Điểm sáng 2013?

Ông Andy Ho - Giám đốc điều hành Tập đoàn VinaCapital cho biết VinaCapital sẽ thoái vốn khỏi những tài sản có giá trị cao trong danh mục đầu tư và dùng khoản lợi nhuận thu được để tái đầu tư vào các ...

Ông Andy Ho - Giám đốc điều hành Tập đoàn VinaCapital cho biết VinaCapital sẽ thoái vốn khỏi những tài sản có giá trị cao trong danh mục đầu tư và dùng khoản lợi nhuận thu được để tái đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các công ty niêm yết trên TTCK.

Ông Andy Ho - Giám đốc điều hành Tập đoàn VinaCapital

Dưới tư cách là tổ chức đầu tư nước ngoài, ông đánh giá nền kinh tế Việt Nam như thế nào trong quý 1 vừa qua?

Chúng tôi nhận thấy ổn định vĩ mô trong quý 1 được duy trì tốt. Lạm phát được kiểm soát hiệu quả, có giảm phát nhẹ trong tháng 3, sớm hơn một chút so với năm 2012. Áp lực từ cầu tiêu dùng lên CPI cũng không còn, vì hiện tại, tổng cầu trong nền kinh tế là khá thấp. Giá xăng và viện phí tăng góp phần khiến chi phí đầu vào tăng cao hơn nhưng nhìn chung, nhà nước đã có sự quản lý phù hợp về giá của những yếu tố này, giúp giảm đến tối thiểu những ảnh hưởng tiêu cực lên giá cả tiêu dùng.

Trong tháng 2, nhu cầu cao hơn thường lệ về hàng hóa nhập khẩu khiến đồng USD tăng giá nhẹ. Ngoài ra, giá vàng cũng tăng khiến một bộ phận người dân đổi tiền VNĐ sang USD để mua vàng. Ngân hàng nhà nước đã giữ đúng cam kết là đảm bảo tỉ giá VNĐ-USD ổn định bằng cách bán đồng USD từ nguồn dự trữ ngoại tệ ra thị trường, giúp đồng USD giảm về mức như trước Tết.

Thị trường vàng trong tháng 3 có một vài xáo trộn khi giá vàng trong nước tăng cao, chênh lệch hơn 4 triệu đồng so với giá vàng thế giới. Trong vai trò người bán và người mua cuối cùng của thị trường, Ngân hàng nhà nước đã có những động thái giúp bình ổn thị trường, ví dụ như tổ chức những buổi đấu giá vàng như vừa qua với dự kiến rằng dần dần, khoảng cách giá vàng giữa VN và thế giới sẽ thu hẹp.

GDP chỉ tăng 4.9% trong quý 1/2013, cho thấy nền kinh tế vận hành chưa thực sự mạnh mẽ. Với Tết Quý Tỵ đến trong tháng 2, nhu cầu tiêu dùng tăng cao nhưng sau đó lại giảm xuống sâu hơn. Các thống kê về hàng hóa bán lẻ và sản xuất công nghiệp đều không cao bằng quý 1 năm ngoái. Vốn là hai trụ cột của nền kinh tế, những chỉ số này xuống thấp cho thấy GDP sẽ chỉ tăng trưởng khiêm tốn.

Ông dự báo nền kinh tế sẽ chuyển biến ra sao trong quý 2 và những tháng còn lại của năm?

Chúng tôi hy vọng rằng GDP sẽ tăng trưởng tốt hơn trong các quý còn lại. Quý 1, do công nhân về quê nghỉ Tết nên sản xuất bị gián đoạn một thời gian. Hơn nữa, tín dụng ngân hàng chỉ tăng trưởng rất ít, gây khó khăn cho sự mở rộng các hoạt động kinh tế. So với cùng kỳ cuối tháng 3 năm ngoái, tín dụng chỉ tăng 0.1% trong khi dư nợ tăng đến 3.8%. Ý nghĩa của những con số này là thanh khoản đã có nhưng cầu về tín dụng lại rất yếu. Chính phủ đã ra hạn định thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia (AMC) trước cuối tháng 4 để xử lý nợ xấu tồn đọng trong nền kinh tế. Chúng tôi nghĩ đây là một bước tiến lớn vì kế hoạch này đã bắt đầu từ khoảng một năm trước, vào tháng 4/2012. Nếu được thực hiện hiệu quả, kế hoạch này sẽ đóng vai trò mũi nhọn trong việc khơi thông dòng chảy tín dụng, hỗ trợ nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng trở lại.

Theo nhìn nhận của chúng tôi, lạm phát sẽ tiếp tục ổn định, có lẽ sẽ tăng nhẹ vào giữa năm nay chủ yếu do các tác động cơ sở. Lạm phát của cả năm 2013 sẽ còn 1 con số, khoảng 7-8%, khá sát với mục tiêu của Ngân hàng nhà nước.

Những biến động của nền kinh tế trong thời gian tới sẽ có tác động như thế nào đến thị trường chứng khoán?

Thị trường sẽ được hưởng lợi từ sự ổn định vĩ mô. Thanh khoản giữa các ngân hàng và trong nền kinh tế sẽ lành mạnh hơn, cho phép lãi suất giảm sâu hơn nữa. Thị trường luôn phản ứng tốt khi thanh khoản dồi dào và lãi suất thấp. Từ đây đến cuối năm, chính phủ sẽ có nhiều bước đi vững chắc trong chính sách chung để tái cấu trúc nền kinh tế, ví dụ như cải tổ hệ thống ngân hàng thương mại, xử lý nợ xấu và sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước. Thị trường vàng và thị trường hoại hối đều được kiểm soát hiệu quả.

Nếu không có biến động nào lớn, các kênh đầu tư thay thế này sẽ ít hấp dẫn hơn và do đó, sẽ ngày càng nhiều nhà đầu tư hướng đến thị trường vốn. Từ đầu năm đến nay, nhà đầu tư nước ngoài đã có vai trò quan trọng giúp thị trường tăng trưởng, trong thời gian tới, dự kiến họ sẽ là nguồn lực thúc đẩy thị trường lên cao hơn nữa.

Hiện nay, nhà đầu tư nước ngoài có tác động khá lớn đến thị trường chứng khoán, trong khi ảnh hưởng của nhà đầu tư nội đang giảm sút, theo ông đâu là nguyên nhân của vấn đề này?

Nhà đầu tư nước ngoài luôn tìm kiếm tỉ lệ lợi nhuận tốt sau khi đã hiệu chỉnh theo rủi ro. Gần đây, thị trường Việt Nam được nhiều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm vì họ tin rằng khi chính phủ từng bước thực hiện các chính sách bình ổn và hỗ trợ tăng trưởng, thị trường chứng khoán cũng theo đó mà mang lại nhiều lợi nhuận. Nhưng quan trọng hơn cả, nhà đầu tư nước ngoài nhìn nhận rằng giá cổ phiếu ở Việt Nam rẻ hơn tương đối so với các thị trường khác ở Đông Nam Á.

Chúng tôi cũng tin rằng vì chi phí vốn ở nước ngoài không cao bằng tại VN, nhưng tỉ lệ lợi nhuận lại thấp hơn nhiều nên nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là những cổ phiếu có cổ tức cao và ổn định. Mặt khác, theo quan sát của VinaCapital, Nhật Bản đang nới lỏng các chính sách tiền tệ, thúc đẩy nguồn cầu và lạm phát. Điều này sẽ khiến giá đồng Yên giảm đi tương đối so với USD và VNĐ, do đó sẽ ngày càng nhiều nhà đầu tư Nhật Bản có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài, trong đó có thị trường Việt Nam.

Về hoạt động của Vinacapital, ông có thể chia sẻ đôi điều về kế hoạch của công ty trong thời gian tới?

Chiến lược của VinaCapital là tiếp tục đầu tư vào Việt Nam. Chúng tôi đã có những tài sản có giá trị cao trong danh mục đầu tư, hiện giờ là thời điểm thích hợp để thoái vốn khỏi những tài sản như thế, giúp nhà đầu tư của chúng tôi thấy rằng đầu tư vào Việt Nam là rất khả quan. Đồng thời, chúng tôi sẽ dùng khoản lợi nhuận thu được để tái đầu tư vào các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Được biết, VinaWealth có kể lập quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vào nửa cuối năm 2013. Ông có thể nói thêm về kế hoạch này?

Từ sự thành công của quỹ đầu tư trái phiếu bảo thịnh VinaWeallth, VinaWealth dự kiến sẽ đưa ra thị trường thêm hai quỹ mở nữa đầu tư vào cổ phiếu, quỹ cân bằng hoặc quỹ thị trường tiền tệ trong nửa đầu năm 2013, qua đó làm tăng tính đa dạng trong chuỗi sản phẩm của công ty.

Ngoài ra, chúng tôi cũng đang cân nhắc tiềm năng của loại hình quỹ REIT hay ETF để cho ra mắt vào nửa cuối năm. Tuy vậy, tất cả những sản phẩm này đều còn khá mới mẻ, nên quyết định cho ra mắt các quỹ trên sẽ tùy thuộc vào quy định pháp lý, đánh giá về triển vọng, cơ hội thị trường, nhu cầu đa dạng hóa danh mục tùy theo yêu cầu của nhà đầu tư, cũng như cân nhắc thời điểm nào là thích hợp nhất.

Minh Hằng thực hiện (Vietstock)

ffn

Cả hai chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đều đóng vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong mục tiêu ổn định vĩ mô, tạo tiền đề cho công cuộc tái cơ cấu nền kinh ...

Cả hai chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đều đóng vai trò trọng yếu đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong mục tiêu ổn định vĩ mô, tạo tiền đề cho công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế. Việc nâng cao hiệu quả của cơ chế phối hợp giữa hai chính sách nói trên là nhiệm vụ quan trọng giúp cho các chính sách điều hành của Nhà nước đạt hiệu quả cao, giảm những tổn thất không cần thiết...

Cơ sở và điều kiện phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ

Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) là hai chính sách quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô. Mặc dù CSTK và CSTT sử dụng hệ thống các công cụ khác nhau, cơ chế truyền tải cũng khác nhau nhưng mục tiêu cuối cùng cả hai chính sách đều hướng đến là ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế bền vững nên các mục tiêu kinh tế vĩ mô chính là cơ sở để thực hiện phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ. Không chỉ cùng hướng đến mục tiêu chung, giữa CSTK và CSTT còn có mối quan hệ gắn bó qua lại với nhau.

Do CSTK mở rộng (hay thắt chặt) có xu hướng gắn liền với tăng (giảm) thâm hụt ngân sách nên phương thức tài trợ thâm hụt ngân sách sẽ tác động đến việc thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ của CSTT. Ngược lại, hiệu quả của CSTK ở một chừng mực nhất định cũng phụ thuộc vào việc kết quả điều hành CSTT. Chẳng hạn, khi thực hiện CSTT thắt chặt có thể sẽ làm cho đầu tư giảm, kéo theo đó là nguồn thu ngân sách cũng có thể giảm do giảm khả năng thu thuế.

Như vậy, trong quá trình thực thi, chính sách này sẽ tác động đến chính sách kia và ngược lại, nếu thiếu sự phối hợp, các chính sách có thể gây hậu quả xấu cho nhau và cho nền kinh tế. Sự phối hợp chính sách trong trường hợp này sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực qua lại giữa các chính sách, gia tăng tác động tích cực của chính sách đối với nền kinh tế.

Thông thường, khi nền kinh tế có biểu hiện suy thoái, thiếu hụt về tổng cầu thì Chính phủ có thể áp dụng CSTK mở rộng thông qua giảm thuế và tăng quy mô chi tiêu ngân sách kết hợp với CSTT mở rộng, cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm. Ngược lại, khi nền kinh tế có dấu hiệu của lạm phát cao, tác động tiêu cực đến các hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của người dân thì Chính phủ có thể sử dụng CSTK thắt chặt bằng cách giảm chi ngân sách, giảm vay nợ và tăng thuế đồng thời sử dụng CSTT thắt chặt làm giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế.

Kinh nghiệm các nước cho thấy, để đạt được hiệu quả phối hợp tài khóa - tiền tệ trong điều tiết kinh tế vĩ mô, cần phải:

Thứ nhất, xác định được các mục tiêu tài chính - tiền tệ; đảm bảo tính nhất quán trong việc phối hợp và thực thi nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Thứ hai, phối hợp CSTK và CSTT phải được sử dụng trong sự phối hợp với các chính sách khác, đặc biệt là các biện pháp giám sát vĩ mô thận trọng nhằm quản lý dòng vốn, tạo sự ổn định tài chính. Sự kết hợp phong phú hơn các công cụ chính sách sẽ đem lại ổn định kinh tế, tài chính bền vững hơn là các chính sách đơn phương.

Thứ ba, việc phối hợp chính sách đòi hỏi phải có những sự trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành có liên quan trong việc xây dựng chính sách, đặc biệt là sự phối hợp giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Trung ương. Đồng thời, chất lượng công tác dự báo kinh tế - tài chính vĩ mô có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc xây dựng mục tiêu và kế hoạch phối hợp CSTK và CSTT.

Thứ tư, cơ chế phối hợp thực hiện chính sách tài khóa - tiền tệ thường thông qua các ủy ban, cơ quan chính thức hoặc không chính thức: Thành viên của các cơ quan phối hợp này bao gồm các đại diện của Bộ Tài chính, Kho bạc, cơ quan quản lý nợ và Ngân hàng Trung ương. Các ủy ban, cơ quan phối hợp này thường tổ chức họp định kỳ để chia sẻ thông tin liên quan đến những yêu cầu tài trợ của Chính phủ, thảo luận và và phân tích kết quả cân đối ngân sách, giám sát thanh khoản và sự phát triển của thị trường; xây dựng chiến lược để đạt được các mục tiêu về nợ công và quản lý tiền tệ. Các ủy ban phối hợp này là cầu nối để các thành viên Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương có thể hiểu về các mục tiêu và cách thức hoạt động của nhau cũng như tạo được sự đồng thuận trong cách quản lý nợ công và quản lý tiền tệ.

Phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ giai đoạn 2007-2013

Giai đoạn 2007-2013, do nền kinh tế đã hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu nên Việt Nam cũng chịu tác động bởi khủng hoảng kinh tế, tài chính thế giới 2008, 2009. Những diễn biến phức tạp của kinh tế trong nước và kinh tế thế giới khiến cho Việt Nam đứng trước nhiều bất ổn về kinh tế vĩ mô. Trước thực tế đó, các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là 2 chính sách tài khóa và tiền tệ đòi hỏi phải được điều chỉnh và có sự phối hợp chặt chẽ hơn nhằm ổn định nền kinh tế và duy trì tăng trưởng.

Để tăng cường công tác phối hợp giữa hai cơ quan hoạch định chính sách tài khóa - tiền tệ, ngày 29/2/2012, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ký kết quy chế phối hợp công tác và trao đổi thông tin. Theo đó, bản ký kết bao gồm 5 nội dung chính:

- Phối hợp xây dựng và điều hành CSTK, CSTT, trong đó tập trung vào: Xây dựng và điều hành CSTK, CSTT; Quản lý ngân quỹ của Chính phủ và phát triển hệ thống thanh toán; Quản lý nợ quốc gia và quản lý vốn ODA.

- Phối hợp trong việc phát triển các thị trường tài chính (tín dụng, tiền tệ, chứng khoán, trái phiếu) và công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các thị trường này, nhằm đảm đảm bảo tính liên thông và phát triển an toàn, bền vững.

- Phối hợp trong việc quản lý thuế, hải quan; trong đó hai bên chủ động trao đổi, chia sẻ thông tin trong việc xây dựng và ban hành các chính sách, biện pháp và thực hiện công tác quản lý, giám sát liên quan đến thu thuế, hải quan qua hệ thống ngân hàng; hoạt động xuất nhập khẩu vàng, bạc, đá quý và công tác phòng chống buôn lậu, rửa tiền.

- Phối hợp trong lĩnh vực hợp tác quốc tế thông qua việc chia sẻ thông tin và thống nhất quan điểm khi tham gia các diễn đàn, sáng kiến hợp tác song phương và đa phương về tài chính, tiền tệ.

- Phối hợp trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ, đảm bảo phù hợp với nhu cầu của hai cơ quan.

5 nội dung phối hợp nêu trên cho thấy hai cơ quan hoạch định chính sách tài khóa - tiền tệ sẽ phối hợp chặt chẽ với nhau trong hầu hết mọi lĩnh vực có liên quan của hai chính sách.

Mặc dù còn nhiều khó khăn song phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ trong giai đoạn 2007-2013 đã đạt được những thành công nhất định như ngăn chặn đà suy giảm kinh tế, kiềm chế lạm phát, duy trì mức tăng trưởng hợp lý… Kết quả của phối hợp còn thể hiện rõ nét qua việc Chính phủ nỗ lực hạ mặt bằng lãi suất và áp dụng các biện pháp hoãn, miễn, giảm thuế nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong bối cảnh tổng cầu trong nước và cầu xuất khẩu suy giảm như hiện nay.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ thời gian vừa qua còn có những điểm hạn chế:

Vào những thời điểm nền kinh tế phải đối mặt với lạm phát, mặc dù CSTK và CSTT đều đã được thực hiện theo hướng thắt chặt, trong đó hầu hết các công cụ của CSTT đều đã được sử dụng, tuy nhiên việc kiềm chế lạm phát vẫn chưa thành công. Năm 2008, lạm phát lên đến 19,89%; năm 2010 là 11,75% và năm 2011 là 18,13%.

Sự phối hợp trong việc trao đổi thông tin điều hành, trong việc xây dựng, ra quyết định và thực thi chính sách cũng ảnh hưởng đến quá trình phối hợp chính sách. Bên cạnh đó, thời gian báo cáo, tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của các báo cáo, số liệu... đang là những khó khăn đối với các bộ, ngành trong công tác phân tích, dự báo. Công tác tuyên truyền, công bố thông tin, ví dụ như thông tin về lạm phát, quản lý giá cả các mặt hàng chủ đạo, lộ trình tăng giá của các mặt hàng, thông tin về điều hành và thực thi chính sách… đôi khi làm ảnh hưởng đến tâm lý kỳ vọng lạm phát.

Việc xây dựng và thực thi chính sách của các bộ, ngành thường được đưa ra khá độc lập, và đôi khi thời điểm ban hành chính sách cũng có độ trễ giữa các cơ quan; tính nhất quán trong việc thực thi chính sách cũng ảnh hưởng không ít đến hiệu quả của sự phối hợp.

Một số kiến nghị

Thứ nhất, xác định mục tiêu, trọng tâm phối hợp chính sách trong điều tiết kinh tế vĩ mô là một vấn đề tương đối rộng, vì vậy trong mỗi giai đoạn, việc xác định trọng tâm phối hợp là điều hết sức cần thiết, đồng thời sự phối hợp cần phải được xem xét trong tương quan với các mục tiêu dài hạn của nền kinh tế. Trong giai đoạn tới, đối với CSTT, NHNN phải kiên trì theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát nhằm tạo sự ổn định vĩ mô cho phát triển kinh tế. Đối với CSTK, vấn đề kiểm soát chi tiêu công, nâng cao hiệu quả đầu tư công là những vấn đề cần phải được quan tâm chặt chẽ hơn nữa.

Thứ hai, tăng cường trao đổi thông tin giữa các bộ, ngành để có cơ sở xây dựng và thực thi chính sách một cách có hiệu quả. Xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ các số liệu, thông tin liên quan... nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu tốt có thể dùng chung cho các bộ, ngành trong việc xây dựng và dự báo các vấn đề phục vụ điều tiết kinh tế vĩ mô, từ đó mới có thể đưa ra các quyết định chính sách phù hợp, kịp thời.

Thứ ba, xây dựng kịch bản phối hợp chính sách. Tùy vào từng bối cảnh cụ thể, trên cơ sở thực trạng nền kinh tế trong nước và thế giới cũng như các kết quả phân tích dự báo cần thiết phải xây dựng các kịch bản phối hợp chính sách để chủ động hơn trong việc ứng phó với những diễn biến kinh tế của thế giới và trong điều hành kinh tế vĩ mô.

Thứ tư, xác định liều lượng phối hợp chính sách. Cần phải có sự nghiên cứu trên cả 2 giác độ định lượng và định tính để phát huy tối đa hiệu quả của sự phối hợp chính sách.

Thứ năm, xác định thời điểm phối hợp, can thiệp chính sách. Mỗi chính sách mỗi giải pháp được đưa ra đều có độ trễ nhất định mới phát huy tác dụng, vậy khi nào cần can thiệp thị trường, khi nào cần thoái lui cũng là vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.

Thứ sáu, về phương pháp can thiệp, trong những điều kiện đặc biệt, việc sử dụng các công cụ hành chính đôi khi là cần thiết. Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ này trong một thời gian dài sẽ làm méo mó nền kinh tế. Mặt khác, việc thoái lui các loại công cụ hành chính cũng cần phải có một lộ trình phối hợp nhằm tránh tạo ra những tác động “đột ngột” đến nền kinh tế. Vì vậy, lựa chọn phương pháp can thiệp phù hợp cũng sẽ tác động đến sự thành công của phối hợp chính sách.

Ths. Nguyễn Thị Hải Thu - Viện chiến lược và chính sách tài chính

Tài Chính

Theo Đề án phát hành trái phiếu chính quyền địa phương do UBND TP. Hà Nội phát hành đang lấy ý kiến các cơ quan ban, ngành thì Hà Nội sẽ phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu trong giai đoạn 2013-2015.

Theo Đề án phát hành trái phiếu chính quyền địa phương do UBND TP. Hà Nội phát hành đang lấy ý kiến các cơ quan ban, ngành thì Hà Nội sẽ phát hành 5.000 tỷ đồng trái phiếu trong giai đoạn 2013-2015.

Hà Nội cần nguồn vốn lớn để đáp ứng nguồn chi cho đầu tư phát triển.

Cụ thể, năm 2013 sẽ phát hành 2000 tỷ đồng, năm 2014 và 2015 mỗi năm phát hành 1.500 tỷ đồng. Mệnh giá trái phiếu là 100.000 đồng và thời hạn là 5 năm.

Mục tiêu của Đề án phát hành trái phiếu chính quyền địa phương của Hà Nội nhằm mục đích huy động vốn đầu tư cho phát triển KT-XH. Cụ thể số tiền huy động sẽ phân bổ cho các công trình giao thông trọng điểm để kịp hoàn thành tiến độ như: Đường vành đai 1 đoạn Ô Đống Mác - Nguyễn Khoái, đoạn Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu, đường vành đai 2 đoạn Ngã Tư Sở - Ngã Tư Vọng, đường 5 kéo dài và 2 dự án thuộc lĩnh vực y tế để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Thủ Đô.

Trước đó, năm 2005, Hà Nội đã thực hiện phát hành trái phiếu xây dựng Thủ đô cho công trình này, với số tiền huy động 1.000 tỷ đồng để đầu tư vào dự án cầu Vĩnh Tuy. Kết quả, đã huy động được 1.092 tỷ đồng (tỷ lệ thành công trên cả mức dự kiến).

Đến năm 2006, Hà Nội đã tổ chức đấu thầu 500 tỷ đồng trái phiếu để đầu tư dự án đường 5 kéo dài. Kết quả, số tiền trái phiếu đầu tư vào các dự án này đều phát huy hiệu quả, dự án hoàn thành đúng tiến độ và đưa vào sử dụng đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của thành phố.

Thu Hằng

hải Quan

Sau chuyến làm việc tại Hà Nội và gặp gỡ một số cơ quan nhà nước, trong đó có Bộ Tài chính, NHNN và Tổng cục thống kê, CTCK Bản Việt (VCSC) cho rằng nền kinh tế vẫn còn đang gặp khó khăn với giá trị ...

Sau chuyến làm việc tại Hà Nội và gặp gỡ một số cơ quan nhà nước, trong đó có Bộ Tài chính, NHNN và Tổng cục thống kê, CTCK Bản Việt (VCSC) cho rằng nền kinh tế vẫn còn đang gặp khó khăn với giá trị sản xuất chỉ tăng nhẹ trở lại và tiêu dùng vẫn còn yếu. Các ngân hàng dư vốn để cho vay nhưng lại ngại giải ngân trong khi các doanh nghiệp tốt cũng không muốn vay. Lạm phát chi phí đẩy vẫn còn tiềm ẩn do nhiều tỉnh thành vẫn chưa điều chỉnh giá dịch vụ y tế.

Trong báo cáo phân tích mới nhất này, VCSC đã điều chỉnh dự báo mức tăng CPI năm 2012 từ 6-7% lên 7-8% do các chính sách nới lỏng nhanh chóng của Chính phủ. Ngoài ra, có 10-15 tỉnh thành, trong đó có Hà Nội và TPHCM, vẫn chưa điều chỉnh giá dịch vụ y tế nên sẽ tiếp tục ảnh hưởng đáng kể lên CPI. Hơn nữa, giá điện sẽ được điều chỉnh 7%, và Chính phủ dự kiến sẽ thực hiện điều này trong thời gian ngắn.

Về sản xuất, VCSC cho biết đã có cải thiện đôi chút so với năm ngoái nhưng không đáng kể. Các hoạt động sản xuất vẫn yếu do triển vọng kinh tế không mấy lạc quan và khó khăn trong việc vay vốn.

Về tình hoạt động bán lẻ tiếp tục thấp trong hai tháng đầu năm do thu nhập cá nhân giảm đáng kể trong năm 2012. Tuy nhiên, các chuyên gia này kỳ vọng việc nâng ngưỡng khởi điểm chịu thuế TNCN sẽ giúp kích thích tiêu dùng trong 6 tháng cuối năm.

Về tăng trưởng GDP quý 1/2013, VCSC dự báo sẽ tốt hơn một chút so với cùng kỳ năm ngoái nhưng chênh lệch không nhiều. Tăng trưởng GDP cải thiện là nhờ cán cân thương mại thặng dư lớn hơn, nhưng tiêu dùng và sản xuất không mấy cải thiện.

Đặc biệt, sau cuộc gặp với Ngân hàng Nhà nước, VCSC cho biết, NHNN sẽ tiếp tục áp dụng các chính sách tiền tệ thận trọng. Tuy nhiên, NHNN sẽ cố gắng đưa lãi suất về mức hợp lý để hỗ trợ các doanh nghiệp và giúp nền kinh tế phục hồi. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng là 12% và mục tiêu tăng trưởng tiền gửi từ 14-16%. Cũng theo VCSC, NHNN sẽ khuyến khích cho vay cho các lĩnh vực sản xuất như nông nghiệp, kỹ thuật cao, và các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu.

Đáng chú ý VCSC cho biết là đồng nội tệ sẽ không bị phá giá. Và rằng những động thái ngắn hạn sẽ không tác động đến quyết định của NHNN. Cơ quan này mong muốn tỷ giá hối đoái ổn định để giảm tình trạng đô la hóa. NHNN vẫn còn dư thừa dự trữ ngoại hối để can thiệp vào thị trường bất cứ lúc nào.Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái vẫn dao động trong phạm vi 1%, vì vậy NHNN chưa cần thiết phải can thiệp. Tỷ giá hối đoái tăng mạnh trong thời gian gần đây là do một số ngân hàng cố gắng phục hồi trạng thái bán khống USD. Trước đây nhiều ngân hàng này bán USD để lấy nguồn vốn chi phí rẻ cho các khoản vay bằng tiền đồng.

Về thị trường vàng, NHNN vẫn lên kế hoạch thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới. Tuy nhiên, cơ quan này chưa đưa ra được thời gian cụ thể cho việc giảm chênh lệch do còn rất nhiều thử thách từ dự trữ vàng và lực cầu mạnh của nhà đầu tư trong nước.

Về trái phiếu Chính phủ, các chuyên gia của VCSC cũng cho biết, Chính phủ sẽ huy động ít nhất 150,000 tỷ đồng trong năm nay bằng việc phát hành trái phiếu và tín phiếu kho bạc, cao hơn kế hoạch 120,000 tỷ đồng năm 2012. Giá trị nợ phát hành theo kế hoạch tăng là do thâm hụt ngân sách và khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn nước ngoài. Tuy nhiên, sẽ có 75,000 tỷ đồng trái phiếu kho bạc đáo hạn, nợ công sẽ chỉ tăng ròng khoảng 75,000 tỷ đồng (hay 3 tỷ USD), tương đương 1.5-2% GDP.

Thủy Tiên (Vietstock)

FFN

Ngày 7/3, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố một báo cáo đánh giá về triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2013 và những khuyến nghị chính sách cho giai đoạn trung hạn 2013-2015 với một loạt nhận ...

Ngày 7/3, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội công bố một báo cáo đánh giá về triển vọng kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2013 và những khuyến nghị chính sách cho giai đoạn trung hạn 2013-2015 với một loạt nhận định đáng chú ý.

Ủy ban Kinh tế cho rằng nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn ngày một hiện hữu: tăng trưởng suy giảm có tác động làm gia tăng nợ xấu và đến lượt mình, nợ xấu gia tăng sẽ làm tắc nghẽn dòng tín dụng nuôi dưỡng nền kinh tế thực và qua đó sẽ có tác động làm tăng trưởng tiếp tục suy giảm

Nhìn lại mức tăng trưởng 5,03% của năm 2012, mức thấp nhất trong vòng hơn một thập niên qua, Ủy ban Kinh tế cho rằng nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ rơi vào vòng luẩn quẩn ngày một hiện hữu: tăng trưởng suy giảm có tác động làm gia tăng nợ xấu và đến lượt mình, nợ xấu gia tăng sẽ làm tắc nghẽn dòng tín dụng nuôi dưỡng nền kinh tế thực và qua đó sẽ có tác động làm tăng trưởng tiếp tục suy giảm.

“Chi phí đánh đổi” ngày càng cao

Qua phân tích số liệu, Ủy ban Kinh tế nhận định rằng có sự suy giảm nhất định của “tăng trưởng kinh tế tiềm năng” giai đoạn 2008-2012, tạo nên ràng buộc ngày càng chặt chẽ hơn đối với khả năng đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Nếu muốn tăng trưởng cao hơn mức tiềm năng thì cái giá phải trả sẽ cao hơn, hay nói một cách khác là chi phí đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2008-2012.

Trước xu hướng như vậy, Ủy ban Kinh tế đánh giá cao việc Chính phủ điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế xuống mức hợp lý hơn cũng góp một phần giúp hạ thấp đáng kể mức lạm phát thực tế trong chu kỳ kinh doanh, đồng thời, với những tuyên bố công khai của Chính phủ về nỗ lực cam kết chống lạm phát và đặt ưu tiên hàng đầu mục tiêu ổn định vĩ mô từ đầu năm 2012, đã làm lạm phát kỳ vọng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp cũng đã có xu hướng giảm tốc rõ rệt.

Tuy nhiên, theo ủy ban này, rủi ro lớn nhất của nền kinh tế năm 2013 là lạm phát vẫn còn tiềm ẩn, có liên quan đến một số chính sách. Chẳng hạn như lương tối thiểu tăng kể từ ngày 1/1/2013, mức lương tối thiểu theo 4 vùng sẽ tăng theo Nghị định 103/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

Mức lương tối thiểu tăng một mặt nâng cao thu nhập người dân, làm tăng nhu cầu tiêu dùng; tuy nhiên trong bối cảnh nền kinh tế suy giảm, tiền lương tăng sẽ như một cú sốc tiêu cực tác động lên các doanh nghiệp. Cho dù có tác động lên mặt cầu hay mặt cung, và dù mức tăng không nhiều song tăng lương sẽ tạo áp lực tăng giá, do có thể gây ra lạm phát tâm lý.

Tăng giá điện mặc dù chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong chi phí của hoạt động sản xuất và trong chi phí sinh hoạt của người dân, nhưng tác động nhiều vòng của việc tăng giá điện đến lạm phát và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có thể là không nhỏ, chưa nói đến tác động tâm lý... Vì vậy, Ủy ban Kinh tế nhận định “chỉ tiêu kiềm chế lạm phát năm 2013 khoảng 8% là một mục tiêu khá tham vọng”.

Cần tiếp tục giảm thuế và phí

Về những khuyến nghị chính sách cho năm 2013, theo Ủy ban Kinh tế, giải quyết nợ xấu hiện đang là một trong những điểm nóng chính sách lớn của năm 2013, bên cạnh những giải pháp thông dụng, cần phải có các giải pháp đặc thù đối với từng ngành hay nhóm doanh nghiệp hiện chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ xấu.

Ưu tiên hàng đầu trong giải quyết nợ xấu, Ủy ban Kinh tế cho rằng phải hướng đến ngành thủy sản, bởi vì đây là ngành của Việt Nam được thừa nhận rộng rãi là có lợi thế so sánh và khả năng cạnh tranh quốc tế. Ngành này cũng có tầm quan trọng đặc biệt đối với phát triển nông thôn, và chi phí để giải quyết nợ xấu không quá lớn.

Có thể chỉ cần có cơ chế khuyến khích phù hợp là có thể giúp cho ngành chế biến thuỷ sản thực hiện hiệu quả quá trình sàng lọc và tái cơ cấu như cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp; tăng hạn mức tín dụng, giảm lãi suất, điều chỉnh kỳ hạn; tiếp tục cho vay bằng ngoại tệ để giảm chi phí vốn; mua lại nợ cho doanh nghiệp kết hợp với việc giám sát dòng tiền, bảo đảm sử dụng đồng tiền đúng mục đích, không đầu tư ngoài ngành.

Đối với nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản, cần có những thông điệp rõ ràng hơn. Đối với lĩnh vực năng lượng, các giải pháp để giải quyết nợ xấu đối với ngành điện cần áp dụng bao gồm tái cơ cấu mạnh mẽ đối với EVN, xóa bỏ đầu tư ngoài ngành...

Một số khuyến nghị chính sách khác là tiếp tục xem xét hoãn và tiến đến miễn giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), nhất là với các mặt hàng có mức độ tồn kho lớn và có tỷ lệ sản xuất nội địa cao: Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế cũng khuyến cáo giải pháp này cần tính toán kỹ để chọn chính xác danh mục các mặt hàng và mức độ miễn/giảm thuế VAT phù hợp cho từng loại, để tránh “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập, hay “kích cầu hộ nước ngoài”.

Khuyến nghị chính sách cho giai đoạn 2013-2015, Ủy ban Kinh tế nhắc lại yêu cầu xem xét khả năng tiếp tục giảm thuế và phí đối với người dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho khu vực tư nhân có khả năng tăng tiết kiệm, góp phần cho sự phát triển nền kinh tế một cách bền vững trong trung và dài hạn.

Ủy ban này còn nhấn mạnh về việc tăng cường chi cho an sinh xã hội, đặc biệt là đối với người nghèo, tăng cường hỗ trợ tạo việc làm ở khu vực kinh tế phi chính thức.

Giải pháp này vừa bảo đảm mục tiêu công bằng và tăng trưởng có lợi cho người nghèo; vừa bảo đảm hiệu quả vì người nghèo và người thu nhập thấp thường có xu hướng chi tiêu cho tiêu dùng các hàng hóa nội địa, qua đó giúp ngăn chặn bớt đà thu hẹp sức mua của thị trường trong nước và góp phần giảm bớt lượng tồn kho của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giải pháp này cần tăng cường sự giám sát của người dân và xã hội để tránh “rò rỉ” trong khâu thực hiện.

Lê Châu

tbktvn

“Cuộc điều tra mới nhất cho thấy các tổ chức tín dụng đã có những nhìn nhận thận trọng hơn đối với điều kiện kinh doanh chung của nền kinh tế cũng như hoạt động kinh doanh của đơn vị trong năm 2013 ...

“Cuộc điều tra mới nhất cho thấy các tổ chức tín dụng đã có những nhìn nhận thận trọng hơn đối với điều kiện kinh doanh chung của nền kinh tế cũng như hoạt động kinh doanh của đơn vị trong năm 2013 và hy vọng vào sự cải thiện dần dần hơn là những thay đổi mang tính đột phá”, Vụ Dự báo - thống kê tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) nhận xét trong bản báo cáo vừa hoàn thành về kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

Phần lớn các ngân hàng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế năm 2013 tăng so với năm 2012, trong đó mức tăng được kỳ vọng nhiều nhất là dưới 20%.

Từ quý 4/2011, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu tiến hành điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam theo định kỳ 6 tháng một lần. Kết quả điều tra nhằm đưa ra những nhận định, dự báo về các xu hướng đã và có thể diễn ra; đặc biệt phát hiện những thay đổi chu kỳ kinh doanh sớm hơn các số liệu thống kê chính thức, phục vụ mục đích xây dựng chính sách tiền tệ và quản lý hoạt động ngân hàng.

Kỳ vọng cải thiện lợi nhuận

Cuộc điều tra vào tháng 6/2012 cho thấy, mới có 20% tổ chức tín dụng nhận định rằng điều kiện kinh doanh 6 tháng cuối năm 2012 có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt kinh doanh của họ.

Tuy nhiên, tại cuộc điều tra vào tháng 12/2012, khi nhìn lại thực trạng 6 tháng cuối năm 2012, đã có đến 60% tổ chức tín dụng nhận định lại rằng, môi trường kinh doanh chung đã ảnh hưởng tiêu cực và rất tiêu cực tới hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

Nhận thấy được khoảng cách lớn giữa kỳ vọng và thực tế, các tổ chức tín dụng đã tỏ ra thận trọng hơn khi đánh giá về môi trường kinh doanh chung của nền kinh tế trong năm 2013.

Cụ thể, chỉ có 17% tổ chức tín dụng cho rằng môi trường kinh doanh chung của nền kinh tế tác động thuận lợi đối với hoạt động kinh doanh của họ trong 6 tháng đầu năm 2013. Cho dù, các tổ chức tín dụng cũng kỳ vọng tình hình sẽ được cải thiện hơn nếu nhìn vào cả năm 2013 so với năm 2012 (36% tổ chức tín dụng cho rằng môi trường kinh tế chung sẽ tác động thuận lợi hơn đối với hoạt động kinh doanh của họ).

Hơn nữa, mặc dù cho rằng điều kiện kinh tế vĩ mô tiếp tục có những ảnh hưởng bất lợi, nhưng trên 90% tổ chức tín dụng vẫn kỳ vọng triển vọng kinh doanh của họ trong năm 2013 không kém hơn năm 2012; trong đó, 50% dự kiến cải thiện hơn.

Qua đó, phần lớn tổ chức tín dụng (78%) kỳ vọng lợi nhuận trước thuế của năm 2013 tăng so với năm 2012, trong đó mức tăng được kỳ vọng nhiều nhất là dưới 20% - một con số được coi là rất khiêm tốn so với lợi nhuận thực tế của họ trong giai đoạn năm 2010 trở về trước.

Chờ lãi suất giảm tiếp

“Điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý” được các tổ chức tín dụng đánh giá là nguyên nhân quan trọng nhất tác động tới diễn biến lạm phát năm 2013. Các nguyên nhân xếp sau là “thay đổi chính sách tiền tệ”, “thay đổi chính sách tài khóa”…

Như vậy, theo các tổ chức tín dụng, nỗ lực kiềm chế lạm phát trong năm 2013 phụ thuộc lớn vào việc ổn định giá các mặt hàng do nhà nước quản lý. Tuy nhiên, cuộc điều tra cũng ghi nhận 89% tổ chức tín dụng kỳ vọng CPI năm 2013 sẽ tăng ở mức một con số; trong đó, mức tăng được kỳ vọng nhiều nhất là từ 5% đến dưới 10% (gần 70% lựa chọn).

Với việc kỳ vọng CPI tăng hợp lý ở mức một con số, các tổ chức tín dụng tin tưởng điều đó tạo động lực cho việc giảm mặt bằng lãi suất của cả huy động vốn và cho vay VND. Theo đó, hầu hết tổ chức tín dụng kỳ vọng lãi suất huy động vốn và cho vay VND giảm, trong đó mức giảm được kỳ vọng nhiều nhất là không quá 2% (gần 70% lựa chọn).

Tỷ giá USD/VND bình quân liên ngân hàng trong năm 2013 được các tổ chức tín dụng kỳ vọng ổn định hoặc chỉ tăng nhẹ, trong đó phần lớn họ kỳ vọng chỉ tăng từ 1% đến dưới 3%.

Mức độ rủi ro không giảm

Nếu như kết quả điều tra thực hiện vào tháng 6/2012 cho thấy, “điều kiện kinh doanh và tài chính của khách hàng” là nhân tố tác động lớn nhất đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, thì cuộc điều tra gần nhất ghi nhận đây vẫn là một trong những nhân tố tác động lớn nhất đến hoạt động kinh doanh của họ.

Đáng chú ý là có tới 85% tổ chức tín dụng dự kiến mức độ rủi ro của các nhóm khách hàng không giảm trong 6 tháng đầu năm 2013.

Về dư nợ tín dụng cho nền kinh tế, hầu hết các tổ chức tín dụng dự báo tăng trưởng tín dụng năm 2013 sẽ được cải thiện hơn so với con số 8,91% của năm 2012. Mức tăng được kỳ vọng nhiều nhất từ 10% đến dưới 20%. Huy động vốn được kỳ vọng tăng trưởng phù hợp với tăng trưởng tín dụng nhưng kỳ vọng tăng trưởng huy động vốn bằng VND cao hơn nhiều so với ngoại tệ.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng dự kiến tiếp tục tập trung vốn cho các lĩnh vực, ngành quan trọng nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển (nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp phụ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa) và hạn chế cấp tín dụng để đầu tư kinh doanh bất động sản và kinh doanh chứng khoán.

“Thông qua cuộc điều tra này, các tổ chức tín dụng hy vọng trong năm 2013, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục cắt giảm lãi suất ở mức hợp lý phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát; xử lý nghiêm các tổ chức tín dụng vi phạm quy định về trần lãi suất… tạo môi trường lành mạnh cho hoạt động kinh doanh tiền tệ”, Vụ Dự báo - thống kê tiền tệ kết luận.

Thùy Duyên

tbktvn

Hai tháng đầu năm, Việt Nam tiếp tục xuất siêu 1,68 tỷ USD. Với những diễn biến như hiện nay, Bộ Công Thương dự báo trong năm 2013, Việt Nam vẫn có thể xuất siêu.

Hai tháng đầu năm, Việt Nam tiếp tục xuất siêu 1,68 tỷ USD. Với những diễn biến như hiện nay, Bộ Công Thương dự báo trong năm 2013, Việt Nam vẫn có thể xuất siêu.

Xuất khẩu điện thoại đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu chung

Số liệu của Bộ Công Thương cho thấy, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 2 ước tính đạt 7,5 tỷ USD, giảm 34,6% so với tháng trước, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 6,6 tỷ USD, giảm 38,3% so với tháng trước. Như vậy, tháng 2 tiếp tục ghi nhận mức xuất siêu lên tới 900 triệu USD.

Luỹ kế hai tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ước đạt 18,97 tỷ USD, tăng 23,9% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu ước đạt gần 17,3 tỷ USD. Theo đó, mức xuất siêu liên tiếp trong 2 tháng đầu năm là gần 1,68 tỷ USD, bằng 8,8% tổng kim ngạch hàng hóa XK.

Về con số xuất siêu này, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định, một số ngành hàng như dệt may, da giày, điện tử, các mặt hàng nông sản (gạo, cà phê…) đang duy trì tiến độ tăng trưởng tốt. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng khác tăng trưởng như túi xách đã đóng góp lớn cho tốc độ tăng của xuất khẩu.

Mặt khác, nhập khẩu giảm ở hai nhóm hàng: Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu như đá quý, kim loại quý, phế liệu sắt thép, linh kiện ô tô giảm 18,8%; nhóm cần thiết nhập khẩu so với cùng kỳ vẫn tăng trưởng nhưng chậm hơn so với cùng kỳ năm ngoái. Nhập khẩu giảm góp phần “nới rộng” khoảng cách giữa nhập khẩu và xuất khẩu tạo ra xuất siêu.

Trả lời cho câu hỏi xuất siêu có bền vững hay không, theo ông Hải, nếu nhìn vào chi tiết có thể thấy rằng, xuất siêu chủ yếu từ doanh nghiệp FDI. Trong khi doanh nghiệp FDI xuất siêu (kể cả dầu thô) đạt 2,96 tỷ USD thì khối doanh nghiệp 100% vốn trong nước vẫn tiếp tục nhập siêu với gần 1,3 tỷ USD.

Hiện nay, đối với các doanh nghiệp FDI, nhiều mặt hàng linh kiện được đầu tư mạnh, đang có đà phát triển, nên khả năng khối doanh nghiệp này sẽ tiếp tục đóng góp cho kim ngạch xuất khẩu. Còn các doanh nghiệp 100% vốn trong nước, trong bối cảnh kinh doanh sản xuất khó khăn chung làm giảm tỷ trọng nhập siêu của khối này. Như vậy, trong năm 2013, Việt Nam vẫn có thể xuất siêu.

Tuy nhiên, khi kinh tế phục hồi, các doanh nghiệp trong nước có điều kiện phục hồi và tăng khả năng nhập khẩu, còn công suất của các doanh nghiệp FDI đạt “ngưỡng” thì khả năng xuất khẩu sẽ chững lại. Khi đó, rất có thể con số xuất siêu sẽ giảm đạt mức cân bằng cán cân thương mại hoặc trở lại nhập siêu.

Phan Thu

Hải Quan

Cuối tuần qua các phương tiện truyền thông phản ánh nhiều về Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng mới. Trước đó, một số nhà kinh tế cũng đề xuất Việt Nam nên chuyển đổi mô ...

Cuối tuần qua các phương tiện truyền thông phản ánh nhiều về Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng mới. Trước đó, một số nhà kinh tế cũng đề xuất Việt Nam nên chuyển đổi mô hình kinh tế, chú trọng ổn định vĩ mô thay vì tăng trưởng cao, như một chiến lược khắc phục hậu quả cho năm 2013 hoặc xa hơn nữa.

Thực tế mà nói đây không phải là một mô hình tăng trưởng mới, mà chỉ là một bước trung gian để khôi phục lại trạng thái cân bằng tài chính vĩ mô trước khi đạt tăng trưởng cao hơn sau này. Một sự thay đổi trong chiến lược phát triển phải liên quan đến một sự thay đổi trong vai trò tương đối của các yếu tố sản xuất khác nhau.

Chiến lược tăng trưởng hay được nói tới phụ thuộc vào ba yếu tố chính: vốn (K), lao động (L), và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Chiến lược khác nhau chỉ đơn giản là tập trung vào việc lựa chọn chính sách dựa trên các biến số về phía đầu vào.

 Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 vừa được Thủ tướng phê duyệt. Mục tiêu tổng thể của đề án là thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo lộ trình và bước đi phù hợp để đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Việt Nam được biết đến như một trường hợp phát triển theo hướng dựa nhiều vào vốn, đặc biệt là đầu tư công thông qua ngân sách cũng như vốn của các doanh nghiệp nhà nước. Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều chỉ trích nhắm tới sự hồi sinh của các tập đoàn kinh tế lớn cùng các doanh nghiệp nhà nước trong nhiều lĩnh vực, nhất là về tính hiệu quả của nền kinh tế khi ICOR tăng nhanh chóng lên 7-8 (trước đó là 3-4), cao hơn nhiều khi so sánh với các nền kinh tế khác trong khu vực. ICOR cao và gia tăng chỉ ra sự đóng góp còn thấp và suy giảm của TFP trong quá trình tăng trưởng.

Bài viết này bàn về mô hình tăng trưởng “mới” tập trung chủ yếu vào các chiến lược dẫn tới giảm vai trò của K, tăng cường vai trò của L, nhất là gia tăng vai trò của TFP.

Đáng chú ý nhất là sự suy giảm trong TFP do ưu đãi cho khu vực công như là “đầu tàu” của sự tăng trưởng, đã gây thiệt hại cho đóng góp của khu vực tư nhân. Khu vực tư nhân, mặc dù đóng góp khoảng 50% GDP và sử dụng gần 90% lực lượng lao động, chỉ được tiếp cận tín dụng một cách có giới hạn, trong sân chơi không bình đẳng khi so với doanh nghiệp nhà nước. Mô hình mang tính thiên vị này, trong sản xuất và đầu tư, gây ra hạn chế nghiêm trọng đối với hiệu quả kinh tế. Chúng cũng là nguyên nhân gây ra biến dạng nghiêm trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực phân bổ tín dụng tổng thể.

Nhằm cải thiện mạnh mẽ và lâu dài nhân tố TFP, nâng cao chất lượng giáo dục thường hay được đề cập nhằm cung cấp lao động có tay nghề, giúp nâng cao năng suất. Cả hai yếu tố này đều cần thời gian. Chúng chỉ xảy ra khi có sự cải cách cơ bản trong hệ thống giáo dục, để từ đó tác động tới nền kinh tế.

Chủ đề cần quan tâm hiện giờ cho “mô hình mới” là để ý đến khu vực kinh tế tư nhân, dùng chúng như là động lực chính để đưa Việt Nam ra khỏi giai đoạn trì trệ kinh tế hiện nay.

Nhiều năm qua, chiến lược phát triển thường dựa vào chính sách kích cầu mạnh bạo nhằm cổ vũ và duy trì các khoản đầu tư của Chính phủ và đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước. Kể từ năm 2007, chính sách này đã được đẩy mạnh hơn bởi các tập đoàn kinh tế quốc doanh lớn nhưng lại “thoát khỏi” sự giám sát và kiểm soát tài chính của các bộ chủ quản. Khi các doanh nghiệp nhà nước được dễ dàng tiếp cận tín dụng với lãi suất ưu đãi, chính sách tiền tệ được “gọt đẽo” để làm sao tạo ra tăng trưởng nhanh chóng của nguồn tiền với mở rộng tín dụng. Hậu quả là lạm phát tăng cao, lên tới hai con số và nền kinh tế đã phải trả giá.

Trong năm 2012, mặc dù tổng phương tiện thanh toán tăng trên 20%, tín dụng cho nền kinh tế chỉ tăng khoảng 9%. Hiện tượng nổi bật là nhiều doanh nghiệp - đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa - khó tiếp cận tín dụng ngân hàng. Nhiều biện pháp hành chính đã được áp dụng và còn tiếp tục cho thời gian trước mắt, hệ thống tín dụng bị bóp méo nghiêm trọng, trong khi lĩnh vực ngân hàng không còn có thể đóng vai tích cực để giúp TFP, như người ta thường thấy trong một nền kinh tế hiện đại. Nếu các công ty được coi như các tế bào trong cơ thể, khu vực ngân hàng đã không bơm được máu đến các tế bào.

TS. Phạm Đỗ Chí

TbKTSG

TS. Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn Chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng năm 2013 chắc chắn phải diễn ra một quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp hết sức ...

TS. Trần Du Lịch, Phó trưởng đoàn Chuyên trách Đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM, Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho rằng năm 2013 chắc chắn phải diễn ra một quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp hết sức nghiệp ngã. Cơ hội sẽ đến với doanh nghiệp khỏe, còn doanh nghiệp yếu sẽ chết.

TS. Trần Du Lịch

Tại buổi hội thảo Cơ hội và thách thức năm 2013 vừa được tổ chức tại TPHCM sáng 01/03, ông cũng nhấn mạnh, Chính sách của Nhà nước là hỗ trợ để thị trường tái cấu trúc chứ không bao cấp. Điều này đồng nghĩa với việc mở ra cơ hội cho doanh nghiệp có điều kiện, có cơ cấu tài chính tốt, còn những doanh nghiệp nào tăng trưởng chủ yếu dựa vào nợ sẽ khó hồi phục.

Khi nền kinh tế diễn ra quá trình tự điều chỉnh, thị phần sẽ được phân chia lại. Đây là cơ hội cho những doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị phần, tăng đầu tư với chi phí rẻ. Kinh nghiệm cho thấy sau mỗi cuộc khủng hoảng kinh tế, sau cái hoạ đều có cái phúc cho những người biết nắm được thời cơ. Ngay cả thị trường bất động sản, trong bối cảnh ảm đạm hiện nay cũng đang mở ra cái phúc như vậy.

Cũng tại hội thảo, ông Deepak Mishra, Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng, chính sách tiền tệ quá chặt không phải là nguyên nhân chính khiến kinh tế Việt Nam giảm sự phát triển mà nguyên nhân chính là quá trình tái cấu trúc hiện nay cùng với chính sách đầu tư công không hiệu quả.

Phương Châu (Vietstock)

FFN

Đó là nhận định của ông Trần Kim Chung, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn C.T Group, về tình hình thị trường bất động sản năm 2013 tại buổi họp mặt đầu năm 2013 của Hiệp hội Bất động sản TPHCM sáng 28-2.

Đó là nhận định của ông Trần Kim Chung, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn C.T Group, về tình hình thị trường bất động sản năm 2013 tại buổi họp mặt đầu năm 2013 của Hiệp hội Bất động sản TPHCM sáng 28-2.

Theo ông Chung, thị trường sẽ không có nhiều cải thiện, không có nhiều dấu hiệu để lạc quan.

Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TPHCM Lê Hoàng Châu kiến nghị Ngân hàng Nhà nước thực hiện ngay nguồn vốn hỗ trợ từ 20.000 tỉ đến 40.000 tỉ đồng cho người tiêu dùng vay. Theo đó, mỗi suất vay khoảng 500 - 600 triệu đồng với lãi suất ưu đãi khoảng 6%/năm trong thời hạn 20-30 năm. Tuy nhiên, đề xuất này chỉ dành cho người mua căn nhà đầu tiên (hoặc đang ở chật hẹp bình quân dưới 8 m2/người) khi mua căn hộ từ 70 m2 trở xuống và có giá bán tối đa 15 triệu đồng/m2.

N.Hoa

người lao động

Đã có ít nhất hai DN bảo hiểm nhân thọ nước ngoài xác nhận với ĐTCK về kế hoạch thành lập công ty quản lý quỹ trong năm 2013.

Đã có ít nhất hai DN bảo hiểm nhân thọ nước ngoài xác nhận với ĐTCK về kế hoạch thành lập công ty quản lý quỹ trong năm 2013.

Năm nay, AIA Việt Nam có kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 30 triệu USD

Tâm điểm của những bước chuyển động mới trong ngành bảo hiểm nhân thọ là Đề án thí điểm triển khai mô hình bảo hiểm hưu trí tự nguyện, đang được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính phối hợp với các bên tham gia xây dựng. Điều này không chỉ tạo bước ngoặt trong việc nâng cao tính đa dạng và bền vững cho hệ thống an sinh xã hội, mà còn mở ra cơ hội lớn cho cả ngành quản lý quỹ Việt Nam và các công ty bảo hiểm phát triển sôi động hơn trong tương lai gần.

Được biết, hiện nay các vấn đề liên quan đến việc triển khai Đề án thí điểm triển khai mô hình bảo hiểm hưu trí tự nguyện đang được liên bộ gấp rút triển khai để trình Chính phủ phê duyệt. Đây là cơ hội cho các công ty bảo hiểm cho ra đời những sản phẩm mới có liên quan. Cùng với việc triển khai đề án này thì việc các cơ quan chức năng đã hoàn tất quy định về việc thành lập quỹ mở cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn để các công ty bảo hiểm nhân thọ đẩy nhanh quá trình thành lập công ty quản lý quỹ của riêng mình.

Đã có ít nhất hai DN bảo hiểm nhân thọ nước ngoài xác nhận với ĐTCK về kế hoạch thành lập công ty quản lý quỹ trong năm 2013. Thực tế, việc thành lập công ty quản lý quỹ của các công ty bảo hiểm nhân thọ không chỉ do quy định về hoạt động của quỹ mở đã tương đối rõ ràng mà thời cơ thị trường cũng đã đến.

“Thời cơ sẽ tới và tới rất nhanh. Hy vọng, trong năm 2013, có thể là giữa năm nay, công ty sẽ cho ra mắt công ty quản lý quỹ”, CEO một DN bảo hiểm nhân thọ nước ngoài chia sẻ với ĐTCK. Trong khi đó, CEO một công ty bảo hiểm nhân thọ khác nói rằng, không phải một mà có thể sẽ là hai công ty quản lý quỹ của đơn vị này ra đời trong thời gian sớm nhất. Thực tế, việc thành lập công ty quản lý quỹ không khó với các công ty bảo hiểm nhân thọ, nhưng để huy động được nguồn tiền cho quỹ đi đầu tư thì mới khó. Bảo hiểm hưu trí tự nguyện và nguồn tiền thu được từ sản phẩm này là một trong những tiền đề quan trọng. Dự kiến, Đề án bảo hiểm hưu trí tự nguyện có thể thực hiện từ 1/7/2013, các DN bảo hiểm sẽ được triển khai có điều kiện và làm thí điểm từng bước một.

Một trong những điểm mới nữa được dự báo sẽ giúp cho thị trường bảo hiểm thêm sôi động trong năm 2013 là đối với phân khúc bảo hiểm nhóm. Năm 2012, các quy định về chi phí cho DN mua bảo hiểm cho nhân viên được gỡ bỏ. Dự kiến, trong năm 2013, quy định về thuế thu nhập cá nhân cho nhân viên được mua bảo hiểm cũng sẽ thay đổi theo hướng, nhân viên được công ty mua bảo hiểm chỉ bị đánh thuế khi nhận quyền lợi chi trả. Điều này cũng hứa hẹn mang lại nhiều thay đổi cho phân khúc bảo hiểm nhóm trong tương lai rất gần.

Còn nhiều dự báo cho rằng, có khả năng trong năm 2013, kinh tế Việt Nam vẫn đối mặt với tình trạng khó khăn tương tự như năm 2012. Và trong thời buổi kinh tế khó khăn, bảo hiểm nhân thọ có xu hướng trở nên ít được ưu tiên đối với nhiều người dân. Nhưng đối với các công ty bảo hiểm, khó khăn không có nghĩa là co cụm. Năm 2013, thị trường bảo hiểm hứa hẹn sự sôi động mới khi có thêm nhiều công ty bảo hiểm quyết định tăng vốn, mở rộng quy mô.

Được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, Generali Việt Nam đã tăng vốn điều lệ từ 720 tỷ đồng lên 800 tỷ đồng. Đây là đợt tăng vốn điều lệ lần thứ ba của Generali Việt Nam kể từ khi Công ty chính thức hoạt động tại Việt Nam vào tháng 4/2011. Bước vào năm 2013, Generali Việt Nam sẽ tiếp tục áp dụng mô hình chú trọng chất lượng hỗ trợ cho đội ngũ đại lý nhưng ở quy mô lớn hơn để xây dựng lợi thế cạnh tranh và phát triển bền vững. Công ty cũng đã có kế hoạch mở rộng hoạt động ra Hà Nội trong năm 2013. Được biết, năm 2013, AIA Việt Nam cũng có kế hoạch tăng vốn điều lệ thêm 30 triệu USD, nâng tổng số vốn đầu tư vào thị trường Việt Nam lên 100 triệu USD.

Thực tế, quy mô thị trường bảo hiểm Việt Nam hiện vẫn còn khá nhỏ bé, vì vậy, dù khó khăn nhưng trong tương lai, vẫn có nhiều cơ hội cho lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Những tập đoàn, công ty bảo hiểm có sản phẩm phong phú, phù hợp với nhu cầu của người dân vẫn sẽ phát triển tốt.

Ngọc Lan

Đầu Tư Chứng Khoán

Dù đã có những cải thiện rõ rệt trong từng quý nhưng xét tổng thể, kinh tế vĩ mô về cuối năm 2012 vẫn yếu kém. Theo các chuyên gia kinh tế, ngoài tác động khách quan từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế ...

Dù đã có những cải thiện rõ rệt trong từng quý nhưng xét tổng thể, kinh tế vĩ mô về cuối năm 2012 vẫn yếu kém. Theo các chuyên gia kinh tế, ngoài tác động khách quan từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới còn có nguyên nhân từ những yếu kém trong quản lý, điều hành nền kinh tế, chậm chạp trong tái cơ cấu...

Vì thế, trong nửa cuối năm 2012, khi dự đoán về tình hình kinh tế năm 2013, các chuyên gia đều không đưa ra được xu hướng cụ thể mà chỉ tóm gọn theo kiểu "xu thế của thị trường sẽ biến đổi và phụ thuộc vào các yếu tố như: tốc độ phục hồi kinh tế, giá bất động sản (BĐS), khả năng thay đổi chính sách tiền tệ, kết quả của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng (NH), nợ xấu...".

Tuy nhiên, với kinh nghiệm cùng những chia sẻ của những người tham gia điều hành thị trường tiền tệ nhiều năm, bạn đọc sẽ dễ dàng hình dung sơ lược về bức tranh thị trường vốn của Việt Nam sắp tới.

Ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó giám đốc NH Nhà nước Chi nhánh TP.HCM: Chính sách nới lỏng

- Năm 2013, nền kinh tế nói chung và hoạt động NH vẫn gặp nhiều khó khăn, chưa kể còn tiềm ẩn những yếu tố làm biến động và bất ổn nền kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước. Hội nghị triển khai nhiệm vụ kinh tế, xã hội TP.HCM năm 2013 đã xác định, năm 2013, các NH trên địa bàn sẽ tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với năm lĩnh vực được ưu tiên.

Kế hoạch tăng trưởng tín dụng năm 2013 của TP.HCM là 12%/năm. Dự kiến trong năm, các NH ở thành phố sẽ dành hơn 200.000 tỷ đồng để đảm bảo nhu cầu vốn cho sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp (DN).

Đặc biệt, trong năm 2013 sẽ mở rộng thêm đối tượng vay ngoại tệ. Nếu trong năm 2012 những DN cần thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ gửi trả ra nước ngoài, trả tiền hàng nhập khẩu mới được vay ngoại tệ, thì tới đây sẽ mở rộng ra các dự án sản xuất, kinh doanh có khả năng thu hồi ngoại tệ cao. NH cũng sẽ tháo "room" đối với việc cho vay BĐS, vay tiêu dùng, chứng khoán, không giữ ở tỷ lệ 16% tổng dư nợ như năm 2012, và giảm lãi suất cho vay với BĐS xuống dưới 15%/năm, tạo điều kiện sưởi ấm thị trường BĐS năm 2013.

PGS-TS. Trần Hoàng Ngân - Thành viên Hội đồng Tư vấn Tiền tệ Quốc gia: Nhiều yếu tố lạc quan

- Các tổ chức tài chính thế giới vẫn đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2013 khá lạc quan so với năm 2012. NH Thế giới (WB) và NH Phát triển Châu Á (ADB) dự báo Việt Nam tăng trưởng 5,9%, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng 5,7%.

Theo tôi, dự báo trên hoàn toàn khả thi bởi tiềm năng kinh tế nước ta còn rất lớn, nguồn nhân lực dồi dào, thị trường nội địa hấp dẫn với 88 triệu dân.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là dự đoán vì bước vào năm 2013, tình hình kinh tế nước ta vẫn tiếp tục khó khăn ở ngay những tháng đầu vì phải ưu tiên giải quyết các điểm nghẽn (hàng tồn kho, nợ xấu, BĐS...).

Chính phủ cần có nhóm giải pháp ngắn hạn trước mắt để giải quyết nhanh những điểm nghẽn, những nút thắt trong nền kinh tế, tạo thuận lợi cho hàng hóa lưu thông, giải quyết hàng tồn kho tăng cao, đưa dòng tiền đến được nơi cần vốn sản xuất, kinh doanh, có chính sách hỗ trợ người mua nhà thông qua cơ chế lãi suất thấp và thời hạn cho vay dài 10 - 15 năm, góp phần giải quyết nợ xấu và công ăn việc làm.

Tiếp đó là nhóm giải pháp dài hạn và liên tục để tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế nước ta hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực xã hội, tăng năng suất lao động, qua đó góp phần làm kinh tế tăng trưởng bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần tăng cường phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng chống suy giảm kinh tế, không để lãi suất tăng cao trở lại và biến động bất thường. Nếu có giải pháp hợp lý, đầu tư đúng vào trọng điểm, ưu tiên cho những ngành có tiềm năng và lợi thế kinh tế thì sẽ tăng trưởng cao và bền vững trở lại.

Ông Trần Phương Bình - Tổng giám đốc NH Thương mại Đông Á (OTC: DongABank): Mạnh dạn đối mặt với thay đổi

- Dù đã có những dự báo lạc quan cho năm 2013, nhưng tôi đánh giá trong 10 năm trở lại đây, 2013 sẽ là một trong những năm mang tính thử thách nhất. Trước mắt là những thách thức quá lớn: nợ xấu, BĐS, DN khó khăn, đầu ra cho dòng tiền khó, hệ thống quản trị, sự minh bạch của NH...

Theo đó, năm nay, phần lớn các NH vẫn phải thực hiện chủ trương giữ an toàn và ổn định là mục tiêu hàng đầu, tăng hỗ trợ DN để làm sao DN hoạt động an toàn thì NH cũng sẽ an toàn. Lợi nhuận là nhiệm vụ các cổ đông, HĐQT giao nhưng đặt ra trong lúc kinh tế khó khăn, hàng chục ngàn DN đóng cửa sẽ là không đúng lúc trong năm nay.

Từ nay, có thể sẽ diễn ra các cuộc tái cấu trúc toàn diện tại các NH. Trong đó, các hoạt động tái cấu trúc tổ chức, mạng lưới phục vụ khách hàng cùng với tái cấu trúc con người, đào tạo, tái đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu sẽ được thực hiện một cách gắt gao. Với sự kiện này, sẽ khó tránh những cú sốc trên thị trường nhưng tôi cho rằng điều này là bắt buộc.

Vì vậy, mọi người nên chuẩn bị tâm lý để dễ dàng thích ứng với sự biến động của các thị trường liên quan (thị trường chứng khoán, vàng, BĐS...). Về vấn đề lãi suất, NH Nhà nước đã đưa ra thông điệp là sẽ không kiểm soát tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích như BĐS, chứng khoán tiêu dùng, nhưng không vì thế mà chúng tôi "phóng tay", ngược lại sẽ cân nhắc kỹ.

Như vậy, các NH Thương mại sẽ tiếp tục giảm lãi suất cho vay nhưng vẫn chỉ khoanh vùng ở những lĩnh vực ưu tiên gồm: xuất khẩu, DN nhỏ và vừa, DN nông thôn, công nghiệp phụ trợ và sản phẩm có chứa hàm lượng công nghệ cao.

Tóm lại, giai đoạn vừa rồi các NH phát triển theo chiều ngang của nền kinh tế. Thị trường 2013 sẽ là khúc quanh, là quyết định mang tính định mệnh, thị trường càng khó khăn, tính sàng lọc sẽ càng mạnh hơn. Người nào khỏe mạnh sẽ vượt qua được khúc quanh mà rất có thể sẽ kéo dài qua đến năm 2014. Chính vì vậy, khi nền kinh tế hồi phục, những ai đã có sự chuẩn bị tốt mới có cơ hội tăng tốc.

Ông Phạm Hữu Phú - Chủ tịch HĐQT Sacombank (HOSE: STB): Nỗ lực từ bản thân

- Trong bối cảnh nền kinh tế năm 2013, các DN lớn và tăng trưởng tiếp tục không thống nhất về đề xuất mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô. Đó là nên ứng cứu các DN khó khăn hay dành sức để cải cách và tái cấu trúc nền kinh tế.

Tuy nhiên, ở thời điểm này, có khá nhiều ý kiến thiên về quan điểm "không nên cứu trợ DN yếu kém nữa, hãy để những DN yếu kém phá sản, bao gồm cả các DN nhà nước, rồi từ chính sự phá sản đó sẽ có các DN mới được thành lập và các việc làm mới được tạo ra. Càng cứu trợ, DN càng ỷ lại vào Nhà nước".

Tương tự, hệ thống NH được xem là huyết mạch của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn vốn cho các hoạt động đầu tư - sản xuất - kinh doanh, duy trì sự ổn định của đồng tiền, tỷ giá... Do đó, sự phát triển ổn định và bền vững của mỗi NH nói riêng và hệ thống NH nói chung có tác động trực tiếp và quyết định đến quá trình hội nhập, tăng trưởng của nền kinh tế.

Ý thức được sứ mệnh to lớn đó của mình, mỗi NH không những cần có nội lực vững mạnh, chiến lược hoạt động phù hợp, biết nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức, mà còn phải có sự liên kết với nhau để cùng thúc đẩy sự phát triển của toàn hệ thống.

Trên cơ sở đó, Sacombank không ngần ngại đưa ra quyết định hợp tác toàn diện với Eximbank trong tháng 1/2013. Bởi trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước đang đối mặt với nhiều thử thách như hiện nay, quyết định này không chỉ giúp Sacombank và Eximbank tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực hoạt động, mà còn giúp cả hai bên vượt qua khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời góp phần vào sự phát triển bền vững của hệ thống NH và nền kinh tế Việt Nam.

Tương tự thế, thị trường nhà đất sụt giảm là điều tích cực cho nền kinh tế và cho người dân, không nên lo ngại về điều đó. Kích thích giá nhà đất sẽ dễ kích thích nền kinh tế đầu cơ và lặp lại chu kỳ tăng trưởng nhanh, lạm phát cao dựa trên đầu cơ và đầu tư dàn trải...

Quỳnh Vũ

Doanh nhân sài gòn

“Nguồn khách hàng dồi dào và sự đa dạng địa lýtại khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ mang tới cho các công ty bảo hiểm những cơ hội tăng trưởng vượt bậc…” – Là dự báo chung về triển vọng thị trường ...

“Nguồn khách hàng dồi dào và sự đa dạng địa lýtại khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ mang tới cho các công ty bảo hiểm những cơ hội tăng trưởng vượt bậc…” – Là dự báo chung về triển vọng thị trường bảo hiểm năm 2013 được Ernst & Young đưa ra mới đây.

Năm 2013 đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho các côngty bảo hiểm châu Á

Bên cạnh đó, Ernst & Young cũng đưa ra năm tác nhân thị trường sẽ ảnh hưởng tới chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm nay.

Theo Ernst & Young: Mặc dù kinh tế suy thoái, các quy định và chính sách tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương có nhiều thay đổi, ngành bảo hiểm vẫn có cơ hội phát triển ở những lĩnh vực như bảo hiểm cá nhân và quản lý tài sản, cũng như những sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu phức tạp của khách hàng về lập kế hoạch tài chính. Ông Paul Clark, Lãnh đạo dịch vụ Bảo hiểm khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Ersnt & Young chia sẻ: “Tầng lớp trung lưu đang ngày càng thịnh vượng là nguồn khách hàng tiềm năng chính đóng phí bảo hiểm và lợi nhuận bảo hiểm. Điều này còn phụ thuộc vào mức độ phát triển đa dạng của thị trường bảo hiểm trong khu vực bao gồm các thị trường đã phát triển, đang phát triển và các thị trường bảo hiểm mới nổi. Việc cân bằng yếu tố rủi ro với những quy định thận trọng, tập trung vào việc tăng cường bảo vệ khách hàng bảo hiểm và gia tăng tính minh bạch của sản phẩm bảo hiểm sẽ là mối quan tâm hàng đầu cho các công ty bảo hiểm trong năm 2013”.

Bên cạnh việc đưa ra các dự báo chung về thị trường bảo hiểm, Ersnt & Young đã xác định được năm tác nhân thị trường sẽ ảnh hưởng tới chiến lược phát triển của các công ty bảo hiểm tại khu vực châu Á Thái Bình Dương trong năm 2013. Cụ thể:

Thứ nhất, những cơ hội tăng trưởng tốt nhất (bao gồm cả những lĩnh vực mới nổi như y tế và lương hưu): Các Công ty bảo hiểm trong nước cũng như quốc tế sẽ được hưởng lợi ích từ tiềm năng tăng trưởng phí bảo hiểm có hệ thống và tỉ lệ thâm nhập thị trường của ngành bảo hiểm đang tăng lên của khu vực. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các công ty bảo hiểm cần cân nhắc và thận trọng hơn nữa trong việc lựa chọn thị trường nào nên thâm nhập hay thoái vốn, kênh phân phối nào nên sử dụng và làm thế nào để giảm thiểu chi phí trong khi vẫn duy trì hiệu quả hoạt động. Các công ty bảo hiểm cũng cần bảo đảm rằng kế hoạch và chiến lược của mình phải phù hợp với những thị trường mục tiêu hướng tới và cần có sự đầu tư đầy đủ vào hệ thống hỗ trợ hoạt động nhằm đảm bảo sự thành công của hoạt động kinh doanh này. Sự xuất hiện ngày càng tăng của bảo hiểm y tế và chương trình hưu trí trong khu vực cũng cho thấy cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ cho các công ty bảo hiểm.

Thứ hai, sự thay đổi nhanh chóng trong môi trường pháp lý: Các công ty bảo hiểm trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang phải đối mặt với nhiều quy định cho ngành bảo hiểm bao gồm Luật Đảm Bảo Khả Năng Thanh Toán II (Solvency II), Tiêu chuẩn Vốn Chủ Sở Hữu Dựa Trên Rủi Ro (US risk-based capital standards), và việc chuẩn mực hóa hệ thống kế toán bảo hiểm theo Chuẩn Mực Lập Báo Cáo Tài Chính Quốc Tế (IFRS). Đồng thời các nhà chính sách cũng đang tìm cách củng cố niềm tin của khách hàng trong ngành bảo hiểm. Trong bối cảnh phức tạp của các quy định, các công ty bảo hiểm trong năm 2013 cần phải quan tâm tới những thay đổi mang tính sâu rộng trong hoạt động và cơ cấu. Rất nhiều công ty đang phải đối mặt với những quyết định khó khăn trong đó có việc tái cân bằng hệ sản phẩm dựa trên sự phân bổ nguồn vốn, xác định hoạt động kinh doanh và dòng sản phẩm nào cần gỡ bỏ, và chiến lược tái bảo hiểm nào là tối ưu, cân nhắc đến những thảm họa thiên nhiên trong thời gian gần đây.

Thứ ba, quản lý sự gia tăng của những rủi ro thảm họa trong khu vực: Các thảm họa tự nhiên như thảm họa kép động đất và sóng thần Tohoku, động đất ở New Zealand và trận lũ lụt lớn ở Thái Lan và Úc đang định hình lại cách nhìn của các công ty bảo hiểm về rủi ro và tái bảo hiểm. Mức độ nghiêm trọng và tần suất của những thảm họa vừa qua đang khiến cho các công ty bảo hiểm nhượng tái rủi ro nhiều hơn cho những đơn vị tái bảo hiểm. Thách thức cho nhiều thị trường tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương là khả năng thanh toán bảo hiểm, cũng do vậy chi phí tăng thêm cho tái bảo hiểm thường không phải là lựa chọn được cân nhắc. Những thảm họa gần đây đã cho thấy những chiều hướng mới của mô hình thảm họa và sự tương quan giữa những rủi ro.

Thứ tư, đầu tư vào công nghệ để có thể tăng trưởng, cải thiện hoạt động và quản lý rủi ro: Việc giới thiệu các sản phẩm phức tạp hơn, phân tích các số liệu, cùng với việc tuân thủ những quy định dựa trên rủi ro đang làm cho những hệ thống và quy trình cũ dần đến mức quá tải. Do đó, đầu tư vào công nghệ để tăng trưởng, cải thiện hoạt động và quản lý rủi ro là sự cần thiết mang tính chiến lược, đòi hỏi sự ưu tiên về chi phí và xác định lợi ích so với phí tổn. Đồng thời, môi trường pháp lý đang có nhiều thay đổi và chặt chẽ hơn sẽ là một chất xúc tác để thay thế hệ thống IT rời rạc, lỗi thời, không được thiết kế nhằm đáp ứng những chiến lược đa tiền tệ và đa sản phẩm. Ngoài ra, những công ty bảo hiểm có hoạt động xuyên quốc gia phải đối mặt với những thách thức khác về việc bảo mật dữ liệu và tích hợp hệ thống hỗ trợ hoạt động khác nhau.

Thứ năm, sự cần thiết trong việc tìm ra các dịch vụ sáng tạo mới nhằm vào công nghệ di động: Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm một nửa dân số sử dụng di động của thế giới (2.9 tỉ thuê bao đang hoạt động trong năm 2010), điện thoại di động đã trở thành phong cách sống. Do vậy, để bắt kịp với những sản phẩm và dịch vụ phục vụ theo phong cách sống mới này, các công ty bảo hiểm phải có những kênh phân phối và chiến lược dịch vụ mới. Những kênh phân phối thay thế khác như cổng thông tin (Web Portals) đang được triển khai trên khắp khu vực nhằm bổ sung hoặc thay thế những đại lý truyền thống, mặc dù bancassurance (bảo hiểm liên kết ngân hàng)tiếp tục tăng trưởng. Khảo sát người tiêu dùng toàn cầu của Ernst & Young cho thấy rằng người tiêu dùng sẽ nghiên cứu sản phẩm và vận chuyển qua mạng trước khi quyết định mua sắm. Do công nghệ di động phát triển vững chắc tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, các công ty bảo hiểm cần tìm giải pháp để giữ thị phần và tạo dựng lợi thế cạnh tranh.

Tài Chính

Luôn đứng trong top đầu nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao hàng năm, nhưng bước sang năm 2013 này, ngành thủy sản đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam ...

Luôn đứng trong top đầu nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao hàng năm, nhưng bước sang năm 2013 này, ngành thủy sản đã phải đối mặt với nhiều khó khăn. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep) dự báo, năm nay, kim ngạch xuất khẩu thủy sản nói chung sẽ giảm 1,5 - 2% so với năm 2012.

Khó khăn lớn hơn cả đối với ngành thủy sản trong năm tới chính là thiếu vốn cho sản xuất

Con tôm chịu quá nhiều áp lực

Kế hoạch đề ra năm 2012, kim ngạch xuất khẩu thủy sản phấn đấu đạt được mức 6,5 tỷ USD song mục tiêu này đã không thực hiện được. Kết thúc năm 2012, kim ngạch xuất khẩu của ngành này chỉ ở mức 6,2 tỷ USD. Và con số 6,5 tỷ USD là con số được ngành thủy sản tiếp tục đặt ra cho năm nay. Mục tiêu đặt ra là thế, nhưng ngay từ những tháng đầu tiên của quý I năm 2013 này, xuất khẩu thủy sản đã gặp nhiều bất lợi. Đặc biệt, khó khăn rõ nhất thể hiện ở con tôm và cá tra.

Năm 2012, riêng đối với con tôm, đây là năm khó khăn chồng chất khó khăn. Ngoài những nguyên nhân dịch bệnh khiến diện tích nuôi tôm bị thu hẹp, thì việc Nhật Bản và Mỹ đưa ra những rào cản kỹ thuật đang là một trở ngại khiến con tôm xuất khẩu lao đao.

Số liệu của VASEP cho thấy, năm 2012, xuất khẩu tôm của Việt Nam dù có mặt ở 92 thị trường trên thế giới nhưng kim ngạch cũng chỉ đạt 2,23 tỷ USD, giảm 6,6% so với năm 2011. Riêng đối với thị trường Mỹ, năm qua, Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này khoảng 40.879 tấn tôm, là nhà cung cấp lớn thứ 5 nhưng sản lượng tôm vào Mỹ năm qua cũng đã giảm tới gần 9,50% so với năm 2011 (năm 2011, xuất khẩu tôm vào thị trường này đạt 45.162 tấn).

Bộ NN-PTNT cho biết, kế hoạch thả nuôi vụ tôm nước lợ năm 2013 khoảng 655.000 ha. Song, những mối lo về dịch bệnh vẫn đang hiện hữu. Những lo ngại về khan hiếm nguồn nguyên liệu cho xuất khẩu vẫn đang khiến các DN ngành tôm đau đầu. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh xuất khẩu thủy sản trên thế giới ngày một gay gắt hơn, trong đó Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ có xu hướng hạ giá bán sản phẩm tôm, Bangladesh bắt đầu thúc đẩy sản xuất tôm thẻ chân trắng... tạo vô vàn thách thức lên mặt hàng tôm xuất khẩu của nước ta. Chưa hết, tại thị trường Nhật Bản, vấn đề Ethoxyquin và tại Mỹ, những "âm mưu” nhằm đánh trùng thuế hai lần đối với con tôm Việt Nam… đang là những áp lực lớn đè nặng lên các DN xuất khẩu tôm sang các thị trường này.

Cá tra cũng lao đao

Theo VASEP, sản lượng cá nuôi quý I có thể chỉ đạt khoảng 100.000 - 150.000 tấn, giảm 30 - 50% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến giữa tháng 1-2013, giá trị xuất khẩu cá tra mới chỉ đạt 63,38 triệu USD, giảm 20,7% so với cùng kỳ năm trước. Nhiều thị trường lớn như như: EU, Mỹ, ASEAN, Mexico, Brazil... đều giảm mạnh nhu cầu nhập khẩu. Dự báo xuất khẩu mặt hàng này trong quý I chỉ đạt khoảng 230 - 250 triệu USD, giảm 40% so với cùng kỳ năm ngoái. Cũng theo nhận định của Vasep, mặc dù hiện tại Việt Nam vẫn là nước sản xuất và xuất khẩu lớn nhất thế giới, song Thái Lan, Phillipines và nhiều nước khác đang tích cực đầu tư vào việc nuôi, xuất khẩu cá tra để sẵn sàng cạnh tranh với Việt Nam. Do đó, đây tiếp tục là những thách thức không nhỏ đối với DN chế biến và xuất khẩu cá tra trong thời gian tới.

Đặc biệt, ngày 21-2 vừa qua, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) đã tổ chức cuộc điều trần trong khuôn khổ đợt xem xét hành chính lần thứ tám về chống bán phá giá cá tra, cá ba sa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này. Dự kiến, DOC sẽ có phán quyết về việc lựa chọn nước thứ ba làm căn cứ tính giá và tính thuế chống bán phá giá vào 14-3-2013.

Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu cá tra, cá basa lớn thứ 2 của Việt Nam. Năm 2012, giá trị xuất khẩu cá tra Việt Nam đạt được 1,8 tỷ USD thì kim ngạch xuất khẩu cá tra vào thị trường Mỹ đạt hơn 358 triệu USD, chiếm khoảng trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam. Không ít lần các DN sản xuất và chế biến cá da trơn của Mỹ đã cố tìm mọi cách để ngăn cản các DN Việt Nam thâm nhập thị trường nước này, và việc áp cho DN cá tra Việt Nam cái tiếng "bán phá giá” cũng là một trong những cách làm khó cho con cá tra của Việt Nam.

Theo các chuyên gia trong ngành, hành động này của Mỹ sẽ gây nên nhiều mối nguy cho ngành nuôi trồng, chế biến cá tra và cá ba sa của Việt Nam, vì nó có thể làm tăng thuế suất lên cao gấp hàng chục lần trong khi các DN xuất mặt hàng này vào Mỹ trong năm 2012 chỉ chịu thuế suất rất thấp là 0% - 1%.

Ngoài những khó khăn nói trên, các chuyên gia ngành thủy sản cho rằng, khó khăn lớn hơn cả đối với ngành thủy sản trong năm tới vẫn chính là thiếu vốn cho sản xuất. Bởi vậy, rất cần sự chung tay của Nhà nước chia sẻ với những khó khăn của DN ngành thủy sản trong thời gian tới để mục tiêu đạt kim ngạch 6,5 tỷ USD không bị đổ bể thêm một lần nữa.

Minh Phương

Đại đoàn kết

Hoạt động cổ phần hóa DNNN trong năm 2013 dự báo sẽ sôi động hơn, vì không ít DNNN đã “lên dây cót” từ năm 2012.

Hoạt động cổ phần hóa DNNN trong năm 2013 dự báo sẽ sôi động hơn, vì không ít DNNN đã “lên dây cót” từ năm 2012.

Chuyển động doanh nghiệp

Trao đổi với ĐTCK, ông Bùi Đức Hoàn, thành viên Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam (Vilico) cho biết, dự kiến ngày 5/3 tới, Tổng công ty sẽ bán đấu giá công khai 26,69 triệu cổ phần, tương đương 34,9% vốn điều lệ. Hiện tại, Tổng công ty đang hoàn tất các thủ tục đăng ký, đặt cọc để thực hiện bán đấu giá cổ phần tại Sở GDCK Hà Nội (HNX). Kế hoạch cổ phần hoá được thực hiện theo đúng lộ trình và theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Theo Vilico, có một số đối tác tìm hiểu về đợt bán đấu giá cổ phần của Tổng công ty. Hiện các bên đang trong quá trình đàm phán, thương thảo, nên chưa thể công bố ra thị trường. Ngày 6/3 tới, Tổng công ty Mía đường II cũng thực hiện IPO tại Sở GDCK TP. HCM. Với mức vốn điều lệ 685 tỷ đồng, Tổng công ty sẽ bán 16.765.900 cổ phiếu (tức 24,47%).

Dự kiến, thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp của Vietnam Airlines muộn nhất là ngày 1/4/2013

Ngoài 2 DN trên, trong năm 2013 cũng sẽ có những đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của các DN lớn khác như Tổng công ty Hàng không Việt Nam (Vietnam Airlines). Theo đề án tái cơ cấu vừa được Chính phủ phê duyệt, Vietnam Airlines sẽ IPO với tỷ lệ phần vốn Nhà nước nắm giữ là 65 - 75% (vốn điều lệ của Tổng công ty là 8.942 tỷ đồng). Theo kế hoạch, sau CPH, Vietnam Airlines có quy mô 1 công ty mẹ, 9 đơn vị phụ thuộc và 26 công ty con hạch toán độc lập. Dự kiến, thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp của Vietnam Airlines muộn nhất là ngày 1/4/2013 để tiến hành IPO theo đúng kế hoạch.

Cũng trong năm 2013, Tổng công ty Công nghiệp Ôtô Việt Nam (Vinamotor) tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu đã được Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt. Trong đó, đối với công ty mẹ -Tổng công ty sẽ hoàn thành cổ phần hóa. Bên cạnh đó, tái cơ cấu các đơn vị có vốn góp của Vinamotor, đặc biệt tại các đơn vị hạch toán phụ thuộc, các công ty TNHH một thành viên và các công ty con. Ngoài ra, Vinamotor sẽ thoái vốn nhà nước tại các đơn vị theo đề án đã phê duyệt; triển khai thủ tục phá sản, mua bán nợ những công ty kinh doanh thua lỗ.

Nằm trong kế hoạch, Tổng công ty Viglacera dự kiến sẽ IPO muộn nhất vào tháng 9/2013 và bán ra công chúng khoảng 20% vốn. Hiện tại, phương án cổ phần hóa công ty mẹ Viglacera đang chờ sự thẩm định của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính. Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cũng lên kế hoạch tiến hành IPO vào tháng 6/2013, sau 2 năm lỗi hẹn.

Chuyển động chính sách

Nghị định mới về cổ phần hóa DNNN dự kiến được ban hành trong năm 2013 sẽ có nhiều quy định mới, tạo điều kiện cho quá trình chuyển DNNN thành công ty cổ phần, trong đó có việc lựa chọn NĐT chiến lược. Theo dự thảo Nghị định, doanh nghiệp có thể đàm phán với NĐT chiến lược, bán một phần vốn cho họ theo giá thỏa thuận, sau đó nếu cần mới tiến hành bán cổ phần ra công chúng. Điều này làm giảm bớt thủ tục, thời gian cũng như tăng tính chủ động cho DN. Tuy nhiên, đối với những DN thực hiện IPO trước thời điểm nghị định mới có hiệu lực, việc lựa chọn đối tác chiến lược vẫn theo quy định cũ. Nghĩa là thỏa thuận trực tiếp hoặc đấu giá giữa các NĐT chiến lược có đủ tiêu chuẩn và đã thực hiện đăng ký mua trước khi thực hiện đấu giá công khai là giá thỏa thuận giữa các bên hoặc là giá đấu thành công nhưng không thấp hơn giá khởi điểm.

Ngoài ra, dự thảo Nghị định đưa ra các quy định trong việc xác định lợi thế vị trí đất trong giá trị doanh nghiệp; quy định Nhà nước sẽ nắm từ 75% đến dưới 100%, từ 65% đến dưới 75% và trên 50% cổ phần tại các DN, tùy theo quy mô, ngành nghề; chuyển một số doanh nghiệp thuộc diện Nhà nước nắm trên 50% cổ phần thành loại nắm trên 25% hoặc trên 35% cổ phần nhằm đảm bảo phải có sự biểu quyết tán thành của Nhà nước mới thông qua được một số hoặc tất cả các quyết định quan trọng thuộc thẩm quyền của ĐHCĐ, HĐTV...

Hoàng Anh

Đầu Tư Chứng Khoán

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư quy định về nguyên tắc điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng đường, muối, trứng gia cầm năm 2013 từ ngày 8/2/2013 đến hết ngày 31/12/2013.

Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư quy định về nguyên tắc điều hành nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với mặt hàng đường, muối, trứng gia cầm năm 2013 từ ngày 8/2/2013 đến hết ngày 31/12/2013.

Theo đó, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu đường là 73.500 tấn, cao hơn hạn ngạch Bộ Công thương công bố cho năm 2012 (70.000 tấn) và thấp hơn năm 2011 (250.000 tấn). Hạn ngạch nhập khẩu đường được phân giao cho thương nhân trực tiếp sử dụng đường làm nguyên liệu sản xuất và thương nhân sản xuất đường thô để tinh luyện.

Theo thống kê của Hiệp hội mía đường Việt Nam, đến ngày 17/2, tồn kho tại các nhà máy đường là 322.250 tấn (kể cả đường thô), các công ty thương mại thuộc Hiệp hội Mía đường là 19.175 tấn. Như vậy, lượng đường tồn kho đến thời điểm này là gần 350 ngàn tấn. Đây là lượng tồn kho rất lớn, bởi từ đầu vụ mía đến giữa tháng 2, các nhà máy đường đã ép được 8.870.847 tấn mía, sản xuất 767.842 tấn đường (không bao gồm đường thô nhập khẩu và đường thô trong nước cung cấp cho các nhà máy luyện).

Với muối, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu là 102.000 tấn, được phân giao cho thương nhân trực tiếp sử dụng làm nguyên liệu sản xuất hóa chất và làm nguyên liệu sản xuất thuốc, sản phẩm y tế. Lượng muối nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan năm 2013 được giữ nguyên so với năm ngoái.

Trong khi đó, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu trứng gia cầm được phân giao cho thương nhân có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nhu cầu nhập khẩu. Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2013 với trứng gà, trứng vịt và loại khác vào 42.000 tá, cao hơn so với 40.000 tá năm ngoái.

T.Tùng

Công An nhân dân

Xác định năm 2013 DN vẫn cần nhiều hỗ trợ để vượt qua khó khăn, VCCI với vị trí và trách nhiệm là mái nhà chung của cộng đồng DN Việt Nam đã xây dựng kế hoạch sát cánh cùng DN. Phó Chủ tịch Phòng ...

Xác định năm 2013 DN vẫn cần nhiều hỗ trợ để vượt qua khó khăn, VCCI với vị trí và trách nhiệm là mái nhà chung của cộng đồng DN Việt Nam đã xây dựng kế hoạch sát cánh cùng DN. Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hoàng Văn Dũng cho biết:

Ông Hoàng Văn Dũng

Mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong năm 2013 là khôi phục ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát và phục hồi tăng trưởng cùng với củng cố niềm tin cho DN và thị trường. Do đó VCCI sẽ tập trung vào các hoạt động tham mưu tư vấn về chính sách và môi trường kinh doanh theo hướng ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng bền vững, các chính sách và chương trình tháo gỡ khó khăn cho DN, hỗ trợ DN vượt khó thông qua đổi mới và tái cấu trúc DN. VCCI cũng sẽ tăng cường tìm kiếm thị trường và đối tác cho DN trong nước, mở rộng quan hệ hợp tác đa phương cho DN.

Trong năm 2013 VCCI sẽ tập trung vào hoạt động nào để tham mưu những chính sách đúng và trúng cho DN, thưa ông?

Chúng tôi sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng tham mưu, tư vấn bằng việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế, phát triển DN trong những năm qua, kết hợp với kinh nghiệm của các nước phát triển để đề xuất các giải pháp đẩy nhanh tốc độ tái cấu trúc nền kinh tế phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và tình hình thế giới thời kì hậu khủng hoảng.

Bên cạnh đó, hoạt động điều tra, khảo sát cũng là một thế mạnh của VCCI, hỗ trợ công tác tham mưu hiệu quả. Trong năm, VCCI sẽ đẩy mạnh các hoạt động “Hậu công bố PCI” thông qua các hoạt động như tổ chức các hội thảo chẩn đoán, phân tích PCI, tư vấn trực tiếp cho các địa phương nhằm hỗ trợ các địa phương cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và đánh giá hiệu quả của việc công bố chỉ số PCI đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh và cải cách thủ tục hành chính ở các địa phương. Song song với việc điều tra và công bố chỉ số PCI, Báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật của các bộ liên quan đến DN (MEI) do Phòng xây dựng cũng là một kênh tham khảo quan trọng góp phần minh bạch hóa và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh. Cũng trong các hoạt động điều tra, khảo sát, năm 2013, “Khảo sát động thái DN Việt Nam” sẽ tiếp tục thực hiện nhằm tập hợp các phản hồi chính sách từ phía DN để kiến nghị với Chính phủ.

VCCI cũng có thế mạnh về tập hợp sức mạnh của các bên: DN, chuyên gia và cơ quan Nhà nước. Trong năm 2013, VCCI sẽ tiếp tục phát huy thế mạnh này như thế nào, thưa ông?

VCCI sẽ tăng cường hợp tác với các bộ, ngành, địa phương, các hiệp hội DN tiếp tục tổ chức các hội nghị đối thoại với DN tập trung vào các lĩnh vực thuế, hải quan, xây dựng, XNK, phối hợp tìm kiếm các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế và DN.

Bên cạnh những giải pháp hỗ trợ thị trường trong nước, VCCI có kế hoạch gì đối với thị trường nước ngoài?

Đây là một mảng hoạt động quan trọng của VCCI. Phòng sẽ đẩy mạnh hoạt động của các Diễn đàn DN và Hội đồng kinh doanh, xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động hiệu quả giữa các hội đồng kinh doanh và diễn đàn DN giữa Việt Nam với các nước. Cùng với việc tập trung triển khai mạnh mẽ và sâu rộng các hoạt động trong khuôn khổ các diễn đàn phù hợp với quan hệ thương mại, đầu tư với từng nước và khu vực, VCCI hy vọng sẽ nắm bắt được mong muốn hợp tác kinh doanh của DN tại các thị trường này, khai thác và hỗ trợ DN Việt Nam đẩy mạnh XK vào các thị trường theo các diễn đàn.

Ngoài ra chúng tôi cũng sẽ tiếp tục tổ chức tốt hơn nữa các đoàn DN tháp tùng các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước đi làm việc tại các nước. Công tác xúc tiến thương mại (khảo sát thị trường, hội chợ triển lãm, chắp mối kinh doanh, hội nghị hội thảo, gặp gỡ tiếp xúc DN...) sẽ được tiến hành một cách chuyên nghiệp, có chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của DN, nâng cao uy tín và xây dựng hình ảnh về môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam.

Tìm ra những điểm mấu chốt để từ đó tạo được sức bật cho DN là điều quan trọng. Báo Hải quan ghi lại những khuyến nghị của các chuyên gia về những yếu điểm để có một sức bật tốt cho DN.

PGS. TS Lê Quân, nguyên Giám đốc Trung tâm Đào tạo và giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội:

Nhân lực tốt là một cột trụ quan trọng để DN kiến thiết sức cạnh tranh của mình. Nếu dây chuyền thiết bị hiện đại nhưng nguồn nhân lực không đủ khả năng và kiến thức để vận hành, cỗ máy đó cũng chỉ là những bộ sắt thép. Một nguồn nhân lực tốt, từ người quản lý từng bộ phận sẽ hiểu, sử dụng hiệu quả và phát huy tiềm năng trong nguồn lực con người của mỗi cá nhân. Còn với một đội ngũ cán bộ nhân viên, công nhân giỏi, đồng thuận và nhiệt huyết với DN, DN đó mới có một sức mạnh tổng hợp mà không gì có thể tạo ra được. Do đó, DN không chỉ cần quan tâm lựa chọn, tuyển dụng nhân sự giỏi, bổ sung cho nguồn nhân lực của mình mà còn cần tái đào tạo, nâng cao chất lượng nhân sự hiện có. Những kinh nghiệm về quản trị nhân sự của Tập đoàn Phú Thái, FPT… là những điển hình tốt.

Trong đường hướng hoạt động về nhân sự của Phú Thái hay FPT, nhân viên luôn được đào tạo trong một môi trường để vươn lên. Tại đây, toàn bộ nhân viên được tạo mọi điều kiện để đào tạo và tái đào tạo theo yêu cầu công việc của cá nhân. Nhân viên của hai tập đoàn này cũng được làm việc và học tập trong một môi trường như gia đình, ở đó, các thành viên quan tâm và chia sẻ với nhau, động viên nhau trong công việc.

Ông Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương:

Cơ hội cho các DN trong khủng hoảng kinh tế không phải là không có. Để có một sức lực tốt, chuẩn bị cho đà vươn lên sau khoảng thời gian khó khăn, DN cần biết tập trung đồng vốn vào một hay hai mục đích chính. Nếu DN nào khôn ngoan sẽ biết đầu tư mua lại dây chuyền thiết bị hiện đại của những DN cùng ngành nghề nhưng không thể trụ lại trong khó khăn. Những dây chuyền này sẽ giúp DN đỡ một phần lớn chi phí bởi được mua với giá chỉ bằng 1/3-1/2 giá của thiết bị. Tuy nhiên, DN muốn làm được điều này phải chịu cắt lỗ, chấp nhận hy sinh, mất mát, loại bỏ lãng phí. Với một tinh thần như thế DN sẽ tìm được phương hướng mới cho mình. Không thể ngồi thụ động chờ đợi sự cứu trợ bởi sẽ không có sự cứu trợ nào đủ để cứu tất cả, mà phải chủ động sáng tạo từ cái mình có.

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế:

Thương hiệu là vấn đề không thể thiếu của một DN trong bất kỳ giai đoạn kinh tế nào, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế khó khăn kéo dài như hiện nay. Với một DN đã xây dựng được thương hiệu trong thời kỳ trước khó khăn, cần cắt riêng một khoản đầu tư phù hợp về bảo vệ thương hiệu đã có. Còn với một DN mới nổi, tạo được thương hiệu là vấn đề khó, do đó cần xác định thị trường nhỏ, thị trường ngách phù hợp với mình, sau đó thiết kế được sản phẩm thích hợp với thị hiếu tiêu dùng và tiến đến xây dựng, bảo vệ thương hiệu sản phẩm, thương hiệu DN của mình.

H.H (ghi)


An Tư

hải quan

Chỉ một vài năm trước, người dân rất khó tìm mua được căn hộ tại Hà Nội với mức giá khoảng 1 tỷ đồng/căn. Tuy nhiên, hiện nay, với khoản tài chính ít hơn con số này, vẫn có nhiều lựa chọn cho khách ...

Chỉ một vài năm trước, người dân rất khó tìm mua được căn hộ tại Hà Nội với mức giá khoảng 1 tỷ đồng/căn. Tuy nhiên, hiện nay, với khoản tài chính ít hơn con số này, vẫn có nhiều lựa chọn cho khách hàng có nhu cầu về nhà ở.

Thị trường trong năm 2013 được dự báo là sẽ tiếp tục trầm lắng và giá chào bán căn hộ có thể tiếp tục giảm trong nửa đầu năm.

Theo các chuyên gia kinh tế, một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn của các doanh nghiệp bất động sản hiện nay là vì chi phí ngoài sổ sách khi thực hiện các dự án bất động sản là rất lớn. Giá của một sản phẩm bất động sản không chỉ được tính toán dựa trên những khoản đầu tư cứng, gồm tiền đất, chi phí xây dựng, đầu tư hạ tầng cơ sở... mà còn có một khoản chi phí khổng lồ khác thường gọi là phí “bôi trơn”.

Người làm kinh doanh tính chi phí “bôi trơn” vào giá thành nên giá bán sản phẩm nhà ở mà họ đưa ra cũng bị đẩy lên cao. Có ý kiến cho rằng có 15-20%, thậm chí là 30% tổng mức đầu tư của dự án được phục vụ cho quá trình “chạy dự án”.

Bởi vậy, trong suốt 2 năm qua, dù khó khăn nhưng thị trường chỉ lác đác vài dự án có giá thấp hơn 1 tỷ đồng/căn. Thị trường chưa thực sự xuất hiện phân khúc trung cấp. Tuy nhiên, hiện nay chủ đầu tư đã cơ cấu lại sản phẩm, hàng loạt dự án chung cư ở mức giá này đang được chào bán rầm rộ.

Từ 15/2 (mồng 6 Tết Nguyên đán), Xí nghiệp xây dựng số 1 Lai Châu tiếp tục chào bán ra thị trường khoảng 200 căn hộ thuộc tòa CT8 tổ hợp chung cư Đại Thanh với mức giá 10 triệu đồng/m2. Các căn hộ này có diện tích từ 30-60 m2/căn. Như vậy, ước tính tổng giá trị của một căn hộ sẽ dao động từ 300-600 triệu đồng.

Tiến độ đóng tiền cũng được chia nhỏ: 70-90 triệu đồng cho mỗi đợt. Với mức giá này, chủ đầu tư cho biết vẫn có lãi do không phải vay tiền ngân hàng, tiến độ xây dựng nhanh và bộ máy hoạt động của chủ đầu tư cũng gọn nhẹ, đặc biệt, đất để xây dựng dự án đã được chủ đầu tư mua từ nhiều năm trước nên giá không cao.

Mới đây, Viglacera Land cũng đã chính thức mở bán 204 căn hộ thuộc dự án khu nhà ở cao tầng OCT2, Khu chức năng đô thị Xuân Phương, Hà Nội. Các căn hộ có diện tích 57,4m2-106,8m2 với giá bán từ 735 triệu đồng/căn (đã bao gồm VAT).

Khu chức năng đô thị Xuân Phương Viglacera có tổng diện tích 14,6ha nằm dọc theo Đại lộ Thăng Long, giáp với đường 70, cách Trung tâm hội nghị Quốc gia khoảng 12 phút đi bằng ôtô. Tại đây, khu nhà ở cao tầng OCT2 được xây dựng trên diện tích 3.189m2, cao 19 tầng với hơn 21.000m2 sàn xây dựng.

Để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng đối tượng khách hàng, Viglacera Land đưa ra hai hình thức đầu tư: Căn hộ xây thô (chưa hoàn thiện bên trong), giá trung bình 12,9 triệu đồng/m2 và căn hộ xây dựng hoàn thiện, giá trung bình 14,9 triệu đồng/m2 (đã bao gồm VAT).

Trước đó, ngày 7/1/2013, các căn hộ có giá bán 800 triệu đồng tại Khu đô thị Đặng Xá của Viglacera cũng đã được chào bán và nhận được phản hồi tốt từ phía khách hàng với nhiều hợp đồng mua được ký kết.

Ông Lê Ngọc Ước, Giám đốc Công ty Đầu tư hạ tầng và đô thị Viglacera cho biết: “Trong kế hoạch hoạt động, Viglacera luôn chú trọng đầu tư xây dựng nhà ở giá rẻ nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân có thu nhập thấp. Chúng tôi sử dụng vật liệu do các đơn vị thành viên của Viglacera tự sản xuất và ứng dụng công nghệ mới vào xây dựng. Khi dự án đủ điều kiện bán hàng, chúng tôi chào bán trực tiếp, không qua trung gian. Nhờ đó, chi phí đầu tư dự án đã giảm 10-15%. Tuy nhiên, ngoài mục tiêu sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cũng phải đảm bảo mục tiêu lợi nhuận. Do đó, giá bán căn hộ của Viglacera được xây dựng trên cơ sở giá thành cộng với lợi nhuận (nhưng không nhiều). Trong bối cảnh khó khăn chung của toàn thị trường bất động sản, chúng tôi càng phải chấp nhận giảm thêm lợi nhuận, chỉ giữ ở mức thấp nhất có thể”.

Một dự án khác là chung cư Phúc Thịnh Tower cũng đang được Công ty địa ốc Đất Xanh miền Bắc chào bán với giá từ 720 triệu đồng/căn, (đã gồm VAT), tương đương từ 13-14 triệu đồng/m2.

Dự án này nằm trong khu đô thị mới Tân Tây Đô rộng 26ha, gồm trung tâm thương mại, dịch vụ, văn phòng, nhà ở thấp tầng và chung cư do Công ty cổ phần đầu tư Hải Phát làm chủ đầu tư. Phúc Thịnh Tower cao 25 tầng, trong đó 3 tầng đế dành cho trung tâm thương mại, dịch vụ, giải trí, từ tầng 4-25 là khoảng 400 căn hộ 53-94,7m2.

Nói về xu hướng của thị trường bất động sản, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng nhận định, sau thời kỳ phát triển nóng, thị trường bất động sản trầm lắng, hàng tồn kho lớn, giá bán đã giảm mạnh nhưng lượng giao dịch rất ít. Trong bối cảnh này, các doanh nghiệp bất động sản có thời gian nhìn lại mình, nhìn lại những bất cập của thị trường để tìm ra những giải pháp nhằm cải thiện tình hình trước mắt cũng như phát triển lâu dài. Nhiều chủ đầu tư dự án nhà ở đã chủ động cơ cấu lại sản phẩm, chuyển hướng từ đầu tư xây dựng nhà ở cao cấp phục vụ cho người thu nhập cao, sang làm nhà ở bình dân, nhà ở xã hội.

Việc chuyển hướng này vừa giúp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp có điều kiện có nhà ở, giúp doanh nghiệp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, giải quyết nợ đọng, tiêu thụ sản phẩm đầu vào vừa tạo thêm việc làm cho người lao động...

Còn theo thống kê của Công ty Knight Frank, trong quý cuối năm 2012, phần lớn các giao dịch đều thuộc phân khúc bình dân từ 10 triệu đồng (480 USD)/m2 đến 22 triệu đồng (1.055 USD)/m2 và diện tích căn hộ nhỏ từ 45-70m2. Đa số các dự án căn hộ này đều nằm ở khu vực phía Tây Hà Nội.

Tiếp nối xu hướng này, thị trường trong năm 2013 được dự báo là sẽ tiếp tục trầm lắng và giá chào bán căn hộ có thể tiếp tục giảm trong nửa đầu năm, nếu như Chính phủ không thực thi giải pháp, ưu đãi đáng kể nhằm giải quyết các vấn đề của thị trường bất động sản. Hầu hết các giao dịch sẽ vẫn tập trung vào phân khúc bình dân, là phân khúc được cả người mua để ở và nhà đầu tư hiện quan tâm nhiều nhất.

Phan Dương

TBKTVN

Hầu hết chuyên gia kinh tế đều nhận định, mặc dù năm 2012 có điểm sáng song kinh tế năm 2013 vẫn tiếp tục đối diện với nhiều thách thức. Nhằm vượt qua khó khăn đồng thời tạo tiền đề phát triển kinh ...

Hầu hết chuyên gia kinh tế đều nhận định, mặc dù năm 2012 có điểm sáng song kinh tế năm 2013 vẫn tiếp tục đối diện với nhiều thách thức. Nhằm vượt qua khó khăn đồng thời tạo tiền đề phát triển kinh tế trong những năm tiếp theo, Việt Nam phải rốt ráo thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế.

Doanh nghiệp phải tự tái cơ cấu để tồn tại trong thời kỳ kinh tế khó khăn

Nhiều thách thức và chông gai

Dựa trên nền tảng và kết quả kinh tế năm 2012, các chuyên gia kinh tế Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội quốc gia (NCEIF) đã đưa ra 3 kịch bản cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2013.

Theo đó, kịch bản có khả năng xảy ra nhất và cũng là quan điểm của NCEIF đó là tăng trưởng GDP Việt Nam trong năm 2013 sẽ là 5,68%; vốn trên GDP là 30,5%; tăng trưởng xuất khẩu 14,6%. Tuy nhiên, kịch bản này chỉ thực hiện được khi kinh tế thế giới sáng sủa hơn, nợ công ở khu vực đồng tiền chung châu Âu không còn là vấn đề lớn, nền kinh tế Mỹ được phục hồi khá, tăng trưởng kinh tế Nhật Bản gần tương tự như năm 2012, thương mại thế giới tốt hơn năm 2012, luồng vốn FDI vào Việt Nam khả quan hơn.

Bên cạnh kịch bản trên, cũng có cảnh báo về kịch bản xấu hơn với mức tăng trưởng thấp khi GDP của Việt Nam được dự báo chỉ ở mức 5% so với năm 2012, tỷ lệ vốn đầu tư phát triển trên GDP là 29%; tăng trưởng xuất khẩu là 12,8% và nhập siêu trên xuất khẩu là 2,4%. Lý giải về mức dự báo thấp trên, giới chuyên môn khẳng định ở kịch bản này nền kinh tế thế giới không tăng trưởng cao như mong muốn do bất ổn về tài chính tại nhiều nước.

Vấn đề đáng quan ngại nhất là hàng tồn kho tăng, nợ xấu chiếm tỷ lệ cao đang "ngâm” trong thị trường bất động sản vẫn không có cách tháo gỡ. Về lãi suất và nguồn vốn hỗ trợ DN trong năm tới, theo ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright dự báo, nếu kỳ vọng lạm phát ở mức 5-6% thì lãi suất tiền gởi có thể đưa về mức 7%.

Song, sự khác biệt là có ngân hàng dư thanh khoản, có ngân hàng thiếu thanh khoản vì sự mất cân đối này cộng với trục trặc trong hệ thống ngân hàng nên chưa cho phép hạ lãi suất. "Bước sang năm 2013, tình hình sản xuất của các DN có thể nói là tiếp tục chông gai vì vốn chưa thể giải quyết nhanh được, chưa có những đóng góp nhằm tạo sự chuyển biến dễ hơn.

Riêng về lạm phát thì vẫn ở mức một con số (dự đoán lạm phát ở khoảng 8%), tăng trưởng cũng bình thường. Có thể nói năm 2013 kinh tế không có sự chuyển biến mạnh, không thay đổi được tình thế”, ông Cao Sỹ Kiêm, Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam nhận định.

Tập trung tái cơ cấu nền kinh tế

Chính vì thế trong năm con rắn, việc tháo gỡ các nút thắt về tồn kho, nợ xấu và tái cấu trúc nền kinh tế vẫn được đặt lên hàng đầu. Năm nay, cần cứu DN nhỏ lẻ nhưng theo DN lớn cần phải tái cấu trúc.

"Ứng cứu theo kiểu bơm tiền là rất khó vì nên vay mượn tiền ở đâu? Vấn đề ở chỗ nên tập trung cho tái cấu trúc vì DN Việt vừa nhỏ vừa khó nhằm tạo môi trường hồi sinh cho các DN đang rất yếu, tạo động lực mới cho sự phát triển cơ bản hơn. Tránh thiên lệch mục tiêu sang cấp cứu vì không thể tung nốt tiền tốt so với tiền xấu”, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam giải thích.

Năm 2013 tình hình thế giới có thể có khôi phục nhẹ, nhưng kinh tế châu Á có thể chưa khởi sắc, nếu không nói là khó hơn như các nền kinh tế lớn Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng thấp chưa từng có 10 năm nay. Do đó, kinh tế Việt Nam cũng không thể có bước phát triển đột phá.

Bàn về giải pháp cho nền kinh tế năm 2013, GS. TS Khoa học Nguyễn Quang Thái nhấn mạnh: "Kinh tế sẽ tiếp tục khó khăn nên vấn đề còn lại phụ thuộc vào sự điều hành kiên quyết của Chính phủ, có sự phối hợp chặt chẽ và linh hoạt thích hợp để thực hiện đúng, sát hợp các chính sách đã được Quốc hội quyết định, nhất là đẩy mạnh đồng bộ hơn quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng”.

Thực tế cho thấy, tái cấu trúc nền kinh tế về mặt vĩ mô và tái cấu trúc cơ cấu vốn về mặt vi mô của các DN mới giải quyết được khó khăn. Trường hợp giảm lãi suất nhưng DN có dư nợ quá cao thì gánh nặng vẫn tồn tại dai dẳng.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, song song với việc tái cấu trúc nền kinh tế thì nhiệm vụ xác định và chuyển hướng vai trò chủ đạo nền kinh tế cần phải được xem lại.

TS Phạm Đỗ Chí, chuyên gia kinh tế nêu quan điểm: "Theo tôi cần phải giải quyết vai trò chủ đạo của nền kinh tế trong đó, DN nhà nước phải nhường vai trò còn lại cho DN tư nhân, giảm thuế cho DN để DN tư nhân tập trung sáng kiến để vực dậy trong cơn sống còn khi đó lòng tin cho thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản mới được thiếp lập. Chừng nào vẫn còn mắc kẹt vai trò chủ đạo thì còn bi quan về cách giải quyết những điểm xấu cho nền kinh tế. Vì vậy, cái cảnh bo bo dồn chúng ta vào cảnh khó khăn cần phải thay đổi thực sự vào năm 86 thì triển vọng đổ vỡ tài chính vào năm 2013 và 2014 sẽ dồn giới hữu trách vào con đường duy nhất là giải quyết vai trò chủ đạo của các DN nhà nước”.

Ông Cao Sỹ Kiêm, Nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam:

Giải quyết tồn kho cần tập trung tăng sức mua, giảm chi phí giá thành, cải tiến điều hành cho cung cầu gặp nhau. DN cần phải cơ cấu lại tránh vi phạm điều kiện vay của ngân hàng, ngân hàng nên nới rộng tín dụng cho vay trong đó, cho vay tiêu dùng với lãi suất thấp. Vì thực tế, giải quyết được hàng tồn kho thì vốn mới vào hoạt động sản xuất và kinh doanh. Riêng về nợ xấu, hiện nay có nhiều con số nói đến nợ xấu nhưng để có một con số thực thì hoàn toàn chưa có. Thiết nghĩ, nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là phải công khai minh bạch nợ xấu để biết được nợ xấu đang ở đâu: ở bất động sản, chi tiêu thiên tai, xây dựng cơ bản hay là chi tiêu công…ở mức độ nào? Nếu thực hiện đồng loạt các giải pháp trên thì đến năm 2015 nợ xấu chỉ còn 3-4% trên tổng số dư nợ.

GS. TS khoa học Nguyễn Quang Thái:

Lúc này cần có sự đồng tâm hiệp sức của toàn dân để cùng nhau vượt qua khó khăn, tiếp tục thực hiện thắng lợi ba đột phá chiến lược, trong đó có đột phá về thể chế, thực hiện cải cách hành chính, chống tham nhũng, lãng phí, … đưa đất nước tiếp tục đi mạnh vào quỹ đạo phát triển bền vững, tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh hơn những năm tiếp theo. Bi quan, tiêu cực, than vãn lúc này không giải quyết được vấn đề mà chỉ làm khó thêm cho bước phát triển hiện nay của đất nước. Mỗi người, mỗi nhà, mỗi DN và các giới đồng bào chúng ta cần tự tìm ra các giải pháp đa dạng, thích hợp với hoàn cảnh cụ thể trong khuổn khổ pháp luật và điều kiện sản xuất kinh doanh, công tác, học tập…, cùng nhau khắc phục khó khăn, đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Tâm Luân


Thanh Giang

Đại Đoàn Kết

Nhóm phóng viên Truyền hình Việt Nam tại Bruxelles đã phỏng vấn ông Bruno Colmant, kinh tế gia làm việc cho Công ty tư vấn chiến lược Roland Berger về bức tranh kinh tế châu Âu năm 2012 và triển vọng ...

Nhóm phóng viên Truyền hình Việt Nam tại Bruxelles đã phỏng vấn ông Bruno Colmant, kinh tế gia làm việc cho Công ty tư vấn chiến lược Roland Berger về bức tranh kinh tế châu Âu năm 2012 và triển vọng năm 2013.

Ông Bruno Colmant đã từng là Chủ tịch Thị trường chứng khoán Bruxelles trước khi sàn giao dịch chứng khoán Bruxelles sáp nhập với thị trường chứng khoán New York và trở thành NYSE Euronext.

Ông có nhận xét thế nào về kinh tế châu Âu năm 2012?

Ông Bruno Colmant: Tôi cho là có nhiều ý cần nói. Trước tiên là châu Âu vẫn đang trong giai đoạn suy trầm khá nghiêm trọng, năm 2012 đã không mấy thuận lợi, các năm tới cũng vẫn sẽ tiếp tục khó khăn. Tuy nhiên, trong bối cảnh chung tương đối tiêu cực vẫn có tin tốt, đó là các nước châu Âu đã giải quyết được vấn đề Hy Lạp và Ngân hàng trung ương châu Âu đã sử dụng sức mạnh của mình để cứu đồng euro và kiểm soát các ngân hàng. Có thể nói là châu Âu đã có tiến bộ rất rõ nét trong lĩnh vực chính sách tiền tệ.

Theo ông, thời điểm khó khăn nhất trong năm vừa qua là khi nào?

Ông Bruno Colmant: Theo tôi, suốt cả năm lúc nào cũng là thời điểm khó khăn. Bởi vì thất nghiệp không ngừng tăng trên khắp châu Âu, với tỷ lệ thất nghiệp hiện nay lên tới 12%. Tỷ lệ thất nghiệp trong thanh niên gần tới 23% là chuyện chưa bao giờ thấy từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay.

Trong một số nước như Tây Ban Nha, tỷ lệ thanh niên thất nghiệp còn hơn cả 50%, đó thực sự là câu chuyện đau lòng của năm 2012. Vậy châu Âu đã đi qua thời điểm khó khăn nhất hay chưa?

Ông Bruno Colmant: Tôi cho là thời điểm khó khăn nhất còn chưa tới vì thất nghiệp vẫn ở mức cao, mà xét cho cùng thì quan trọng nhất vẫn là người dân có việc làm, tham gia vào cộng đồng thông qua công việc. Hiện nay 1/4 tổng số thanh niên châu Âu không có việc làm, tức là hàng triệu giờ kinh nghiệm, hàng triệu giờ sáng tạo bị mất đi. Tôi sẽ chỉ có thể lạc quan khi thị trường lao động sôi động trở lại và các doanh nghiệp tuyển dụng thêm thanh niên, rồi cũng sẽ đến lúc ngày càng nhiều thanh niên kiếm được việc làm. Nhưng hai năm tới đây sẽ còn khó khăn hơn.

Ông có thể nói kỹ hơn không?

Ông Bruno Colmant: Tôi cho là phải đợi thêm hai nữa. 2013 sẽ là một năm không có tăng trưởng và 2014 sẽ có tăng trưởng ở mức rất thấp. Hai năm sắp tới đây vẫn sẽ rất khó khăn, đó sẽ là hai năm gần như vô nghĩa với nền kinh tế. Tôi xin lưu ý một chi tiết, đó là ở Mỹ, thất nghiệp đã bắt đầu giảm bớt, bởi vì người Mỹ đã bơm thêm tiền vào nền kinh tế, chứ không áp dụng chính sách khắc khổ. Vậy mà châu Âu thì chậm trễ, vẫn là thất nghiệp và chính sách khắc khổ.

Ông có thể giải thích thêm không?

Ông Bruno Colmant: Thật ra châu Âu vẫn có tâm lý cục bộ. Chính do tâm lý này, nên có sự khác biệt rất lớn giữa các nước châu Âu. Một chuyện khác là có thể đã có quá nhiều nước sử dụng đồng tiền chung. Lúc đầu thì Eurozone chỉ bao gồm một số quốc gia khá đồng nhất, sau đó có thêm một số nước quanh Địa Trung Hải. Và các nước này, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp và Italy lại rất khác các nước ở phía Bắc châu Âu. Vì thế châu Âu thường mất rất nhiều thời gian để tìm đồng thuận. Từ bốn năm nay, nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng, nhưng lẽ ra chúng ta có thể làm được nhiều việc hơn thế.

Cách đây một năm, người ta nói đồng tiền chung sắp đến hồi tan vỡ. Vậy nhưng hôm nay đồng euro vẫn còn đây và tỷ giá thậm chí còn cao hơn năm ngoái. Ông giải thích ra sao?

Ông Bruno Colmant: Đúng là euro tăng giá, nhưng là do một lý do khá đơn giản, đó là Ngân hàng Trung ương của các nước khác đã in thêm ra nhiều tiền hơn hẳn so với Ngân hàng Trung ương châu Âu. Mỹ đã tung ra một lượng USD lớn, Anh cũng làm như vậy với đồng bảng, mới đây Nhật Bản cũng theo hướng đó và hậu quả thì châu Âu phải gánh chịu vì khi đồng euro mạnh lên thì châu Âu sẽ khó xuất khẩu hơn. Tình hình hiện nay đang không thuận cho đồng euro, châu Âu đã cứu được đồng tiền chung, ít ra là về ngắn hạn, nhưng vấn đề vẫn là đồng euro đang quá mạnh.

Hồng Quang

VTV

Đang tải dữ liệu...
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán