Chứng khoán phái sinh

Việc thanh toán giao dịch chứng quyền niêm yết tại SGDCK được thực hiện theo kết quả bù trừ đa phương với ngày thanh toán là ngày làm việc thứ hai sau ngày giao dịch (T+2) và theo nguyên tắc chuyển ...

Việc thanh toán giao dịch chứng quyền niêm yết tại SGDCK được thực hiện theo kết quả bù trừ đa phương với ngày thanh toán là ngày làm việc thứ hai sau ngày giao dịch (T+2) và theo nguyên tắc chuyển giao chứng quyền đồng thời với thanh toán tiền (DVP).

Trung tâm lưu ký (VSD) công bố lấy ý kiến dự thảo Quy chế về hoạt động đăng ký, lưu ký, thanh toán, bù trừ và thực hiện chứng quyền có đảm bảo (Covered Warrant).

Theo đó, trình tự, thủ tục điều chỉnh thông tin về nhà đầu tư đã lưu ký chứng quyền, cầm cố, giải tỏa cầm cố, phong tỏa, rút, chuyển khoản chứng quyền... được thực hiện như chứng khoán lưu ký theo quy định hiện hành. 

Việc thanh toán giao dịch chứng quyền niêm yết tại SGDCK được thực hiện theo kết quả bù trừ đa phương với ngày thanh toán là ngày làm việc thứ hai sau ngày giao dịch (T+2) và theo nguyên tắc chuyển giao chứng quyền đồng thời với thanh toán tiền (DVP).

Trình tự, thủ tục việc đối chiếu, xác nhận kết quả giao dịch, sửa lỗi giao dịch, huỷ thanh toán giao dịch, cơ chế hỗ trợ thanh toán, quy trình thanh toán giao dịch chứng quyền được thực hiện như trình tự, thủ tục đối với cổ phiếu niêm yết theo các quy định hiện hành tại Quy chế hoạt động bù trừ và thanh toán giao dịch chứng khoán.

Được biết theo quy định tại Việt Nam, chứng quyền có bảo đảm là chứng khoán có tài sản đảm bảo do công ty chứng khoán phát hành. Nhà đầu tư sẽ trả một khoản phí (premium) để sở hữu chứng quyền và được quyền mua hoặc bán chứng khoán cơ sở cho tổ chức phát hành chứng quyền đó theo mức giá đã được xác định trước, tại hoặc trước thời điểm đã được ấn định, hoặc được nhận khoản tiền chênh lệch giữa giá thực hiện và giá chứng khoán cơ sở tại thời điểm thực hiện.

Có hai loại chứng quyền cơ bản là chứng quyền mua (call warrant) (có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được mua một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn) và chứng quyền bán (put warrant) (có quyền nhưng không phải là nghĩa vụ được bán một chứng khoán cơ sở với mức giá được xác định trước vào hoặc trước ngày đáo hạn). Chứng quyền có bảo đảm có thể được phát hành trên nhiều chứng khoán cơ sở khác nhau như cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF.

Sau khi niêm yết, tất cả các hoạt động giao dịch chứng quyền sẽ được quản lý, giám sát và hướng dẫn bởi Sở Giao dịch Chứng khoán và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Việc giao dịch và thanh toán chứng quyền có bảo đảm hoàn toàn tương tự như cổ phiếu, nhà đầu tư được dùng tài khoản giao dịch chứng khoán thông thường để giao dịch chứng quyền có bảo đảm và tuân thủ theo nguyên tắc khi mua phải có đủ tiền và khi bán phải có đủ chứng quyền. Tuy nhiên, có một số hạn chế đối với nhà đầu tư như việc giao dịch ký quỹ không áp dụng đối với chứng quyền có bảo đảm và quỹ đại chúng chỉ đầu tư vào chứng quyền chỉ với mục đích phòng ngừa rủi ro. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài, giao dịch chứng quyền có bảo đảm không bị hạn chế về tỷ lệ sở hữu.

Hiện tại, HOSE cho biết công tác triển khai sản phẩm đang được các cơ quan quản lý cùng với các thành viên thị trường khẩn trương thực hiện và kỳ vọng trong quý 3/2017 sẽ có sản phẩm chứng quyền có bảo đảm đầu tiên tại Việt Nam được niêm yết trên HOSE.

* Tài liệu: Dự thảo quy chế

Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã ban hành Quy định hướng dẫn tham gia kết nối Cổng giao tiếp trực tuyến của VSD cho hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.

Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) đã ban hành Quy định hướng dẫn tham gia kết nối Cổng giao tiếp trực tuyến của VSD cho hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.

* Tài liệu đính kèm

Đại diện Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) cho biết thị trường phái sinh dự kiến khai trương và giao dịch ngay từ đầu tháng 8 tới.

Đại diện Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) cho biết thị trường phái sinh dự kiến khai trương và giao dịch ngay từ đầu tháng 8 tới.

Bà Nguyễn Thị Hoàng Lan, Phó tổng giám đốc phụ trách HNX ngày 29/6 xác nhận các công việc chuẩn bị cho thị trường phái sinh đã hoàn tất và sẵn sàng hoạt động. Dự kiến thị trường này sẽ khai trương vào đầu tháng 8/2017 và giao dịch ngay.

Cho đến hiện tại, hai yếu tố quan trọng nhất đối với thị trường phái sinh là hệ thống pháp lý và hệ thống giao dịch đã hoàn chỉnh và sẵn sàng. Đối với hệ thống giao dịch, đại diện HNX cho biết các kết quả kiểm tra chức năng tại Sở cho thấy kết quả đạt yêu cầu vận hành ổn định, hệ thống đồng bộ tốt, chức năng khai thác thông tin, hiển thị thông tin từ hệ thống giao dịch chính xác, kịp thời.

Tất cả các bài kiểm tra hệ thống đều đạt yêu cầu, việc kết nối giữa hệ thống của Trung tâm Lưu ký, HNX và các công ty chứng khoán thành viên thực hiện thông suốt và chính xác. Theo bà Lan, HNX sẽ tiếp tục hỗ trợ các công ty chứng khoán rà soát hệ thống lần cuối, đóng gói và cài đặt tham số hệ thống, đảm bảo sẵn sàng đi vào hoạt động tháng 8 tới.

Đối với các thành viên, trong tháng 5 và 6, HNX đã chấp thuận thành viên giao dịch chứng khoán phái sinh cho 6 công ty chứng khoán gồm SSI, HSC, Bản Việt, BSC, VPBS và kết nối thông suốt với hệ thống giao dịch của các công ty này.

Sản phẩm ban đầu được giao dịch trên thị trường phái sinh từ tháng 8 tới sẽ là hợp đồng tương lai chỉ số VN30. Thông tin chính thức sẽ được công bố ra thị trường 1 tháng trước khi khai trương. Đối với sản phẩm hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ, Bộ Tài chính đang giao Vụ Tài chính ngân hàng nghiên cứu và sẽ có văn bản chấp thuận về thiết kế sản phẩm.

Cũng theo thông từ HNX, dự kiến thời gian đầu mở cửa, thị trường phái sinh sẽ thu hút chủ yếu các tổ chức đầu tư, các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Qua các lần tiếp xúc với các tổ chức đầu tư trên thị trường, mối quan tâm của họ rất lớn. Các công ty chứng khoán Hàn Quốc, Nhật Bản cũng tỏ ý quan tâm và đang tiếp xúc tìm hiểu về các quy định pháp lý trên thị trường phái sinh.

“Hợp đồng tương lai với chỉ số VN30 là một sản phẩm tốt, được xây dựng xuất phát từ tham khảo nhu cầu của các thành viên thị trường. Quá trình xây dựng thị trường cũng có sự tham gia của các tổ chức đầu tư nên đây sẽ là sản phẩm phù hợp nhu cầu”, bà Lan nhận định.

http://vneconomy.vn/chung-khoan/thi-truong-phai-sinh-du-kien-khai-truong-dau-thang-8-20170629010536285.htm

Ký quỹ là việc bắt buộc khi tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh (CKPS). Theo quy định tại Việt Nam, sẽ có 3 ngưỡng cảnh báo cho nhà đầu tư về sử dụng tài sản ký quỹ và sẽ bị "margin call" khi ...

Ký quỹ là việc bắt buộc khi tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh (CKPS). Theo quy định tại Việt Nam, sẽ có 3 ngưỡng cảnh báo cho nhà đầu tư về sử dụng tài sản ký quỹ và sẽ bị "margin call" khi vượt ngưỡng 100%.

Thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam sắp chính thức đi vào hoạt động với sản phẩm đầu tiên được triển khai là hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu dựa trên chỉ số cơ sở là VN30. Một trong những vấn đề quan trọng và nhiều khác biệt với giao dịch cổ phiếu (thị trường chứng khoán cơ sở) là cách thức ký quỹ trên thị trường chứng khoán phái sinh.

Trên thị trường chứng khoán cơ sở, giao dịch mua ký quỹ là sử dụng tiền vay từ CTCK (không bắt buộc) để thực hiện mua cổ phiếu. Còn ký quỹ tại thị trường CKPS là việc bắt buộc khi tham gia thị trường này. Nhà đầu tư sẽ thực hiện ký quỹ ban đầu bằng tiền hoặc tài sản (là chứng khoán cơ sở) trước khi tham gia mua bán.

Tài sản nào được dùng ký quỹ?

Trong giao dịch chứng khoán phái sinh, nhà đầu tư được ký quỹ tài sản dưới hai hình thức: Tiền và chứng khoán (trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu niêm yết).

Tuy nhiên, tài sản ký quỹ bằng chứng khoán sẽ không được tính toàn bộ vào giá trị ký quỹ mà sẽ bị chiết khấu tùy theo từng loại, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu theo quy định giá trị chứng khoán (đã chiết khấu) không được vượt quá 20% tổng giá trị tài sản ký quỹ.

Xem thêm >>>

Thực tế quy định tại Trung tâm lưu ký chứng khoán (VSD) (hiệu lực từ ngày 01/05/2017), ký quỹ gồm có: ký quỹ ban đầu (Initial Margin - IM), ký quỹ đảm bảo thực hiện HĐTL trái phiếu Chính phủ (Delivery Margin - DM), ký quỹ biến đổi (Variation Margin - VM) và ký quỹ duy trì yêu cầu (Margin Requirement - MR).

Ký quỹ ban đầu (Initial Margin - IM) là giá trị ký quỹ tối thiểu trước khi thực hiện giao dịch và được tính toán dựa trên giá giao dịch được cập nhật trong phiên. Việc nộp ký quỹ ban đầu có thể bằng tiền hoặc chứng khoán nhưng tỷ lệ tiền ký quỹ đảm bảo không thấp hơn 80% giá trị tài sản ký quỹ.

Tỷ lệ ký quỹ ban đầu được công bố trên trang thông tin điện tử của VSD ít nhất hai ngày làm việc trước khi áp dụng. Định kỳ vào ngày 1, 10 và 20 hàng tháng, VSD sẽ xác định lại tỷ lệ ký quỹ ban đầu.

Ký quỹ đảm bảo thực hiện HĐTL trái phiếu Chính phủ (Delivery Margin - DM) là giá trị ký quỹ phải nộp cho VSD từ sau ngày giao dịch cuối cùng và duy trì cho đến ngày thanh toán cuối cùng để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng thay cho khoản ký quỹ ban đầu.

Ký quỹ biến đổi (Variation Margin - VM) là lỗ vị thế ròng được xác định trên cơ sở lãi lỗ vị thế trong phiên giao dịch đã ghi nhận và lãi lỗ vị thế chưa ghi nhận. Giá trị ký quỹ biến đổi chỉ được tính vào giá trị ký quỹ duy trì yêu cầu trong trường hợp lãi lỗ vị thế của danh mục đầu tư trên tài khoản của nhà đầu tư ở trạng thái lỗ.

Ký quỹ duy trì yêu cầu (Margin Requirement - MR) là tổng giá trị ký quỹ phải nộp để duy trì các vị thế gồm các giá trị ký quỹ thành phần kể trên: (1) ký quỹ ban đầu (IM); (2) ký quỹ đảm bảo thực hiện HĐTL TPCP (DM); (3) ký quỹ biến đổi (VM).

MR = IM + DM + VM

Ký quỹ duy trì sẽ biến động theo kết quả định giá lại theo giá thị trường đối với các vị thế.

Nguồn: HNX

Theo quy định, mỗi nhà đầu tư được mở một tài khoản tiền gửi ký quỹ (và một tài khoản chứng khoán ký quỹ) để quản lý tài sản ký quỹ và thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho vị thế trên tài khoản giao dịch. Tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư dùng để nhận/hoàn trả tài sản ký quỹ; nhận lãi hoặc thanh toán lỗ vị thế hàng ngày, thanh toán khi thực hiện hợp đồng…

VSD thiết lập các ngưỡng cảnh báo theo ba cấp độ để thực hiện giám sát tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ trên từng tài khoản trong phiên giao dịch: Mức độ 1 là ngưỡng 80%, mức độ 2 là ngưỡng 90% và mức độ 3 là ngưỡng 100%. Trong đó, tài khoản ở mức độ 1 và 2 sẽ bị gửi cảnh báo và mức độ 3 sẽ bị “margin call”. Tuy nhiên, các công ty chứng khoán (là thành viên bù trừ) có thể quy định tỷ lệ thấp hơn 100% khi áp dụng “margin call” với nhà đầu tư.

Nhà đầu tư chỉ được mở thêm vị thế khi tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ của tài khoản dưới ngưỡng cảnh báo mức độ 3. Nếu tỷ lệ này rơi vào ngưỡng cảnh báo mức độ 3, tài khoản giao dịch của nhà đầu tư sẽ bị đình chỉ giao dịch và phải thực hiện giảm vị thế thông qua việc mở mới vị thế đối ứng để đóng vị thế hiện có hoặc nộp bổ sung tài sản ký quỹ. Thời hạn tối đa để áp dụng các biện pháp xử lý là 3 ngày làm việc trước khi VSD can thiệp (VSD sẽ yêu cầu thành viên bù trừ thực hiện đóng vị thế đối với tài khoản vi phạm).

Để hiểu rõ hơn về cách tính ký quỹ cũng như thanh toán lãi lỗ vị thế hằng ngày, có thể xem ví dụ với hợp đồng tương lai VN30F1709 được niêm yết với giá 700 (điểm), hệ số nhân do Sở GDCK quy định là 100,000 đồng. Tỷ lệ ký quỹ ban đầu giả sử là 10%. Nhà đầu tư A có 50 triệu đồng ở tài khoản ký quỹ và mở vị thế mua (bán) 5 hợp đồng tương lai.

Khi nhà đầu tư mở vị thế mua vào ngày T+0 với giá 700 điểm, đến ngày T+5 giá HĐTL giảm xuống 688 sẽ bị "margin call" do tỷ lệ sử dụng ký quỹ vượt 100% (tương tự với trường hợp mở vị thế bán, nhà đầu tư cũng sẽ bị "margin call" vào ngày T+2 khi giá HĐTL tăng lên 710). 

Bảng hạch toán tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư qua các ngày giao dịch
ĐVT: triệu đồng

(7) = (1) x (3) x (4) x (5)

(8) = (2) x (3) x (4) (chỉ tính khi ở vị thế lỗ)

(9) = (7) + (8)

(10) = (9) / (6)

Thị trường chứng khoán phái sinh sắp vận hành tại Việt Nam và hiện vẫn còn rất mới mẻ với nhiều nhà đầu tư, kể cả các thuật ngữ thường dùng theo văn bản pháp luật quy định của Việt Nam.

Thị trường chứng khoán phái sinh sắp vận hành tại Việt Nam và hiện vẫn còn rất mới mẻ với nhiều nhà đầu tư, kể cả các thuật ngữ thường dùng theo văn bản pháp luật quy định của Việt Nam.

* Phải làm gì để tham gia thị trường chứng khoán phái sinh?

* TTCK phái sinh: Hợp đồng tương lai VN30 và những điều cần biết

Dưới đây là những thuật ngữ mà nhà đầu tư cần nắm được trước khi tham gia thị trường này.

Chứng khoán phái sinh (CKPS) gồm các dạng cơ bản như hợp đồng kỳ hạn (forwards), hợp đồng tương lai (futures), quyền chọn (options).  Các sản phẩm CKPS sẽ áp dụng trước mắt tại Việt Nam gồm hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số chứng khoán và HĐTL trái phiếu Chính phủ.

Hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán là HĐTL dựa trên tài sản cơ sở là chỉ số chứng khoán.

Hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ (TPCP) là HĐTL dựa trên tài sản cơ sở là TPCP hoặc trái phiếu giả định có một số đặc trưng cơ bản của TPCP.

Tài sản cơ sở là chứng khoán và các tài sản khác được sử dụng làm cơ sở để xác định giá trị CKPS. Tài sản cơ sở của hợp đồng tương lai chỉ số là chỉ số chứng khoán do Sở giao dịch chứng khoán thiết kế.

Thị trường giao dịch CKPS là địa điểm, hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch CKPS hoặc để thực hiện bù trừ, thanh toán giao dịch các CKPS.

Đầu tư CKPS là việc mua, bán CKPS niêm yết hoặc thỏa thuận giao dịch hợp đồng CKPS trên thị trường.

Kinh doanh CKPS là việc thực hiện một hoặc một số các hoạt động gồm môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư. Tổ chức kinh doanh CKPS là tổ chức kinh doanh chứng khoán thực hiện một hoặc một số hoạt động kinh doanh CKPS.

Vị thế một CKPS tại một thời điểm là trạng thái giao dịch và khối lượng CKPS còn hiệu lực mà nhà đầu tư đang nắm giữ tính tới thời điểm đó. Nhà đầu tư mua hoặc bán một CKPS, được gọi là mở vị thế mua hoặc mở vị thế bán CKPS đó.

Vị thế mở một CKPS là việc nhà đầu tư đang nắm giữ CKPS còn hiệu lực, chưa được thanh lý hoặc tất toán.

Khối lượng mở (Open Interests) của một CKPS tại một thời điểm là khối lượng CKPS đang còn lưu hành tại thời điểm đó, chưa được thanh lý hoặc chưa được tất toán.

Vị thế ròng một CKPS tại một thời điểm là chênh lệch giữa vị thế mua đã mở và vị thế bán đã mở của CKPS đó tại cùng một thời điểm.

Giới hạn vị thế một CKPS là vị thế ròng tối đa của CKPS đó, hoặc của CKPS đó và các CKPS khác dựa trên cùng một tài sản cơ sở mà nhà đầu tư được quyền nắm giữ tại một thời điểm.

Giới hạn lệnh giao dịch một CKPS là số lượng CKPS tối đa có thể đặt trên một lệnh giao dịch.

Giới hạn lệnh tích lũy một CKPS là số lượng CKPS tối đa trên các lệnh giao dịch đang chờ thực hiện có thể đặt từ một tài khoản giao dịch.

Thành viên giao dịch CKPS là thành viên của SGDCK được thực hiện nghiệp vụ tự doanh và môi giới CKPS.

Tài khoản giao dịch là tài khoản mở tại thành viên giao dịch để thực hiện giao dịch CKPS của khách hàng.

Thành viên giao dịch đặc biệt là ngân hàng thương mại và là thành viên của SGDCK được đầu tư CKPS trên TPCP.

Thành viên tạo lập thị trường là thành viên giao dịch, thành viên giao dịch đặc biệt được thực hiện hoạt động tạo lập thị trường cho một hoặc một số CKPS.

Thành viên bù trừ (TVBT) là công ty chứng khoán (CTCK), ngân hàng thương mại được thực hiện bù trừ, thanh toán giao dịch CKPS.

Thành viên bù trừ chung là thành viên bù trừ được bù trừ, thanh toán giao dịch CKPS của mình, các khách hàng môi giới của mình và cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch CKPS cho các thành viên không bù trừ và khách hàng của các thành viên không bù trừ đó.

Thành viên bù trừ trực tiếp là thành viên bù trừ chỉ được thực hiện bù trừ, thanh toán giao dịch CKPS của mình và các khách hàng môi giới của mình.

Giá tham chiếu là mức giá do SGDCK và được dùng làm cơ sở để xác định giá cao nhất (giá trần), giá thấp nhất (giá sàn) trong ngày giao dịch.

Giá thanh toán (settlement price) là giá khớp lệnh giao dịch HĐTL giữa các nhà đầu tư thông qua hệ thống giao dịch của SGDCK

Giá thanh toán cuối ngày (daily settlement price) là mức giá được xác định cuối ngày giao dịch để tính toán lãi lỗ hàng ngày của các vị thế, được VSD xác định giá dựa trên thông tin giá giao dịch HĐTL do SGDCK cung cấp. Trường hợp giá giao dịch không đáp ứng yêu cầu tính toán, VSD sẽ tính giá lý thuyết để thay thế.

Giá thanh toán cuối cùng (final settlement price) là mức giá được xác định tại ngày giao dịch cuối cùng để xác định nghĩa vụ thanh toán khi thực hiện hợp đồng. Giá thanh toán cuối cùng được VSD xác định theo nguyên tắc đối với HĐTL chỉ số là giá trị đóng cửa của chỉ số cơ sở tại ngày giao dịch cuối cùng, đối với HĐTL TPCP là giá thanh toán cuối ngày của hợp đồng được xác định tại ngày giao dịch cuối cùng.

Thực hiện hợp đồng là việc các bên tham gia giao dịch hợp đồng tương lai thực hiện việc mua hoặc bán tài sản cơ sở hoặc thanh toán khoản chênh lệch giữa giá thanh toán cuối ngày và giá thanh toán, giá thanh toán cuối cùng theo nội dung của hợp đồng và quy chế của VSD.

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc chứng khoán được chấp nhận ký quỹ để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán giao dịch CKPS của bên có nghĩa vụ.

Tài khoản ký quỹ là tài khoản được mở cho nhà đầu tư, thành viên bù trừ để quản lý tài sản ký quỹ và tài sản cơ sở để chuyển giao, hạch toán lãi lỗ vị thế hàng ngày và thực hiện hợp đồng.

Ký quỹ ban đầu là việc ký quỹ trước khi thực hiện giao dịch CKPS.

Giá trị ký quỹ duy trì yêu cầu là giá trị ký quỹ tối thiểu mà bên có nghĩa vụ phải duy trì và do VSD tính toán đối với số CKPS trên một tài khoản giao dịch.

Chứng khoán được làm tài sản ký quỹ gồm: TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh ngoại trừ tín phiếu Kho bạc; Chứng khoán niêm yết tại SGDCK (cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư ngoại trừ chứng chỉ quỹ ETF) và thuộc danh sách tài sản ký quỹ do VSD quy định.

Tỷ lệ ký quỹ bằng tiền là tỷ lệ giữa giá trị tài sản ký quỹ bằng tiền so với tổng giá trị tài sản phải ký quỹ.

Giá trị tài sản ký quỹ bao gồm số dư trên tài khoản tiền gửi ký quỹ và giá trị danh mục chứng khoán ký quỹ được xác định theo giá thị trường và tỷ lệ chiết khấu theo quy chế của VSD.

Tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ là tỷ lệ giữa giá trị ký quỹ duy trì yêu cầu với tổng giá trị tài sản ký quỹ hợp lệ.

Quỹ bù trừ là quỹ hình thành từ các khoản đóng góp của thành viên bù trừ với mục đích bồi thường thiệt hại và hoàn tất các giao dịch CKPS đứng tên thành viên bù trừ trong trường hợp thành viên bù trừ, nhà đầu tư mất khả năng thanh toán.

Bù trừ là quá trình xác định vị thế ròng để tính toán nghĩa vụ tài chính của các bên tham gia giao dịch.

Thế vị là việc giao dịch gốc giữa các thành viên bù trừ bên bán và bên mua sẽ được thay thế bằng giao dịch giữa TVBT bên bán với VSD và giao dịch giữa VSD với TVBT bên mua. Sau khi thế vị, VSD sẽ trở thành đối tác bù trừ trung tâm của các TVBT bên mua và bên bán.

Giao dịch đối ứng là việc mở một vị thế mua (hoặc bán) mới nhằm làm giảm vị thế bán (hoặc mua) đã mở trước đó.

Tài khoản giao dịch tổng là tài khoản giao dịch của nhà đầu tư mà các vị thế mua và bán của cùng một HĐTL (có cùng tài sản cơ sở và cùng tháng đáo hạn) được mở và duy trì cho đến khi TVBT có đề nghị thực hiện đối trừ trên cơ sở thỏa thuận hoặc yêu cầu của nhà đầu tư./.

UBCKNN đang lấy ý kiến Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 13/2013/TT-BTC ngày 25/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán.

UBCKNN đang lấy ý kiến Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 13/2013/TT-BTC ngày 25/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về Giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán.

Theo đó, bên cạnh Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (VSD) được đề xuất trở thành chủ thể giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán.

VSD sẽ giám sát Thành viên lưu ký (TVLK), Thành viên bù trừ (TVBT) trong việc tuân thủ các quy định pháp luật về chứng khoán và TTCK trong triển khai các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến VSD; giám sát tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ theo từng tài khoản của NĐT, TVBT; giám sát về giới hạn vị thế của Nhà đầu tư (NĐT) khi tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh.

Trách nhiệm của và quyền hạn của VSD là xây dựng quy chế, quy trình nghiệp vụ cho hoạt động bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh đảm bảo giám sát hiệu quả các hoạt động này; quản lý và giám sát việc duy trì các mức ký quỹ; xác định, điều chỉnh giới hạn vị thế đối với TVBT, NĐT theo quy định.

Bên cạnh đó, yêu cầu tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý của VSD có liên quan đến hoạt động bù trừ thanh toán chứng khoán phái sinh báo cáo, giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ công tác giám sát.

Trường hợp phát hiện dấu hiệu bất thường trong thanh toán giao dịch hoặc dấu hiệu NĐT, TVBT mất khả năng thanh toán, VSD cảnh báo, yêu cầu TVBT giải trình, cung cấp tài liệu và thông tin liên quan và kịp thời báo cáo UBCKNN, đồng thời thông báo cho SGDCK. Đồng thời, thông báo kịp thời cho SGDCK các trường hợp vi phạm tỷ lệ sử dụng tài sản ký quỹ, vi phạm giới hạn vị thế.

VSD cũng phối hợp với UBCKNN kiểm tra định kỳ hoặc bất thường đối với các đối tượng giám sát thuộc phạm vi quản lý của mình; xử lý theo thẩm quyền các trường hợp vi phạm, báo cáo UBCKNN xử lý theo quy định pháp luật trong trường hợp vượt quá thẩm quyền; lập và gửi UBCKNN báo cáo giám sát định kỳ, bất thường, theo yêu cầu và báo cáo phục vụ công tác giám sát,...

Dự thảo thông tư thay thế Thông tư số 13 cũng bổ sung thêm đối tượng giám sát trên thị trường chứng khoán. Theo đó, đối tượng giám sát là các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình giao dịch, cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán sẽ bao gồm tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch; thành viên giao dịch và thành viên giao dịch chứng khoán phái sinh (TVGD); thành viên lưu ký của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam (TVLK); Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán; SGDCK, VSD khi tham gia cung cấp các dịch vụ liên quan đến giao dịch chứng khoán; Công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh (TVBT); nhà đầu tư cá nhân, nhà đầu tư có tổ chức (NĐT); ngân hàng giám sát, ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ mở tài khoản tiền gửi đầu tư chứng khoán; các đối tượng liên quan.

Thu Phong, Dư Hoài

Thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh chính thức vận hành đang cận kề và sản phẩm đầu tiên được triển khai là hợp đồng tương lai chỉ số VN30.

[Infographic]

Thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh chính thức vận hành đang cận kề và sản phẩm đầu tiên được triển khai là hợp đồng tương lai chỉ số VN30.

Sở dĩ lựa chọn hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số cổ phiếu là sản phẩm đầu tiên vì xây dựng sản phẩm phái sinh trên trên chỉ số cổ phiếu sẽ đáp ứng được yêu cầu đa dạng hóa và hạn chế rủi ro của nhà đầu tư so với hợp đồng tương lai trên các cổ phiếu đơn lẻ.

Chỉ số VN30-Index và HNX30-Index sẽ là 2 chỉ số được chọn làm tài sản cơ sở cho hợp đồng tương lai chỉ số. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu vận hành thì hợp đồng tương lai với chỉ số VN30-Index được triển khai trước. VN30-Index đại diện cho 30 cổ phiếu niêm yết trên sàn HOSE, có vốn hóa thị trường và thanh khoản cao nhất cùng các yếu tố kỹ thuật khác, chiếm 80% tổng giá trị vốn hóa và 60% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường. Ngoài ra chỉ số VN30 đã được điều chỉnh để tính toán dựa trên tỷ lệ cổ phiếu lưu hành tự do có điều chỉnh, đồng thời có giới hạn quy mô vốn hóa tối đa (10%) của mỗi cổ phiếu trong rổ.

Dưới đây sẽ trình bày rõ các tiêu chí cần biết đối với một hợp đồng tương lai VN30 khi tham gia giao dịch loại hợp đồng này.

Trong giao dịch chứng khoán phái sinh (CKPS), nhà đầu tư được ký quỹ tài sản dưới hai hình thức: Tiền và chứng khoán (trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu niêm yết).

Trong giao dịch chứng khoán phái sinh (CKPS), nhà đầu tư được ký quỹ tài sản dưới hai hình thức: Tiền và chứng khoán (trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu niêm yết).

Tuy nhiên, tài sản ký quỹ bằng chứng khoán sẽ không được tính toàn bộ vào giá trị ký quỹ mà sẽ bị chiết khấu tùy theo từng loại, đồng thời phải đáp ứng yêu cầu theo quy định giá trị chứng khoán (đã chiết khấu) không được vượt quá 20% tổng giá trị tài sản ký quỹ.

Chứng khoán dùng làm tài sản ký quỹ sẽ được phong tỏa và hạch toán tương ứng tại Trung tâm lưu ký (VSD). Trường hợp nhà đầu tư mở tài khoản CKPS tại thành viên lưu ký không phải là thành viên bù trừ (TVBT), nhà đầu tư phải chuyển khoản chứng khoán sang tài khoản chứng khoán ký quỹ tại TVBT trước khi phong tỏa để ký quỹ cho giao dịch CKPS.

* Phải làm gì để tham gia thị trường chứng khoán phái sinh?

 

Sau khoảng thời gian dài chuẩn bị và hoàn thiện, thị trường phái sinh sẽ chính thức đi vào hoạt động trong thời gian tới với sản phẩm phái sinh đầu tiên được giao dịch là hợp đồng tương lai chỉ số ...

Kỳ 1

Sau khoảng thời gian dài chuẩn bị và hoàn thiện, thị trường phái sinh sẽ chính thức đi vào hoạt động trong thời gian tới với sản phẩm phái sinh đầu tiên được giao dịch là hợp đồng tương lai chỉ số (Index Futures). Dù thị trường phái sinh đã được hình thành và phát triển từ rất lâu nhưng đối với đại bộ phận nhà đầu tư thì đây vẫn là hình thức giao dịch khá mới mẻ. Như vậy, đâu là những điều nhà đầu tư cần lưu ý khi tham gia đầu tư vào thị trường này?

Chứng khoán phái sinh là gì?

Chứng khoán phái sinh là một công cụ tài chính có giá trị phụ thuộc vào giá của tài sản cơ sở. Về cơ bản, có thể hiểu Chứng khoán phái sinh là một loại hợp đồng về một giao dịch diễn ra trong tương lai nhưng được xác định trước ở thời điểm hiện tại.

Gắn với sự phát triển của thị trường phái sinh thế giới, số lượng sản phẩm phái sinh được ra đời trên thị trường cũng đã trở nên rất đa dạng. Nhìn chung, có thể phân chia chứng khoán phái sinh thành 4 loại chính:

1.    Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract): Là một thỏa thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước tại ngày giao dịch.

Khi thực hiện một hợp đồng kỳ hạn, hai bên mua và bán sẽ chủ động thống nhất các điều khoản và điều kiện về: tài sản cơ sở, giá, hình thức thanh toán, thời gian thanh toán… Và khi hợp đồng đến ngày đáo hạn, hai bên mua – bán có nghĩa vụ bắt buộc phải giao dịch hàng hóa.

Không giống như các hợp đồng tương lai và quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn dù đã tồn tại từ rất lâu nhưng đến nay vẫn chưa có một sàn giao dịch tập trung chính thức để giao dịch hợp đồng này. Do đó, hợp đồng kỳ hạn được giao dịch hoàn toàn trên thị trường phi tập trung (OTC), nơi diễn ra các trao đổi trực tiếp giữa hai bên cá nhân mua – bán và các định chế tài chính lớn.

2.    Hợp đồng tương lai (Futures Contract): Giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai là một thỏa thuận pháp lý giữa hai bên tham gia về việc mua và bán một loại tài sản tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá được xác định trước tại ngày giao dịch. Tuy vậy, điểm khác biệt lớn nhất so với hợp đồng kỳ hạn là hợp đồng tương lai đã được tiêu chuẩn hóa các điều khoản và được giao dịch chính thức trên một sàn giao dịch tập trung.

3.    Hợp đồng quyền chọn (Option Contract): Là một hợp đồng giữa hai bên người mua và người bán – trong đó cho người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá được thỏa thuận vào ngày hôm nay. Khi thực hiện giao dịch quyền chọn, người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là giá hay phí quyền chọn. Người bán quyền chọn sẳn sàng bán hoặc mua tài sản theo các điều khoản của hợp đồng khi người mua muốn.

4.    Hợp đồng hoán đổi (Swap Contract): Hợp đồng hoán đổi là một trong những công cụ “biến thể” phổ biến nhất từ việc kết hợp các loại hợp đồng phái sinh kể trên. Theo đó, hợp đồng hoán đổi là một thỏa thuận pháp lý trong đó hai bên đồng ý hoán đổi dòng tiền của công cụ tài chính của một bên với dòng tiền của công cụ tài chính của bên còn lại trong một khoản thời gian nhất định.  

Các đặc điểm của một hợp đồng tương lai

Về cơ bản, hợp đồng tương lai và hợp đồng kỳ hạn là hai sản phẩm phái sinh có bản chất khá tương đồng. Tuy vậy, với nhược điểm lớn nhất của hợp đồng kỳ hạn là không có tính thanh khoản cao và không có thị trường giao dịch tập trung, do đó sẽ đến những khó khăn nhất định cho các chủ thể giao dịch. Vì vậy, hợp đồng tương lai được ra đời với nhiệm vụ khắc phục những nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn. Một hợp đồng tương lai sẽ có những đặc điểm chính như sau:

1.    Được chuẩn hóa. Các điều khoản trong hợp đồng sẽ được tiêu chuẩn hóa bởi tổ chức quản lý thị trường là Sở Giao dịch Chứng khoán. Các điều khoản được chuẩn hóa sẽ được quy định tại Mẫu hợp đồng và bao gồm những điều khoản cụ thể về việc giao dịch và thanh toán của các bên.

2.    Được giao dịch trên thị trường tập trung. Khác với hợp đồng kỳ hạn – vốn chỉ được giao dịch trên thị trường OTC, hợp đồng tương lai có thể dễ dàng giao dịch trên thị trường tập trung theo nguyên tắc tương tự như giao dịch chứng khoán cơ sở. Việc tham gia vào một hợp đồng mới hoặc thoát khỏi một hợp đồng có thể được thực hiện thông qua hoạt động giao dịch mua/bán hợp đồng trên thị trường.

3.    Giá giao dịch hợp đồng biến động theo giá thị trường. Do được giao dịch liên tục trên thị trường nên giá của hợp đồng tương lai cũng biến động liên tục tương tự như giá của chứng khoán tại thị trường cơ sở. Khi giá của hợp đồng tương lai biến động, giá trị khoản tiền đầu tư của nhà đầu tư vào hợp đồng sẽ biến động theo. Cụ thể nhà đầu tư sẽ ghi nhận lãi trong trường hợp giá biến động theo chiều hướng có lợi hoặc ghi nhận lỗ trong trường hợp giá biến động theo chiều hướng bất lợi với vị thế nắm giữ của nhà đầu tư. Việc ghi nhận lãi/lỗ sẽ được thực hiện và hạch toán hằng ngày.

4.    Giảm thiểu rủi ro mất khả năng thanh toán. Để giảm thiểu rủi ro khi một bên mất khả năng thanh toán gây ảnh hưởng tới đối tác trong hợp đồng, việc thanh toán sẽ được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là Trung tâm Thanh toán Bù trừ (TTLKCK).

5.    Yêu cầu ký quỹ. Để đảm bảo tính toàn cho thị trường, TTLKCK yêu cầu tất cả nhà đầu tư tham gia mua hoặc/và bán hợp đồng phải nộp một khoản ký quỹ được gọi là Ký quỹ ban đầu cho Trung tâm, khi giá của hợp đồng tương lai biến động thì giá trị khoản ký quỹ này cũng sẽ biến động theo. Khi khoản ký quỹ này xuống thấp hơn mức kỹ quỹ được gọi là ký quỹ duy trì, thì nhà đầu tư phải bổ sung tiền/tài sản để tăng giá trị ký quỹ bằng mức ký quỹ tối thiểu ban đầu.

6.    Đòn bẩy tài chính cao. Như đã trình bày ở trên, nhà đầu tư khi tham gia giao dịch hợp đồng tương lai phải thực hiện ký quỹ để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán khi hợp đồng đáo hạn. Ký quỹ thường chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong giá trị của toàn bộ giá trị hợp đồng tương lai mà nhà đầu tư tham gia giao dịch. Vì vậy, hợp đồng tương lai trở thành một công cụ có mức độ đòn bẩy rất cao khi mà một lượng ký quỹ nhỏ có thể giúp nhà đầu tư tham gia vào các vị thế của hợp đồng với giá trị lớn hơn rất nhiều lần. Theo đó, khi dự đoán của nhà đầu tư về biến động giá của tài sản cơ sở trở thành hiện thực, nhà đầu tư sẽ kiếm được lợi nhuận rất lớn do hiệu ứng đòn bẩy từ vị thế hợp đồng tương lai mà mình nắm giữ.

Tại thị trường Việt Nam, hợp đồng phái sinh đầu tiên được lựa chọn để giao dịch là hợp đồng tương lai trên chỉ số chứng khoán. Cụ thể, tài sản cơ sở được lựa chọn là hai chỉ số chứng khoán VN30-Index, HNX30-Index và Trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm. Trong đó, nếu hai chỉ số VN30-Index và HNX30-Index được đón nhận rộng rãi bởi đại bộ phận nhà đầu tư cá nhân thì hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm nhiều khả năng sẽ chủ yếu diễn ra giữa các nhà đầu tư tổ chức.

Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán

Như đã giới thiệu ở các phần trên, khi giao dịch một hợp đồng phái sinh, hai bên mua và bán sẽ chủ động thống nhất các điều khoản và điều kiện về: tài sản cơ sở, giá, hình thức thanh toán, thời gian thanh toán… Vì vậy, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã công bố những quy định cơ bản về sản phẩm hợp đồng tương lai và những quy định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 02/06/2017: 

Các điều khoản của một hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán

Mẫu hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ dự kiến

(*) Thông tin chi tiết về các điều khoản được quy định của Hợp đồng Tương lai, xem thêm chi tiết tại đây.

Hợp đồng tương lai được thanh toán như thế nào?

Nguyên tắc thanh toán đối với một hợp đồng tương lai sẽ được quy định cụ thể tại mẫu hợp đồng. Cụ thể một hợp đồng tương lai có thể được thực hiện dưới 1 trong 2 hình thức sau đây:

1.    Thanh toán bằng hình thức chuyển giao vật chất. Phương thức thanh toán này áp dụng cho các hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở có thể chuyển giao (hàng hóa, trái phiếu, cổ phiếu…). Vào thời điểm đáo hạn, bên mua của hợp đồng tương lai sẽ thực hiện chuyển tiền và bên bán hợp đồng tương lai sẽ thực hiện chuyển giao tài sản cơ sở theo yêu cầu của Trung tâm thanh toán Bù trừ, thông qua hệ thống thanh toán của Trung tâm.

2.    Thanh toán bằng tiền mặt. Phương thức thanh toán này áp dụng cho các hợp đồng tương lai có tài sản cơ sở không thể chuyển giao (lãi suất, chỉ số chứng khoán, thời tiết…). Giá trị tiền thanh toán sẽ được tính trên lãi/ lỗ hàng ngày trên khoản ký quỹ của nhà đầu tư khi giá tài sản cơ sở có sự biến động trên thị trường.

Như vậy, tại thị trường phái sinh Việt Nam, với các sản phẩm phái sinh hiện tại bao gồm hợp đồng tương lai trên chỉ số chứng khoán và trái phiếu chính phủ thì cơ chế thanh toán trên hợp đồng chỉ số chứng khoán sẽ là phương thức thanh toán bằng tiền mặt và đối với trái phiếu chính phủ sẽ là hình thức chuyển giao vật chất.

Thị trường giao dịch hợp đồng tương lai

Mô hình các chủ thể tham gia thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh

 

Vai trò của các chủ thể trên thị trường chứng khoán phái sinh

Mô hình giao dịch hợp đồng tương lai trên thị trường

Nhà đầu tư sẽ giao dịch hợp đồng tương lai như thế nào?

 

Bảng giá điển hình của Hợp đồng tương lai

Cũng giống như cách trình bày bảng giá giao dịch cổ phiếu, bảng giá giao dịch hợp đồng tương lai cũng gồm những nội dung cơ bản của một hợp đồng tương lai. Cụ thể, bảng giá sẽ cho biết mã hợp đồng, tháng đáo hạn, giá tham chiếu, giá trần, giá sàn cùng các cột giá và khối lượng đặt mua/ bán.

 

(*) Thông tin chi tiết về mô hình chứng khoán phái sinh và các chủ thể trên thị trường, xem thêm chi tiết tại đây.

Nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh (CKPS) không chỉ để tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá, mà còn để phòng ngừa rủi ro.

[Infographic]

Nhà đầu tư tham gia vào thị trường chứng khoán phái sinh (CKPS) không chỉ để tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu cơ và kinh doanh chênh lệch giá, mà còn để phòng ngừa rủi ro.

Thời điểm thị trường chứng khoán phái sinh chính thức đi vào vận hành đang cận kề. Tuy nhiên, do đặc thù rất mới và phức tạp của thị trường này, nhà đầu tư cần chuẩn bị cả về kiến thức và tâm lý. Sự hiểu rõ thị trường sẽ giúp nhà đầu tư tham gia một cách hiệu quả nhất.

Dưới đây sẽ trình bày khái quát những bước cơ bản cho các nhà đầu tư muốn gia nhập thị trường đầy hấp dẫn này.

Ngày mai (02/06), thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam sẽ chưa bắt đầu hoạt động. Ngày vận hành chính thức cho thị trường mới này tới nay chưa được xác định cụ thể.

Ngày mai (02/06), thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam sẽ chưa bắt đầu hoạt động. Ngày vận hành chính thức cho thị trường mới này tới nay chưa được xác định cụ thể.

Chiều ngày 01/06, đề cập đến ngày giao dịch chính thức của thị trường phái sinh Việt Nam, ông Nguyễn Sơn – Chủ tịch HĐQT Trung tâm lưu ký (VSD) cho biết, ngày 02/06 chỉ là thời gian dự kiến áp dụng chứ các cơ quan liên quan chưa hề có thông báo nào về ngày chính thức giao dịch của thị trường phái sinh. Ông Sơn cũng cho biết thêm hiện vẫn chưa chốt ngày vận hành thị trường chứng khoán phái sinh.

Trước đó, cách đây khoảng nửa tháng, Sở GDCK Hà Nội (HNX) công bố quy định về thời gian giao dịch cho hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (từ 8h45 đến 14h45) sẽ có hiệu lực chính thức từ ngày 02/06/2017.

Các thông tin trên thị trường cũng đều hướng đến mốc thời gian sẽ vận hành chứng khoán phái sinh tại Việt Nam là ngày 02/06/2017.

Tính đến nay, đã có 7 công ty chứng khoán chính thức được cấp phép kinh doanh chứng khoán phái sinh là SSI, HCM, BSI, VND, VCSC, VPBSMBS. Bên cạnh đó, một số công ty cũng đã triển khai phổ cập kiến thức về kênh đầu tư mới cho đội ngũ môi giới cũng như nhà đầu tư trên thị trường song song với triển khai cho phép mở tài khoản giao dịch phái sinh./.

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) thông báo giới hạn vị thế áp dụng đối với hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số cổ phiếu VN30/HNX30 với nhà đầu tư cá nhân là 5,000 hợp đồng.

Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) thông báo giới hạn vị thế áp dụng đối với hợp đồng tương lai (HĐTL) chỉ số cổ phiếu VN30/HNX30 với nhà đầu tư cá nhân là 5,000 hợp đồng.

Với nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, giới hạn vị thế áp dụng là 20,000 HĐTL và 10,000 HĐTL áp dụng cho nhà đầu tư tổ chức.

Vị thế một chứng khoán phái sinh (CKPS) tại một thời điểm là trạng thái giao dịch và khối lượng chứng khoán phái sinh còn hiệu lực mà nhà đầu tư đang nắm giữ tính đến thời điểm đó. Nhà đầu tư mua hoặc bán một CKPS được gọi là mở vị thế mua hoặc mở vị thế bán CKPS đó.

Giới hạn vị thế một CKPS là vị thế ròng tối đa của CKPS đó hoặc của CKPS đó và CKPS khác dựa trên cùng một tài sản cơ sở mà nhà đầu tư được quyền nắm giữ tại một thời điểm./.

UBCKNN đã cấp cho CTCP Chứng khoán TP.HCM (HSC, HOSE: HCM) giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh và giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch ...

UBCKNN đã cấp cho CTCP Chứng khoán TP.HCM (HSC, HOSE: HCM) giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh và giấy chứng nhận đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.

 

Như vậy, HSC là công ty chứng khoán (CTCK) thứ 7 được cấp phép cho hoạt động này sau CTCK MB (MBS), CTCK VNDirect (VND), CTCK BIDV (BSI), CTCP VPBank (VPBS), CTCK Sài Gòn (SSI) và CTCK Bản Việt (VCSC).

Được biết, sẽ có 8 CTCK vận hành cùng thị trường chứng khoán phái sinh trong thời gian đầu.

Tài liệu đính kèm:
011_2017.5.26_353330f_Giay_CN_DDKKD_CKPS.pdf
011_2017.5.26_8eb9111_CBTT18___HSC.pdf
011_2017.5.26_9608a1f_Giay_CN_DDK_DV_bu_tru_TT_GDPS.pdf

Như vậy, Chứng khoán Bản Việt là công ty chứng khoán thứ 6 được cấp phép cho hoạt động này.

Như vậy, Chứng khoán Bản Việt là công ty chứng khoán thứ 6 được cấp phép cho hoạt động này.

 

Ngày 25/05, UBCKNN đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh cho CTCP Chứng Khoán Bản Việt . Theo đó, Chứng khoán Bản Việt được phép thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán phái sinh gồm môi giới, tự doanh và tư vấn đầu tư chứng khoán phái sinh; cũng như đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.

Hiện Chứng khoán Bản Việt là công ty chứng khoán (CTCK) thứ 6 được cấp phép cho hoạt động này.

Trước đó, UBCKNN đã công bố danh tính 5 CTCK đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh gồm CTCK MB (MBS), CTCK VNDirect (VND), CTCK BIDV (BSI), CTCP VPBank (VPBS) và CTCK Sài Gòn (SSI).

Ngoài ra, UBCKNN cũng công bố một số CTCK đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh gồm SSI, VND, BSI và VPBS.

Được biết, sẽ có 8 CTCK vận hành cùng thị trường chứng khoán phái sinh trong thời gian đầu./.

UBCK Nhà nước đã công bố danh tính một số công ty chứng khoán (CTCK) đầu tiên đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh.

UBCK Nhà nước đã công bố danh tính một số công ty chứng khoán (CTCK) đầu tiên đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh.

Được biết, sẽ có 8 CTCK vận hành cùng thị trường chứng khoán phái sinh trong thời gian đầu. Hiện UBCKNN đã công bố danh tính 4 CTCK đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh gồm CTCK MB (MBS), CTCK VNDirect (VND), CTCK BIDV (BSI) và CTCP VPBank (VPBS).

Ngoài ra, UBCKNN cũng công bố một số CTCK đủ điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh gồm VND, BSI và VPBS.

Mới đây, CTCK Sài Gòn (SSI) cũng công bố UBCKNN đã cấp phép cho SSI đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh và cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh.

Đánh tiếng về hoạt động này, VND và SSI cho biết đã sẵn sàng vận hành hệ thống giao dịch, chuẩn bị đầy đủ về hạ tầng công nghệ và nhân sự cho thị trường chứng khoán phái sinh.

Về quy định tổ chức kinh doanh chứng khoán phái sinh, ngoài yêu cầu theo Nghị định 42/2015/NĐ-CP, CTCK phải trích lập đầy đủ các khoản dự phòng, không có lỗ trong 2 năm gần nhất, tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 220% trong 12 tháng, BCTC năm gần nhất đã được kiểm toán và có ý kiến chấp nhận toàn bộ, không có ngoại trừ hoặc lưu ý.

CTCK, ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh khi đáp ứng các yêu cầu của Nghị định 42/2015/NĐ-CP, đồng thời đáp ứng yêu cầu đối với CTCK là trích lập đầy đủ các khoản dự phòng, không có lỗ trong 2 năm gần nhất, tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 260% trong 12 tháng gần nhất, đối với ngân hàng thương mại phải đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của pháp luật về tổ chức tín dụng trong 12 tháng gần nhất.

Nghị định 42/2015/NĐ-CP:

  • Điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh: CTCK có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu từ 600 tỷ với hoạt động tự doanh và từ 800 tỷ đồng với hoạt động môi giới…
  • Điều kiện cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh: Ngân hàng thương mại có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu từ 5,000 tỷ, CTCK có vốn từ 900 tỷ đồng với thành viên bù trừ trực tiếp và ngân hàng thương mại có vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu từ 7,000 tỷ, CTCK có vốn từ 1,200 tỷ đồng với thành viên bù trừ chung…

Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BTC hợp nhất Thông tư số 11/2016/TT-BTC và Thông tư số 23/2017/TT-BTC.

Mới đây, Bộ Tài chính đã ban hành Văn bản hợp nhất số 08/VBHN-BTC hợp nhất Thông tư số 11/2016/TT-BTC và Thông tư số 23/2017/TT-BTC.

Theo đó, Văn bản quy định rõ nhà đầu tư phải đảm bảo vị thế trên tài khoản giao dịch trong giới hạn vị thế theo quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam. Trường hợp vượt giới hạn vị thế, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện các giao dịch đối ứng để giảm vị thế, bổ sung ký quỹ (nếu cần thiết) trong thời hạn theo quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.

Sau thời hạn quy định, nhà đầu tư không hoàn tất việc giảm vị thế thì thành viên bù trừ được thực hiện lệnh giao dịch đối ứng để đóng một phần hoặc toàn bộ vị thế của nhà đầu tư. Trường hợp thành viên bù trừ không thực hiện giao dịch đối ứng để đóng vị thế của nhà đầu tư, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam được thực hiện lệnh giao dịch đối ứng để đóng một phần hoặc toàn bộ vị thế của nhà đầu tư đứng tên thành viên bù trừ.

Đặc biệt, Văn bản còn cho phép nhà đầu tư được mở nhiều tài khoản giao dịch chứng khoán phái sinh theo nguyên tắc tại mỗi thành viên giao dịch chỉ được mở một (01) tài khoản giao dịch. Ứng với mỗi tài khoản giao dịch, nhà đầu tư được mở tài khoản ký quỹ tại thành viên bù trừ được chỉ định.

Ngoài ra, Văn Bản nêu rõ tổ chức kinh doanh chứng khoán được kinh doanh chứng khoán phái sinh sau khi đã được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh. Điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh bao gồm:

a) Là tổ chức kinh doanh chứng khoán đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 42/2015/NĐ-CP;

b) Trích lập đầy đủ các khoản dự phòng theo quy định và không có lỗ trong hai (02) năm gần nhất; tỷ lệ vốn khả dụng đạt tối thiểu 220% liên tục trong mười hai (12) tháng gần nhất trước tháng nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh ;

c) Báo cáo tài chính của năm tài chính gần nhất đã được kiểm toán và báo cáo tài chính bán niên gần nhất đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận. Ý kiến của kiểm toán tại các báo cáo tài chính này phải là chấp nhận toàn bộ, không có ngoại trừ hoặc lưu ý.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh

a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước ;

b) Biên bản họp, Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng thànhviên hoặc Quyết định của chủ sở hữu về việc thực hiện kinh doanh chứng khoán phái sinh;

c) Các tài liệu hợp lệ chứng minh tổ chức kinh doanh chứng khoán đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều này;

d) Danh sách kèm theo hồ sơ cá nhân Giám đốc (Tổng giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng giám đốc) phụ trách nghiệp vụ và các nhân viên cho mỗi hoạt động kinh doanh chứng phái sinh theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước;

đ) Các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình quản trị rủi ro áp dụng cho hoạt động chứng khoán phái sinh dự kiến thực hiện;

e) Bản thuyết trình về cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng công nghệ thông tin với các hệ thống phù hợp (hệ thống giao dịch; hệ thống bù trừ, thanh toán).

Về quy đinh ký quỹ, thành viên bù trừ chỉ được sử dụng tài sản ký quỹ trên tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư để ký quỹ, bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, thực hiện thanh toán cho các vị thế trên tài khoản giao dịch tương ứng của chính nhà đầu tư đó; không được sử dụng để bảo đảm, hỗ trợ thanh toán, thực hiện thanh toán cho các tài khoản giao dịch khác, kể cả tài khoản thuộc sở hữu của cùng một nhà đầu tư; không được sử dụng làm tài sản bảo đảm hoặc để thanh toán cho các mục đích khác hoặc cho bên thứ ba, ngoại trừ quy định tại điểm d, đ khoản này; không được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho các khoản vay của mình hoặc sử dụng để đầu tư. Lãi tiền gửi sẽ được hoàn trả cho nhà đầu tư theo lãi suất không kỳ hạn do ngân hàng thanh toán công bố;

Ngoài ra, tài sản ký quỹ của nhà đầu tư phải được quản lý tách biệt, không phải và không được coi là tài sản của thành viên bù trừ, kể cả khi đã được ký quỹ trên tài khoản ký quỹ thành viên. Trường hợp thành viên bù trừ bị phá sản, tài sản ký quỹ của nhà đầu tư phải được hoàn trả hết cho nhà đầu tư sau khi đã hoàn tất nghĩa vụ thanh toán của chính nhà đầu tư đó;

Trong trường hợp nhà đầu tư mất khả năng thanh toán, thành viên bù trừ được sử dụng, bán hoặc chuyển giao tài sản ký quỹ mà không cần sự chấp thuận của nhà đầu tư. Trong vòng một ngày trước khi và sau khi xử lý tài sản ký quỹ, thành viên bù trừ phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư về việc xử lý tài sản ký quỹ. Thông báo phải nêu rõ lý do, loại tài sản đã xử lý, phương thức và thời gian dự kiến xử lý (hoặc đã xử lý), giá trị dự ki ến thực hiện (hoặc đã thực hiện).

Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam có quyền sử dụng tài sản ký quỹ của nhà đầu tư và của thành viên bù trừ đã nộp cho Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam để hỗ trợ thanh toán cho các vị thế của nhà đầu tư và của thành viên bù trừ. Trong thời gian ký quỹ, nhà đầu tư, thành viên bù trừ vẫn được nhận các quyền và lợi ích phát sinh liên quan tới chứng khoán ký quỹ theo quy định pháp luật doanh nghiệp và pháp luật chứng khoán. Việc xử lý bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư đối với chứng khoán ký quỹ thực hiện theo quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam./.

Sở GDCK Hà Nội (HNX) vừa ban hành Quy chế thành viên Thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) tại HNX, quy định cụ thể về yêu cầu hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ giao dịch CKPS và hồ sơ thủ tục ...

Sở GDCK Hà Nội (HNX) vừa ban hành Quy chế thành viên Thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) tại HNX, quy định cụ thể về yêu cầu hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ giao dịch CKPS và hồ sơ thủ tục đăng ký làm thành viên TTCKPS. Với việc ban hành Quy chế này, hệ thống văn bản pháp quy về thành viên thị trường về cơ bản đã hoàn tất để chuẩn bị cho ngày mở cửa TTCKPS vào quý 3/2017.

Theo đó, các công ty chứng khoán (CTCK), Ngân hàng thương mại (NHTM) cần có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng quy định về hạ tầng công nghệ thông tin kết nối đến Sở GDCK và đảm bảo yêu cầu kết nối với hệ thống giao dịch chứng khoán phái sinh của Sở GDCK. Bên cạnh đó, các CTCK, NHTM cần có phần mềm phục vụ giao dịch, thanh toán đáp ứng yêu cầu kỹ thuật; đáp ứng các quy định về quy trình nghiệp vụ và hoàn thiện các bước về hồ sơ, thủ tục đăng ký. Các CTCK phải có trang thông tin điện tử đảm bảo thực hiện việc công bố thông tin giao dịch CKPS và thông tin công bố của CTCK.

Đối với CTCK, NHTM đã chấm dứt tư cách thành viên trên TTCKPS, Quy chế cũng quy định về thời gian cần thiết để đăng ký lại thành viên trong trường hợp bị chấm dứt tư cách thành viên tự nguyện là 2 năm, trường hợp bị chấm dứt bắt buộc là 3 năm.

Theo Quy chế này, CTCK có quyền nhận các thông tin cung cấp theo hợp đồng ký kết với Sở GDCK. NHTM có quyền kết nối và thực hiện giao dịch trên hệ thống giao dịch CKPS và sử dụng các dịch vụ dành cho thành viên giao dịch đặc biệt do Sở GDCK cung cấp. Các CTCK, NHTM có nghĩa vụ phải duy trì điều kiện làm thành viên giao dịch, thành viên giao dịch đặc biệt theo quy định của Nghị định 42/2015/NĐ-CP, Thông tư 11/2016/TT-BTC và Quy chế thành viên TTCKPS.

Đối với thành viên tạo lập thị trường, Quy chế đã đưa ra các quy định chi tiết về hồ sơ và thủ tục, trong đó để đăng ký trở thành thành viên tạo lập thị trường, các CTCK, NHTM phải thử nghiệm chức năng yết giá, ký hợp đồng tạo lập thị trường với Sở GDCK và đăng ký tài khoản thực hiện nghiệp vụ tạo lập thị trường.

Ngoài ra, Quy chế này cũng quy định chế độ báo cáo, chế độ công bố thông tin đối với từng loại thành viên của TTCKPS, các quy định về đại diện giao dịch, cách thức giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm thành viên.

Trước đó, để chuẩn bị hành lang pháp lý cho TTCKPS, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các Nghị định 42/2015/NĐ-CP về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh, Thông tư 11/2016/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Thông tư 23/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BTC./.

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 23/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/1/2016 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015 của ...

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 23/2017/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2016/TT-BTC ngày 19/1/2016 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 5/5/2015 của Chính phủ về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh. Thông tư có hiệu lực từ ngày 1/5/2017.

Cụ thể, Thông tư 23 đã bổ sung thêm định nghĩa tài khoản giao dịch tổng. Theo đó, tài khoản giao dịch tổng là tài khoản giao dịch của nhà đầu tư mà các vị thế mua và bán của cùng một hợp đồng tương lai (có cùng tài sản cơ sở và cùng tháng đáo hạn) được mở và duy trì cho đến khi thành viên bù trừ có đề nghị thực hiện đối trừ trên cơ sở thỏa thuận hoặc yêu cầu nhà đầu tư.

Đồng thời, Thông tư này cũng sửa đổi, bổ sung thêm điều kiện khi thực hiện giao dịch chứng khoán phái sinh. Đó là nhà đầu tư phải đảm bảo vị thế trên tài khoản giao dịch trong giới hạn vị thế theo quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam. Trường hợp vượt giới hạn vị thế, nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện các giao dịch đối ứng để giảm vị thế, bổ sung ký quỹ trong thời hạn theo quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.

Sau thời hạn quy định, nhà đầu tư không hoàn tất việc giảm vị thế thì thành viên thanh toán bù trừ được thực hiện lệnh giao dịch đối ứng để đóng một phần hoặc toàn bộ vị thế của nhà đầu tư. Trường hợp thành viên bù trừ không thực hiện giao dịch đối ứng để đóng vị thế của nhà đầu tư, Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam được thực hiện lệnh giao dịch đối ứng để đóng một phần hoặc toàn bộ vị thế của nhà đầu tư đứng trên thành viên bù trừ.

Bên cạnh đó, Thông tư 23 còn bổ sung thêm các trường hợp nhà đầu tư được mở tài khoản giao dịch tổng bao gồm: Công ty quản lý quỹ theo quy định tại khoản 2 điều này được mở một tài khoản giao dịch tổng cho nhà đầu tư ủy thác trong nước và một tài khoản cho nhà đầu tư ủy thác nước ngoài; Công ty chứng khoán thành lập ở nước ngoài quy định tại khoản 3 điều này được mở một tài khoản giao dịch tổng để thực hiện hoạt động môi giới chứng khoán phái sinh cho các nhà đầu tư nước ngoài và các trường hợp khác theo hướng dẫn của Trung tâm lưu ký chứng khoán.

Ngoài ra, Thông tư 23 cũng cho phép thành viên bù trừ mở tài khoản tiền gửi ký quỹ cho nhà đầu tư đứng tên thành viên bù trừ theo quy định tại điểm a khoản 4 điều 26 Nghị định số 42/2015 và có trách nhiệm tách biệt tiền gửi ký quỹ tới từng nhà đầu tư. Tiền gửi ký quỹ này thuộc sở hữu của nhà đầu tư, không thuộc sở hữu của thành viên bù trừ. Thành viên bù trừ được sử dụng tài khoản tiền gửi ký quỹ của Nhà đầu tư theo quy định tại khoản 2 điều này.

Thành viên bù trừ mở cho mỗi nhà đầu tư một tài khoản chứng khoán ký quỹ để quản lý tài sản ký quỹ và thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho vị thế trên tài khoản giao dịch của nhà đầu tư. Thành viên không được bù trừ mở tài khoản chứng khoán ký quỹ tại thành viên bù trừ chung.

Đối với trường hợp thanh toán lỗ lãi vị thế, Thông tư quy định rõ tại ngày giao dịch trước ngày giao dịch cuối cùng, giá trị khoản thanh toán lãi lỗ vị thế được xác định hàng ngày trên cơ sở các vị thế mở cửa tài khoản giao dịch của nhà đầu tư và chênh lệch giữa giá thanh toán cuối ngày so với giá thanh toán cuối ngày của giao dịch liền trước; hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán cuối ngày so với giá thanh toán (đối với vị thế vừa mở trong ngày); hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán so với giá thanh toán cuối ngày của ngày giao dịch liền trước (đối với trường hợp đóng vị thế trước hạn); hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán đóng vị thế so với giá thanh toán mở vị thế (đối với trường hợp mở và đóng vị thế trong ngày giao dịch).

Còn tại cùng giao dịch cuối cùng, giá trị khoản thanh toán lãi lỗ vị thế được xác định trên cơ sở các vị thế mở trên tài khoản giao dịch của nhà đầu tư và chênh lệch giữa giá thanh toán ngày cuối cùng so với giá thanh toán cuối ngày của ngày giao dịch liền trước; hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán cuối cùng so với giá thanh toán (đối với vị thế vừa mở cửa trong ngày; hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán so với giá thanh toán của ngày giao dịch liền trước (đối với trường hợp đóng vị thế trước hạn); hoặc chênh lệch giữa giá thanh toán đóng vị thế so với giá thanh toán mở vị thế (đối với trường hợp mở và đóng vị thể trong ngày giao dịch).

Các mức giá trên được công bố trên trang thông tin điện tử của Sở giao dịch chứng khoán.

Đối với trường hợp thanh toán khi thực hiện hợp đồng, nếu là hợp đồng thanh toán dưới hình thức bằng tiền thì việc thanh toán hợp đồng được hoàn tất khi hoàn tất thanh toán lãi lỗ vị thế của ngày giao dịch cuối cùng. Còn đối với hợp đồng thanh toán dưới hình thức chuyển giao tài sản cơ sở thì nhà đầu tư bên bán phải chuyển giao tài sản cơ sở và nhà đầu tư bên mua phải thanh toán tiền theo điều khoản tại hợp đồng và quy chế của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam...

Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01/05/2017./.

Năm 2017, Bộ Tài chính sẽ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020. Trong đó, trên thị trường thứ cấp, đưa thị trường phái sinh trái phiếu đi ...

Năm 2017, Bộ Tài chính sẽ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020. Trong đó, trên thị trường thứ cấp, đưa thị trường phái sinh trái phiếu đi vào hoạt động trong quý 1/2017.

Ngày 18/01/2017, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã tổ chức Hội nghị Thành viên thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP) đầu năm 2017. Thông qua Hội nghị, Đại diện lãnh đạo Vụ Tài chính Ngân hàng - Bộ Tài chính đánh giá, thị trường TPCP năm 2016 có khối lượng phát hành đạt mức cao nhất từ trước đến nay, kỳ hạn phát hành được cải thiện rõ rệt, lãi suất phát hành có xu hướng giảm, công tác tái cơ cấu danh mục nợ TPCP được triển khai có hiệu quả và cơ sở nhà đầu tư cải thiện tích cực. Cùng với đó, khung khổ chính sách của thị trường TPCP tiếp tục được hoàn thiện với 3 Nghị định, 1 Thông tư liên tịch, 1 Quyết định của Thủ tướng CP, 2 Quyết định của Bộ Tài chính.

Lãnh đạo Vụ Tài chính Ngân hàng cũng cho biết, mục tiêu huy động vốn của năm 2017 dự kiến là 250,000 tỷ đồng TPCP, 34,395 tỷ đồng trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, 8,000-10,000 tỷ đồng trái phiếu CQĐP.

Đặc biệt, sang năm 2017, Bộ Tài chính sẽ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020. Trong đó, về các giải pháp điều hành thị trường, phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ phải tăng cường hơn nữa. Trên thị trường sơ cấp, sẽ thí điểm phát hành TPCP có lãi suất thả nổi từ quý 2, tiếp tục phát hành TPCP kỳ hạn dài 20, 30 năm; trên thị trường thứ cấp, đưa thị trường phái sinh trái phiếu đi vào hoạt động trong quý 1/2017; về thanh toán, thực hiện cơ chế chuyển chức năng thanh toán TPCP sang NHNN trong quý 1/2017; về phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), xây dựng cơ sở dữ liệu phát hành TPDN để củng cố việc công bố thông tin trên thị trường TPDN.

Mặt khác, trong năm 2017, Kho bạc Nhà nước sẽ phát hành đa dạng các loại kỳ hạn trái phiếu (từ dưới 1 năm đến 30 năm), trong đó kỳ hạn từ dưới 1 năm đến 3 năm chiếm khoảng 20%; kỳ hạn từ 5 năm đến 10 năm chiếm khoảng 60%, kỳ hạn từ 15 năm trở lên chiếm khoảng 20%. Về sản phẩm phát hành , tiếp tục duy trì phát hành 3 sản phẩm là trái phiếu thanh toán lãi định kỳ 01 năm/1 lần; trái phiếu có kỳ hạn trả lãi đầu tiên ngắn hoặc dài hơn kỳ hạn chuẩn (long short coupon bond) và trái phiếu không thanh toán lãi định kỳ (zero coupon bond).

Với chức năng tổ chức, điều hành thị trường, năm 2017 HNX đặt ra các chương trình hành động hướng đến 3 mục tiêu chính gồm đa dạng hóa sản phẩm, tăng tính thanh khoản thị trường và tối đa hóa minh bạch thông tin thị trường.

Theo đó, đối với thị trường TPCP, HNX sẽ xúc tiến việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương xanh trên cơ sở nhu cầu của tổ chức phát hành; phát triển hệ thống giao dịch trái phiếu có lãi suất thả nổi; chuẩn bị các điều kiện để bổ sung thành viên giao dịch là KBNN, ra mắt 2 sản phẩm Repos mới là vay TPCP để bán và bán/mua lại (sell/buy back). Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), HNX sẽ hoàn thiện Đề án phát triển thị trường TPDN (theo tiến độ yêu cầu của UBCKNN), hoàn thiện dự thảo Thông tư phát hành TPDN, xây dựng Cổng thông tin TPDN.

Điểm lại tình hình năm vừa qua, đại diện lãnh đạo Kho bạc Nhà nước cho biết thêm, thị trường TPCP sơ cấp năm 2016 tăng trưởng gấp hơn 1.4 lần so với năm 2015 với tổng khối lượng phát hành của KBNN đạt 281,750 tỷ đồng, tất cả đều được đấu thầu qua HNX, đảm bảo công khai minh bạch và bình đẳng với các nhà đầu tư trên thị trường. Quy mô thị trường TPCP ngày càng mở rộng, tính đến 31/12/2016, dư nợ TPCP đạt khoảng 26% GDP.

Song song với đó, kỳ hạn vay bình quân năm 2016 đạt 8.71 năm, tăng 1.73 năm so với năm 2015, giúp kéo dài kỳ hạn còn lại của danh mục nợ TPCP từ mức 4.44 năm (năm 2015) lên mức lên 5.98 năm (năm 2016). Về cơ cấu nhà đầu tư, tỷ trọng nhà đầu tư nước ngoài tăng từ 8.35% (năm 2015) lên 12.38% (năm 2016); tỷ trọng nhà đầu tư là các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính tăng lên 20.13%, tỷ lệ sở hữu của khối các NHTM giảm xuống còn 51.7%./.

Trong năm 2017, Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCK) cho biết sẽ triển khai bước đầu hai sản phẩm phái sinh tài chính trong khi nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động hàng hóa nông sản hay nguyên vật liệu ...

Trong năm 2017, Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCK) cho biết sẽ triển khai bước đầu hai sản phẩm phái sinh tài chính trong khi nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động hàng hóa nông sản hay nguyên vật liệu đối với người nông dân và doanh nghiệp cũng rất cần thiết. Phải chăng nhà tạo lập chính sách đã bỏ quên người nông dân khi xây dựng TTCK phái sinh?

Hội thảo “Triển khai sản phẩm phái sinh ở Việt Nam – những thách thức và chính sách” do khoa Tài chính, trường Đại học Kinh té TPHCM tổ chức sáng ngày 06/01

Tại hội thảo “Triển khai sản phẩm phái sinh ở Việt Nam – những thách thức và chính sách”, bà Nguyễn Thị Ngọc Trang, Phó GS.TS khoa Tài chính – Đại học Kinh tế TPHCM chia sẻ lịch sử sản phẩm phái sinh là bắt nguồn từ nhu cầu phòng ngừa rủi ro giá cả hàng hóa nông sản cho người nông dân. Đặc biệt là đối với nền kinh tế Việt Nam với gốc là nông nghiệp và người nông dân lại đang đứng trước quá nhiều rủi ro về độ bất ổn trong biến động giá cả nông sản. Do đó, tại sao Việt Nam không tập trung xây dựng sàn giao dịch nông sản giao sau, Ủy ban chứng khoán nhà nước không dồn tâm huyết để nghiên cứu và triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá cho nền sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam trước?

Theo bà, hai sản phẩm phái sinh mà Ủy ban sắp đưa ra trong năm 2017 gồm hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (VN30, HNX30) và trái phiếu Chính phủ không hề đáp ứng nhu cầu phòng ngừa rủi ro biến động giá cả cho người nông dân hay giá cả nguyên vật liệu cho doanh nghiệp mà chỉ phục vụ cho nhu cầu đầu tư. Nên chăng nhà làm chính sách cần đi vào thực tế, thiết kế những sản phẩm phù hợp với người nông dân và doanh nghiệp hơn?

Đại diện của UBCK cho biết thực tế lộ trình phát triển TTCK phái sinh đã có và chia làm ba giai đoạn. Dưới góc độ nhà chính sách thì cần phát triển từng bước, từng giai đoạn cụ thể. Hiện nay, TTCK phái sinh Việt Nam mới chỉ đang nằm ở giai đoạn 2 (2016-2020), giai đoạn chuẩn  bị cơ sở pháp lý và nền tảng hệ thống cho những sản phẩm phái sinh thô sơ nhất.

Trong quá trình nghiên cứu và học tập việc xây dựng TTCK phái sinh ở các nước đi trước trên thế giới mà đặc biệt là Thái Lan, lời khuyên nhà làm chính sách nhận được là cần làm từng bước thận trọng và bước đầu tiên nên xây dựng hai sản phẩm phái sinh là hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (VN30, HNX30) và trái phiếu Chính phủ, bước tiếp theo mới phát triển thêm các sản phẩm khác như quyền chọn và sau năm 2020 mới thực sự có sản phẩm phái sinh cho người nông dân phòng ngừa biến động giá cả nông sản…

Nguyên nhân lựa chọn 2 sản phẩm phái sinh này triển khai đầu tiên là do tính đơn giản và không quá phức tạp của nó. Ngoài ra, bên cạnh công dụng phòng ngừa thì sản phẩm phái sinh còn công dụng khác là hỗ trợ phát triển sản phẩm cơ sở thông qua thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Việc thu hút vốn ngoại là một mục tiêu quan trọng mà Chính phủ đang theo đuổi và để thu hút thì cần có nhiều sản phẩm đầu tư và công cụ phòng ngừa rủi ro cho các quỹ đầu tư nước ngoài.

Bổ sung thêm, ông Trịnh Hoài Giang, Phó TGĐ Chứng khoán Hồ Chí Minh (HCM) cho biết tại Công ty đã tiến hành chạy thử sản phẩm phái sinh hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu thì nhận thấy giao dịch đơn giản, dễ thực hiện chứ không hề phức tạp như suy nghĩ ban đầu.

Đồng thời, cũng chính sự thận trọng làm từng bước trong các chính sách để cho ra đời TTCK phái sinh mà ông Giang cho rằng không nên quá kỳ vọng bởi phạm vi TTCK phái sinh ra đời trong năm 2017 là rất hạn chế.

Ngoài ra, tại Hội thảo nhiều chuyên gia cùng các CTCK và nhà quản lý đều nhìn nhận để TTCK phái sinh phát triển được thì cần các yếu tố như thanh khoản thị trường cơ sở đã đủ lớn chưa; hạ tầng cơ sở của Sở giao dịch, CTCK, ngân hàng, trung tâm lưu ký về hệ thống giao dịch có đủ đáp ứng nhu cầu; vấn đề quản lý quản trị rủi ro, ký quỹ ra sao và cơ sở pháp lý. Hơn nữa, một vấn đề không kém phần quan trọng là công tác truyền tải thông tin, kiến thức cho nhân viên CTCK, nhà đầu tư. Người tham gia TTCK phái sinh cần có kiến thức nhất định để nắm rõ rủi ro./.

Đang tải dữ liệu...

Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng