất lựa chọn Phương án 3: Thoái vốn nhà nước và tái cơ cấu lại TISCO.

- Đối với Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Quý Xa và nhà máy gang thép Lào Cai: Đối với Dự án này, phương án xử lý là tập trung xử lý, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc để tiếp tục triển khai, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Dự án với các giải pháp kèm theo: (1) Tiến hành đàm phán để sửa đổi lại hợp đồng liên doanh và điều lệ Công ty, trên cơ sở đó tiếp tục triển khai hoàn thiện các hạng mục đầu tư và sản xuất kinh doanh của Dự án để nâng cao hiệu quả của toàn Dự án; (2) Thực hiện các biện pháp cải tiến trong quản trị sản xuất kinh doanh để tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và đầu tư trong thời gian tới; đồng thời đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thành Dây chuyền cán thép 500,000 tấn/năm.

Trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ sẽ tiếp tục chỉ đạo Bộ Tư pháp hỗ trợ VTM trong việc đàm phán sửa đổi lại Hợp đồng liên doanh, điều lệ liên doanh.

- Đối với Dự án Nhà máy đầu tư sản xuất sơ xợi polyester Đình Vũ: Có 3 phương án được xem xét để xử lý đối với Dự án này: Phương án 1: Khởi động lại nhà máy, tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn. Phương án này được thực hiện theo hai kịch bản: (1) Hợp tác với đối tác nước ngoài để sản xuất kinh doanh xơ PSF trong 2 năm và sau đó thoái vốn hoặc (2) tự vận hành sản xuất kinh doanh; Phương án 2: PVTex chuyển nhượng Công ty; Phương án 3: Phá sản Công ty theo luật định.

Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi…, đề xuất xem xét, lựa chọn Phương án 1: Khởi động lại nhà máy, tái cơ cấu, cổ phần hóa, thoái vốn theo phương thức Hợp tác với đối tác nước ngoài để sản xuất kinh doanh xơ PSF trong 2 năm và sau đó thoái vốn hoặc Phương án 2: PVTex chuyển nhượng Công ty.

- Đối với Công ty TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy Dung Quất (DQS): Có 3 phương án được xem xét để xử lý đối với doanh nghiệp này, bao gồm: Phương án 1: Chuyển đổi sở hữu Công ty DQS thông qua định giá, bán đấu giá tài sản, công nợ; Phương án 2: Phá sản Công ty DQS theo quy định của pháp luật và Phương án 3: Tiếp tục tái cơ cấu Công ty DQS.

Trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố: tình hình thực tế, tính pháp lý, tính khả thi..., đề xuất xuất ưu tiên lựa chọn Phương án 2: Phá sản Công ty DQS theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, có xem xét đến Phương án 1: Chuyển đổi sở hữu Công ty DQS thông qua định giá, bán đấu giá tài sản, công nợ nếu tìm được nhà đầu tư đáp ứng đầy đủ các điều kiện thực hiện phương án.

- Đối với Dự án đầu tư sản xuất bột giấy Phương Nam: Tháng 9 năm 2016, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ đã có ý kiến đồng ý về chủ trương bán đấu giá toàn bộ tài sản cố định và hàng hóa tồn kho của Dự án Nhà máy. Hiện nay, Bộ Công Thương đã thực hiện xong bước thuê tư vấn thẩm định giá khởi điểm, phương án bán đấu giá Dự án và đang chuẩn bị các thủ tục pháp lý để tổ chức bán đấu giá công khai Dự án./.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 48/2017/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó quy định huy động các nguồn tài chính cho đầu ...

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 48/2017/NĐ-CP quy định một số cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó quy định huy động các nguồn tài chính cho đầu tư phát triển Thành phố.

Theo đó, nhà nước ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn tài chính khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội để Thành phố thực hiện vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực và cả nước.

Đối với một số công trình, dự án quan trọng có quy mô đầu tư lớn thuộc lĩnh vực môi trường, giao thông, thủy lợi do Thành phố Hồ Chí Minh quản lý vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lập dự toán kèm theo đề nghị gửi Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính để tổng hợp báo cáo Chính phủ trình Quốc hội quyết định hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách thành phố để triển khai thực hiện. 

Để sử dụng có hiệu quả quỹ đất thuộc Thành phố quản lý, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được tạm ứng từ nguồn ngân sách thành phố hoặc từ nguồn vay theo quy định cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất. Sau khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất sẽ thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn vay.

Chính phủ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn vốn ưu đãi cho Thành phố Hồ Chí Minh để đầu tư các chương trình, dự án xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị, môi trường và chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn.

Việc bố trí vốn đầu tư cho các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn ODA và nguồn vốn ưu đãi trên địa bàn Thành phố được thực hiện theo nguyên tắc: Đối với chương trình, dự án thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố Hồ Chí Minh, Chính phủ cho thành phố vay lại hoặc cấp phát một phần theo quy định của pháp luật. Thành phố có trách nhiệm bố trí vốn đối ứng từ ngân sách thành phố để thực hiện và hoàn trả gốc, lãi phần vay lại đầy đủ, đúng hạn theo quy định của pháp luật; đối với các doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý được vay lại để đầu tư chương trình, dự án có khả năng thu hồi một phần hoặc toàn bộ vốn vay. Các doanh nghiệp thuộc Thành phố quản lý phải hoàn trả gốc, lãi vay theo đúng thời hạn quy định.   

Mức bố trí cụ thể về vốn ODA hoặc các nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ thực hiện các chương trình, dự án cho Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định, trên cơ sở đề nghị của Thành phố, ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Chính phủ cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội quyết định theo quy định của Luật ngân sách nhà nước và Luật đầu tư công.

Ủy ban nhân dân thành phố được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho Thành phố không phụ thuộc vào quy mô viện trợ; riêng đối với các khoản viện trợ có liên quan đến tôn giáo, quốc phòng, an ninh, phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố chịu trách nhiệm thực hiện việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ này, thực hiện chế độ hạch toán, quyết toán theo đúng quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài nguồn vốn huy động cho các công trình, dự án thuộc đối tượng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách, đối với các dự án khác có khả năng thu hồi vốn hoặc các dự án chỉ có khả năng thu hồi một phần vốn đầu tư, Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật việc huy động đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) theo quy định của pháp luật, bao gồm: BOT (xây dựng - kinh doanh -  chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - kinh doanh), BT (xây dựng - chuyển giao), BOO (xây dựng - sở hữu - kinh doanh), BTL (xây dựng - chuyển giao - thuê dịch vụ), BLT (xây dựng - thuê dịch vụ - chuyển giao), O&M (kinh doanh - quản lý).

Căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách địa phương, Thành phố tham gia thực hiện các dự án PPP theo các hoạt động: Góp vốn để hỗ trợ xây dựng công trình đối với dự án có hoạt động kinh doanh, thu phí từ người sử dụng, nhưng khoản thu không đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận; thanh toán cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ theo hợp đồng BTL, hợp đồng BLT; hỗ trợ xây dựng công trình phụ trợ, tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư./.

Ngày 27/4/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có công điện số 01/CĐ-NHNN về việc tăng cường công tác an toàn kho quỹ, giao dịch tiền mặt dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5.

Ngày 27/4/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có công điện số 01/CĐ-NHNN về việc tăng cường công tác an toàn kho quỹ, giao dịch tiền mặt dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5.

Theo Công điện này, thời gian qua NHNN đã chỉ đạo quyết liệt về đảm bảo công tác an toàn kho quỹ trong toàn ngành Ngân hàng. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá trong kho quỹ, nơi giao dịch và vận chuyển trên đường nói chung và trong dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5 nói riêng, NHNN yêu cầu thủ trưởng các đơn vị triển khai thực hiện ngay một số công việc sau:

Tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm túc Công điện số 03/CĐ-NHNN ngày 07/12/2016 của Thống đốc NHNN về việc tăng cường công tác an toàn kho quỹ, giao dịch tiền mặt.

Trong dịp nghỉ lễ 30/4 và 01/5/2017, cần tập trung triển khai thực hiện những nội dung: Đảm bảo đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu tiền mặt (về giá trị và cơ cấu mệnh giá hợp lý) trên địa bàn, kể cả việc tiếp quỹ cho các máy rút tiền tự động (ATM) duy trì hoạt động liên tục, bình thường; Tăng cường công tác canh gác bảo vệ, đảm bảo an toàn tài sản tại nơi giao dịch tiền mặt; xây dựng phương án bảo vệ, chống đột nhập, cướp tiền, tài sản dưới mọi hình thức; Bố trí đủ lực lượng bảo vệ, trang bị các công cụ hỗ trợ cần thiết, đảm bảo việc trực canh gác 24/24h. Phân công lãnh đạo trực để chỉ đạo xử lý kịp thời sự cố hoặc công việc đột xuất; Duy trì hoạt động của các hệ thống thiết bị an toàn kho quỹ đảm bảo liên tục và ổn định; đặc biệt là chất lượng và lưu trữ hình ảnh của hệ thống camera quan sát; Chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan công an để được hỗ trợ kịp thời khi có tình huống bất ngờ xảy ra.

Về tổ chức thực hiện, Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tăng cường đảm bảo an toàn kho quỹ đối với các TCTD trên địa bàn; Chủ tịch Hội đồng quản trị (Hội đồng thành viên), Tổng giám đốc (Giám đốc) TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chịu trách nhiệm chỉ đạo việc tăng cường đảm bảo an toàn kho quỹ trong hệ thống./.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, trong 4 tháng đầu năm 2017, cả nước có thêm 39,580 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 369,635 tỷ đồng, tăng 14% về số doanh nghiệp và tăng 48.9% về số ...

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, trong 4 tháng đầu năm 2017, cả nước có thêm 39,580 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 369,635 tỷ đồng, tăng 14% về số doanh nghiệp và tăng 48.9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 4 tháng qua là 825,332 tỷ đồng, bao gồm: tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 369,635 tỷ đồng và tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là 455,697 tỷ đồng.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 4 tháng đầu năm 2017 đạt 9.3 tỷ đồng, tăng 30.6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Trong đó, trong tháng 4 số doanh nghiệp được thành lập mới là 13,102 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 98,397 tỷ đồng, tăng 8.9% về số doanh nghiệp và tăng 8.8% về số vốn đăng ký so với tháng 3/2017. Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng 4 đạt 7.5 tỷ đồng, giảm 23.9% so với tháng trước.

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng này trên cả nước là 2,274 doanh nghiệp, tăng 75.7% so với tháng 3/2017. Số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 1,744 doanh nghiệp, tăng 24,0% so với tháng trước đó. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể là 4,561 doanh nghiệp, tăng 43.2% so với tháng 3/2017. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong tháng 4 của cả nước là 789 doanh nghiệp, tăng 6.0% so với tháng 3/2017./.    

Ngày 26/4/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản số 2940/NHNN-TT về việc tăng cường chất lượng dịch vụ, đảm bảo an ninh và an toàn ATM, đặc biệt là vào dịp nghỉ lễ dài ngày 30/4 và ...

Ngày 26/4/2017, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã có văn bản số 2940/NHNN-TT về việc tăng cường chất lượng dịch vụ, đảm bảo an ninh và an toàn ATM, đặc biệt là vào dịp nghỉ lễ dài ngày 30/4 và 01/5 sắp tới.

Theo đó, NHNN yêu cầu các tổ chức phát hành thẻ, các tổ chức thanh toán thẻ chấp hành nghiêm túc các quy định của NHNN liên quan đến quản lý, vận hành hệ thống ATM nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ và an toàn hoạt động ATM, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng, tránh tình trạng hết tiền hoặc ngừng phục vụ trong kỳ nghỉ Lễ 30/4 và 01/5 sắp tới.

Kiểm tra hệ thống ATM, đảm bảo chất lượng dịch vụ và an toàn hoạt động ATM; Giám sát chặt chẽ mức tồn quỹ ATM để bổ sung kịp thời, đáp ứng tốt nhất nhu cầu giao dịch của khách hàng; Phối hợp với tổ chức chuyển mạch thẻ và các đơn vị liên quan để xử lý kịp thời các sự cố, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng. Đặc biệt tại các khu vực có nhu cầu rút tiền mặt lớn, ngoài việc chuẩn bị tốt hệ thống ATM, cần chủ động có biện pháp nhằm giảm tải cho ATM.

Đồng thời, tăng cường công tác cảnh giác đối với các phương thức, thủ đoạn phạm tội và phối hợp với cơ quan công an, lực lượng an ninh, trật tự địa phương trong công tác phòng, chống tội phạm liên quan ATM.

Cùng với đó, chủ động theo dõi, phản hồi kịp thời các phản ánh của dư luận về những vấn đề phát sinh đối với hoạt động ATM của đơn vị mình, tránh gây hiểu lầm làm giảm lòng tin của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ thanh toán của ngân hàng.

Đối với CTCP Thanh toán Quốc gia Việt Nam, NHNN yêu cầu thực hiện kiểm tra hệ thống hạ tầng, kỹ thuật (máy móc, thiết bị, đường truyền…) và bố trí nhân sự đầy đủ để đảm bảo hoạt động chuyển mạch đối với các giao dịch thanh toán qua thẻ ATM/POS an toàn, thông suốt và ổn định trong dịp nghỉ Lễ 30/4 và 01/5; Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan theo dõi, phát hiện, xử lý các sai sót, sự cố phát sinh, phản hồi tra soát, khiếu nại của các tổ chức, cá nhân liên quan một cách nhanh chóng, kịp thời.

NHNN yêu cầu NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố cung ứng kịp thời, đầy đủ tiền mặt cho nhu cầu phục vụ máy ATM của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ đảm bảo đáp ứng nhu cầu chi tiền mặt, tiếp quỹ cho ATM.

NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hà Nội và Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh tăng cường theo dõi, giám sát, chỉ đạo các tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ trên địa bàn thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Thống đốc NHNN tại công văn này; Tiến hành xử phạt hành chính theo quy định các tổ chức vi phạm đối với hoạt động ATM trên địa bàn. Mặt khác, theo dõi chặt chẽ thông tin, vụ việc liên quan đến chất lượng dịch vụ ATM được phản ánh trên các phương tiện truyền thông, chỉ đạo các đơn vị liên quan phản hồi tới báo chí kết quả xử lý vụ việc và báo cáo NHNN (Vụ Thanh toán)./.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa ban hành Chỉ thị số 05/CT-BCT về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Công Thương giai đoạn 2017 - 2020.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh vừa ban hành Chỉ thị số 05/CT-BCT về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Công Thương giai đoạn 2017 - 2020.

Theo đó, trong thời gian qua, công tác sắp xếp, đổi mới nghiệp doanh nhà nước thuộc Bộ Công Thương đã đạt được những kết quả nhất định. Để tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ giai đoạn 2017 - 2020 bảo đảm hiệu quả và tiến độ theo yêu cầu, Bộ trưởng Bộ Công Thương chỉ thị các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bộ phận đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Bộ Công Thương làm chủ sở hữu và các đơn vị liên quan thuộc Bộ tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

Về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp

Tổ chức quán triệt thực hiện Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016 - 2020 và Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.

Căn cứ Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg nêu trên của Thủ tướng Chính phủ, các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước xây dựng kế hoạch, lộ trình sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước trong giai đoạn 2017 - 2020, báo cáo Bộ Công Thương phê duyệt trong tháng 5 năm 2017 theo thẩm quyền hoặc thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đối với 4 Tập đoàn phải trình đề án tái cơ cấu (gồm: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam), yêu cầu phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ để khẩn trương hoàn thiện đề án, báo cáo Bộ Công Thương trước ngày 20/05/2017.

Tổ chức triển khai công tác cổ phần hóa các đơn vị thành viên theo đúng kế hoạch và tiến độ đã được phê duyệt; tuân thủ các quy định hiện hành về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Đối với những doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, tồn đọng tài chính kéo dài, không đủ điều kiện thực hiện cổ phần hoá phải kiên quyết thực hiện sắp xếp, sáp nhập hoặc phá sản theo quy định của Nhà nước.

Tăng cường công tác quản lý kiểm tra, giám sát, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong quá trình sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp thua lỗ, các dự án đầu tư không có hiệu quả, hiệu quả thấp; có cơ chế kiểm soát phù hợp trong việc mua, bán, sáp nhập doanh nghiệp, tránh lợi ích nhóm, thất thoát vốn và tài sản nhà nước.

Xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan trong việc sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; xử lý nghiêm lãnh đạo các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, người đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không nghiêm túc thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả việc sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp và nhiệm vụ được giao trong quản lý, điều hành doanh nghiệp.

Về tổ chức thực hiện

Bộ phận đại diện vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do Bộ Công Thương làm chủ sở hữu:

Thực hiện rà soát các tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định tại Quyết định số 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ để xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể bán phần vốn nhà nước trong giai đoạn 2017 - 2020.

Thường trực Ban Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp Bộ Công Thương:

- Chủ trì, phối hợp với các Vụ, Cục, Tổng cục và các đơn vị liên quan theo dõi, tổng hợp tình hình, báo cáo định kỳ hàng quý, hàng năm với Bộ về công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ giai đoạn 2017 - 2020; phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan phát hiện những vấn đề đột xuất, cấp bách phát sinh để kịp thời tham mưu với Lãnh đạo Bộ xem xét, quyết định.

- Chủ trì, phối hợp với Vụ Tài chính và các đơn vị liên quan thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc Bộ Công Thương về Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) quản lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 9091/VPCP-ĐMDN ngày 25 tháng 10 năm 2016 của Văn phòng Chính phủ về việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.

Vụ Tài chính:

Chỉ đạo tổ chức việc xác định giá trị doanh nghiệp các doanh nghiệp cổ phần hoá, bảo đảm đúng qui định và tiến độ yêu cầu.

Vụ Tổ chức cán bộ:

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan chủ động rà soát, đề xuất việc kiện toàn công tác cán bộ các Tổng công ty, Công ty trực thuộc Bộ, báo cáo Bộ trưởng những vấn đề phát sinh cần giải quyết, xử lý.

Các Vụ, Cục, Tổng cục quản lý chuyên ngành:

Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện việc kiểm tra, giám sát công tác sắp xếp, cổ phần hóa, thoái vốn của doanh nghiệp theo tiến độ kế hoạch đã được phê duyệt./.

Hiệp hội thép Việt Nam nhận định thị trường thép trong nước có nhiều biến động trong quý 1/2017.

Hiệp hội thép Việt Nam nhận định thị trường thép trong nước có nhiều biến động trong quý 1/2017.

Cụ thể, sản xuất thép trong nước tăng trưởng tốt, đạt 4,637 ngàn tấn, tăng 18.8% so với cùng kỳ 2016. Bán hàng thép trong nước tăng trưởng khá, đạt 3,761 ngàn tấn, tăng 6.5% so với cùng kỳ 2016. Nhập khẩu thép thành phẩm tính đến ngày 15/3/2017 đạt 3.56 triệu tấn với kim ngạch nhập khẩu đạt 2.2 tỷ USD, tăng 13% về lượng và tăng 64% về kim ngạch nhập khẩu.

Về thị trường thế giới, giá quặng sắt tháng ngày 06/4/2017 theo đà giảm từ cuối tháng 3, ở mức 80.9 USD/tấn CFR cảng Tianjin, giảm 4.4 USD/tấn so với đầu tháng, tương ứng với 5.2%. Mức giá này tương đương so với hồi đầu tháng 1/2017.

Giá thép phế liệu ở mức 250-255 USD/tấn CFR Đông Á đầu tháng 2 và bắt đầu hồi phục tăng trở lại đến tuần thứ 3 của tháng 3/2017. Giá thép phế hiện duy trì ở mức 265-270 USD/tấn CFR Đông Á. Còn giá phôi thép từ cuối tháng 2/2017 lại tiếp tục đà tăng mới cho đến ngày 9/3/2017 ở mức 445 – 450 USD/tấn CFR Đông Á. Sau đó chững lại và đến ngày 30/3 giảm khoảng 10 USD/tấn. Giá phôi giao dịch ngày 6/4/2017 ở mức 430-440 USD/tấn CFR cảng Đông Á./.

Mới đây, Kho bạc Nhà nước đã thông báo kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển trong quý 2/2017.

Mới đây, Kho bạc Nhà nước đã thông báo kế hoạch phát hành trái phiếu Chính phủ huy động vốn cho ngân sách nhà nước và cho đầu tư phát triển trong quý 2/2017.

Theo đó, tổng mức phát hành tối thiểu là 66,000 tỷ đồng. Khối lượng dự kiến chi tiết theo kỳ hạn như sau: Kỳ hạn 5 năm là 20,000 tỷ đồng; kỳ hạn 7 năm là 10,000 tỷ đồng; kỳ hạn 10 năm là 8,000 tỷ đồng; kỳ hạn 15 năm là 10,000 tỷ đồng; kỳ hạn 20 năm là 8,000 tỷ đồng; kỳ hạn 30 năm là 10,000 tỷ đồng.

Trong quá trình thực hiện, Kho bạc Nhà nước có thể điều chỉnh khối lượng phát hành và mức huy động các kỳ hạn trái phiếu cho phù hợp với tình hình thị trường.

Các thành viên đấu thầu trái phiếu Chính phủ năm 2017 và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội phối hợp triển khai thực hiện./.

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 27/04 tiếp tục tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 30,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước ...

Giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 27/04 tiếp tục tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 30,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (26/04).

Lúc 08h30, giá vàng miếng SJC được Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI mở cửa ở ngưỡng 36.62 (mua vào) – 36.70 (bán ra) triệu đồng/lượng, tăng so với chốt phiên trước 10,000 đồng/lượng ở chiều mua và tăng 10,000 đồng/lượng ở chiều bán. Đến thời điểm hơn 9h00, giá vàng không đổi ở chiều mua và chiều bán so với lúc mở cửa sáng nay, chốt ở mức 36.62  – 36.70 triệu đồng/lượng.

Giá vàng SJC niêm yết tại DOJI ngày 27/04

Nhìn chung, giá vàng trong nước niêm yết tại một số công ty vàng bạc đá quý trong sáng ngày 27/04 tiếp tục tăng nhẹ ở cả chiều mua và chiều bán với mức tăng từ 10,000 – 30,000 đồng/lượng so với chốt phiên trước đó (26/04).

Bảng giá vàng SJC niêm yết tại một số công ty sáng ngày 27/04
Đvt: ngàn đồng/lượng
Nguồn: Tổng hợp

It's me

Anh Tuấn

Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning.

Đăng nhập x


Nhớ đăng nhập

Đổi mật khẩu x

Chỉnh sửa thông tin cá nhân x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc

Để gửi bài viết vui lòng bổ sung thông tin x



(Dung lượng file
không quá 1Mb)
Ngày sinh:
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng

Gửi bài viết mới x

Chọn file

  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán