Hiệp định TPP

Doanh nghiệp săm lốp Việt có lợi thế am hiểu thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm vượt trội.

Doanh nghiệp săm lốp Việt có lợi thế am hiểu thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm vượt trội.

Lốp Radial là cơ hội phát triển cho ngành săm lốp tại Việt Nam.

Với lợi thế nguồn nguyên liệu cao su tự nhiên dồi dào và nhân công giá rẻ, Việt Nam đang thu hút một số thương hiệu săm lốp hàng đầu thế giới tham gia đầu tư. Các nhà máy tỉ đô của Kumho (Hàn Quốc) và Bridgestone (Nhật) lần lượt ra đời và đưa vào hoạt động trong thời gian qua là ví dụ. Bước đầu, sản phẩm của các nhà máy này được xuất khẩu để phục vụ cho thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, cũng chính sự xuất hiện của các nhà máy với quy mô sản xuất lớn, thương hiệu lâu đời cộng thêm việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết WTO, AFTA và sắp tới có thể là TPP lại tạo ra những thách thức sống còn cho ngành săm lốp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt đang đứng trước lựa chọn hoặc lao vào sân chơi mới để tồn tại và phát triển, hoặc đứng yên để bị đào thải theo thời gian.

Ba chân kiềng săm lốp Việt

Có thể hình dung, ngành săm lốp Việt Nam đang được dẫn dắt bởi 3 doanh nghiệp tiêu biểu đều thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), bao gồm Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng và Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su miền Nam (Casumina - CSM).

3 công ty này cũng có sự phân chia về phân khúc sản phẩm và khu vực thị trường. Cao su Sao vàng có lợi thế về lốp xe đạp và xe máy; thị trường chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Trong khi đó, Cao su Đà Nẵng có thế mạnh về lốp ôtô tải và lốp đặc chủng; thị trường chủ yếu là khu vực miền Trung và khách hàng doanh nghiệp đặc thù. Cuối cùng, Casumina, doanh nghiệp có hệ thống sản phẩm đa dạng nhất, bao gồm lốp xe máy, ôtô du lịch và xe tải nhẹ; chủ yếu khai thác thị trường miền Nam.

Về sản phẩm, doanh nghiệp săm lốp Việt gần như chiếm lĩnh 100% thị trường ở mảng săm lốp xe đạp, khi cạnh tranh chủ yếu chỉ đến từ một số sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc với số lượng không đáng kể và chất lượng cũng không so sánh được với hàng nội địa. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ của phân khúc sản phẩm này gần như bão hòa và khó tiếp tục tăng trưởng do xe máy ngày càng thay thế xe đạp. Thế nên, dù một mình một chợ ở phân khúc này nhưng đây không phải là điều đáng mừng đối với các doanh nghiệp săm Việt. Bởi vì triển vọng tăng trưởng quy mô doanh thu hầu như không có, xu hướng tiêu dùng thay đổi có thể khiến cho hoạt động ở mảng săm lốp xe đạp tiếp tục thu hẹp.

Trong khi đó, ở mảng săm lốp xe máy, cuộc chơi đã có sự xuất hiện của doanh nghiệp ChengShin (Ðài Loan). Dù vậy, thị phần của khối nội vẫn ước đạt khoảng 70%. Phân khúc săm lốp xe máy cũng tiếp tục có sự cạnh tranh từ săm lốp giá rẻ của Trung Quốc, nhưng nhờ hình ảnh thương hiệu vững chắc trong lòng người tiêu dùng nên các doanh nghiệp Việt vẫn chiếm ưu thế.

Cuối cùng, săm lốp ôtô chính là mảnh đất màu mỡ nhiều tiềm năng phát triển trong dài hạn; và cũng là phân khúc cạnh tranh nhất giữa nhà sản xuất trong nước lẫn nước ngoài.

Tiềm năng ở mảng này đến từ sự phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Hiện tại, lốp Bias (lốp bố nylon) vẫn chiếm gần 90% nhu cầu do hạ tầng giao thông Việt Nam chưa phát triển, dẫn đến nhu cầu sử dụng lốp Radial (lốp bố thép) chưa nhiều. Nhưng trong dài hạn, lốp Radial chắc chắn sẽ thay thế lốp Bias nhờ độ bền cao hơn, giảm tiêu hao nhiên liệu và đặc biệt phù hợp với ôtô chạy cao trên đường cao tốc. Tại các nước phát triển, tỉ lệ sử dụng lốp Radial chiếm 90% số lượng lốp tiêu thụ. Đây cũng chính là cơ hội phát triển cho ngành săm lốp tại Việt Nam trong bối cảnh cơ sở hạ tầng và hệ thống đường cao tốc ngày càng phát triển.

Thách thức của TPP

Khi xu hướng tiêu dùng chuyển từ lốp Bias sang lốp Radial và hàng rào thuế quan được gỡ bỏ theo cam kết WTO, AFTA và sắp tới có thể là TPP, sản phẩm lốp Radial của nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam với giá ngày càng hấp dẫn. So với doanh nghiệp nội, các nhà sản xuất nước ngoài có lợi thế hơn hẳn về thương hiệu, chất lượng sản phẩm và chi phí giá thành thấp nhờ quy mô sản xuất lớn. Đặc biệt, cạnh tranh sẽ còn gay gắt hơn ở dòng lốp xe con và xe tải nhẹ do các nhà máy của các thương hiệu ngoại đặt tại Việt Nam đang chủ yếu sản xuất sản phẩm này.

Cụ thể, nhà máy Kumho Tires (thuộc Tập đoàn Kumho Asiana) đặt tại Bình Dương có công suất 3,15 triệu sản phẩm/năm, chuyên sản xuất lốp Radial dành cho xe con và xe tải nhẹ.

Ngoài Kumho, một trong những ông lớn của ngành săm lốp thế giới là Bridgestone cũng đã đặt chân vào thị trường Việt Nam. Nhà máy lốp xe của Bridgestone tại Khu Công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng) có tổng vốn đầu tư 1,2 tỉ USD, công suất 24.700 sản phẩm/ngày. Quy mô sản xuất đến cuối năm 2017 dự kiến đạt 49.000 lốp xe khách Radial/ngày.

Trước mắt, sản phẩm của cả Kumho lẫn Bridgestone tại Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu phục vụ cho hoạt động của các tập đoàn này tại nước ngoài. Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, Kumho và Bridgestone hoàn toàn có thể dễ dàng xâm nhập thị trường Việt Nam.

Một điểm đáng chú ý khác là ngay trong phân khúc săm lốp ôtô cũng có sự phân hóa về dòng sản phẩm dành cho xe du lịch, xe tải hay xe đặc chủng... Hiện các doanh nghiệp Việt hầu như nhường sân chơi lốp xe du lịch cho các đại gia nước ngoài. Chỉ có Casumina là đang cạnh tranh ở phân khúc này, nhưng công suất dây chuyền sản xuất khá khiêm tốn chỉ khoảng 300.000 sản phẩm/năm.

Gần đây, tín hiệu đáng mừng là 2 công ty săm lốp Cao su Đà Nẵng và Casumina nhờ nắm được sự thay đổi tất yếu của xu hướng tiêu dùng nên đã có sự chuẩn bị để tham gia vào sân chơi mới. Cụ thể, 2 nhà máy lốp Radial mới của 2 doanh nghiệp này với tổng công suất 1,6 triệu lốp/năm đều tập trung vào lốp xe tải, phân khúc được đánh giá là mức độ cạnh tranh chưa quá gay gắt.

Trước mắt, cơ hội cho các doanh nghiệp nội sẽ nằm trong dải hẹp giữa lốp Trung Quốc giá rẻ nhưng chất lượng chưa cao; các thương hiệu lớn với chất lượng hàng đầu mà giá cả cũng cao tương ứng. Ðiều mà cả Casumina và Cao su Đà Nẵng đang hướng tới là cạnh tranh về chất lượng với hàng Trung Quốc, nhưng đồng thời vẫn có chiến lược cạnh tranh về giá.

Cạnh tranh về chất lượng có thể đạt được, tuy nhiên để cạnh tranh về giá lại là một vấn đề khác.

Chi phí đầu tư cho một nhà máy Radial là khá lớn, nên để đạt hiệu quả kinh tế cao thì quy mô sản xuất cũng phải lớn. Các nhà máy Radial ở nước ngoài thường có công suất vài triệu lốp/năm và chỉ sản xuất một vài quy cách nhất định cho từng nhà máy. Trong khi đó, các doanh nghiệp săm lốp Việt do hạn chế vốn nên quy mô nhà máy cũng nhỏ hơn, số lượng quy cách sản xuất lại phải nhiều hơn nhằm đa dạng hóa sản phẩm để tăng tính cạnh tranh cho thương hiệu. Chính vì thế, giá thành sản xuất và giá bán sẽ là bài toán đau đầu cho các công ty nội.

Dù sao, doanh nghiệp nội vẫn có những lợi thế là sự am hiểu thị trường Việt Nam và hệ thống kênh phân phối sản phẩm vượt trội. Đặc thù của việc tiêu thụ sản phẩm lốp ôtô ở Việt Nam là 80% nhu cầu tiêu thụ từ các khách hàng tổ chức như các công ty lắp ráp ôtô, công ty vận tải hay kho vận. Chỉ có khoảng 20% nhu cầu đến từ người tiêu dùng lẻ. Các thương hiệu nội đã có vị trí nhất định trong lòng người tiêu dùng Việt Nam, đó sẽ là lợi thế lớn khi khách hàng tổ chức cân nhắc bài toán chi phí để lựa chọn nhà cung cấp.

Hoàng Phương

Nhịp cầu đầu tư

400 đại biểu sẽ tham gia phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tổ chức tại Hà Nội từ ngày 1-10/9 tới.

400 đại biểu sẽ tham gia phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tổ chức tại Hà Nội từ ngày 1-10/9 tới.

Văn phòng UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế ngày 18/8 cho hay đại biểu của 11 nước thành viên tham gia đàm phán Hiệp định TPP (Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ) và chủ nhà Việt Nam sẽ tham gia phiên đàm phán quan trọng này.

Đoàn đàm phán Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế làm Trưởng đoàn sẽ tham gia phiên đàm phán.

Đến nay, quá trình đàm phán TPP đã bước sang năm thứ 5 với 19 phiên đàm phán chính thức và rất nhiều phiên đàm phán, trao đổi cấp kỹ thuật ở phạm vi hẹp.

Trên cơ sở những tiến bộ đạt được tại phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn tại Ottawa, Canada tháng 7 vừa qua, để tiếp tục nỗ lực thúc đẩy đàm phán trong giai đoạn cuối cùng, các nước tham gia đàm phán đã thống nhất tổ chức thêm 1 phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn vào đầu tháng 9 năm nay và Việt Nam đăng cai tổ chức phiên đàm phán này tại Hà Nội.

Tại phiên đàm phán sắp tới, các đoàn sẽ tập trung thảo luận những vấn đề còn tồn tại liên quan tới các lĩnh vực: Tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ; quyền sở hữu trí tuệ; đầu tư; môi trường; doanh nghiệp Nhà nước; các vấn đề pháp lý,và tiến hành các cuộc trao đổi song phương.

Phiên đàm phán được kỳ vọng sẽ đạt được nhiều đột phá để tạo đà cho việc sớm kết thúc đàm phán.

Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế của Việt Nam đang cùng các nước nỗ lực chuẩn bị để phiên đàm phán đạt được kết quả theo định hướng này.

Thùy Linh

chính phủ

Quy tắc xuất xứ, biện pháp tự vệ, mô hình giảm thuế vẫn đang là những ẩn số trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù kết quả cuối cùng thế nào, tất cả đều ...

Quy tắc xuất xứ, biện pháp tự vệ, mô hình giảm thuế vẫn đang là những ẩn số trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù kết quả cuối cùng thế nào, tất cả đều phải hướng tới lợi ích cốt lõi cho DN dệt may và cả nền kinh tế Việt Nam.

Muốn phát triển bền vững, ngành dệt may phải nâng cao giá trị gia tăng

Từ quy tắc xuất xứ…

Trong đàm phán TPP, các thành viên đã đề nghị quy tắc xuất xứ rất chặt chẽ với ngành dệt may, tức là tất cả các khâu từ sợi cho đến vải, cắt, may đều phải được thực hiện trong các nước TPP, khi đó sản phẩm dệt may mới hưởng ưu đãi về thuế nhâp khẩu.

Cho tới thời điểm này, tỷ lệ vải nhập khẩu dùng cho hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu tương đối nhiều (khoảng hơn 70% từ Trung Quốc). Vậy với quy tắc xuất xứ đó, dệt may Việt Nam có thể có lợi ích khi tham gia TPP?

Phía Hoa Kỳ đã đưa ra sáng kiến giúp Việt Nam, như: Chấp nhận về hình thức và linh hoạt về mặt nội dung. Nghĩa là đề nghị Việt Nam chấp nhận quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi; đối với loại vải mà các nước TPP không có, Việt Nam cần có một danh mục vải nhập khẩu để làm ra sản phẩm may và sản phẩm vẫn được coi là có xuất xứ Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán TPP:

Để bảo đảm sự phát triển bền vững cho ngành dệt may, không còn cách nào khác là phải nâng cao giá trị gia tăng và chủ động được cả về sợi, dệt, nhuộm và vải.

Dù vậy, các chuyên gia nhận định, nếu một quy tắc xuất xứ đơn giản được chấp nhận, các DN Việt Nam sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đầu tư thêm vốn và công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, tạo thêm khả năng cạnh tranh cho hàng hóa. “Sẽ không DN nào chịu đầu tư vào sợi, dệt và vải để gia tăng hàm lượng công nghệ cao cho sản phẩm, nếu như chỉ dựng lên một xưởng may, nhập vải về, cắt, may là có thể kiếm được lợi nhuận từ xuất khẩu. Do vậy, chừng nào còn chấp nhận quy tắc xuất xứ đơn giản, chúng ta chỉ có thể tiếp tục đi làm gia công”- chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định.

Quy tắc xuất xứ từ sợi mới nghe có vẻ rất khó và chặt chẽ, nhưng để hưởng được ưu đãi trong TPP, các DN phải đầu tư vào làm vải. Nếu các DN đầu tư được vào vải thì chẳng những tăng lợi nhuận hàng xuất khẩu mà còn giúp Việt Nam nâng cao kỹ năng tay nghề người lao động, tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Đến biện pháp tự vệ

Bên cạnh quy tắc xuất xứ khắt khe, các nước thành viên TPP đang đề xuất biện pháp tự vệ riêng với hàng dệt may nhập khẩu.

Khi đàm phán để giảm thuế nhập khẩu với hàng dệt may, các nước cũng đàm phán một điều khoản tự vệ, tức là một quốc gia đồng ý giảm thuế cho các thành viên khác nhưng nếu hàng hóa của quốc gia đó sau khi được giảm thuế sẽ tăng lên một mức đột biến (khoảng 20- 30%), khiến cho sản xuất tại các nước khác gặp khó khăn, thì các quốc gia có quyền đưa thuế trở lại mức cũ nhưng sẽ đền bù bằng một mặt hàng khác.

Mấu chốt ở đây là các quốc gia có thể “bóp cò” biện pháp tự vệ đó vào thời điểm nào với mức độ gia tăng hàng nhập như thế nào? Ở một khía cạnh nào đó, biện pháp này cũng gây bất lợi cho Việt Nam bởi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới và việc gia tăng xuất khẩu nằm trong mục tiêu phát triển dài hạn của các DN.

Hùng Cường

Công thương

Ngày 8/8, tại Hà Nội, Thượng nghị sỹ John McCain, thành viên Ủy ban Đối ngoại và Quân vụ cùng Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse, thành viên các Ủy ban Tư pháp, Ngân sách, Kinh tế, Lao động-Tiền ...

Ngày 8/8, tại Hà Nội, Thượng nghị sỹ John McCain, thành viên Ủy ban Đối ngoại và Quân vụ cùng Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse, thành viên các Ủy ban Tư pháp, Ngân sách, Kinh tế, Lao động-Tiền lương, Môi trường và Công chính, Thượng viện Hoa Kỳ, đã họp báo trong nước và quốc tế nhân chuyến thăm làm việc tại Việt Nam.

Tại cuộc họp báo, Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse cho biết chuyến thăm làm việc lần này tại Việt Nam, hai thượng nghị sỹ đã có những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan hữu quan Việt Nam.

Bày tỏ cảm ơn về những tình cảm nồng ấm thể hiện trong những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, Thượng nghị sỹ cho biết hai bên bày tỏ mong muốn sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ trong lĩnh vực an ninh, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Thượng nghị sỹ John McCain cho biết chuyến thăm Việt Nam lần này của ông đúng vào thời điểm quan trọng khi Hoa Kỳ và Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ vào năm 2015.

Bày tỏ vui mừng về những tiến bộ đã đạt được giữa hai nước trong thời gian qua, Thượng nghị sỹ cho rằng hiện nay hai nước còn nhiều việc phải làm với tư cách là đối tác của nhau. Quan hệ hai nước cần có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới.

Nói về Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse cho biết với tư cách là đối tác toàn diện, Hoa Kỳ sẵn sàng cùng Việt Nam đi đến hoàn tất Hiệp định này.

Đây là Hiệp định có tiêu chuẩn rất cao. Hoa Kỳ sẵn sàng làm việc với Việt Nam trong khuôn khổ TPP để Việt Nam đáp ứng được những tiêu chuẩn của Hoa Kỳ và được công nhận là nền kinh tế thị trường.

Nhân dịp này, hai thượng nghị sỹ cũng đã chia sẻ về đề xuất Quốc hội Hoa Kỳ sớm bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Hoàng Thị Hoa

Vietnam+

Ngay sau khi hai doanh nghiệp Việt Nam là Công ty thép SeAH Vina và Hot Rolling Pipe bị Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ ra quyết định sơ bộ áp thuế Chống trợ cấp và Chống bán phá giá ...

Ngay sau khi hai doanh nghiệp Việt Nam là Công ty thép SeAH Vina và Hot Rolling Pipe bị Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ ra quyết định sơ bộ áp thuế Chống trợ cấp và Chống bán phá giá ở mức 24,22% và 111,47%, thì Cơ quan Biên phòng Canada (CBSA) cũng thông báo khởi xướng điều tra Chống bán phá giá và Chống trợ cấp đối với một số sản phẩm ống thép dẫn dầu nhập khẩu từ 8 nước, trong đó có Việt Nam. Đây là vụ kiện thứ năm liên quan đến ngành thép trong nước.

Thời gian gần đây, các vụ kiện thương mại từ nước khác áp lên Việt Nam ngày càng tăng, không chỉ trong ngành thép mà còn nhiều ngành khác như thủy sản, sơ, lốp xe, giày dép, túi nhựa, giấy… Liệu rằng đã vào Hiệp định Đối tác TPP nhưng với những rào cản thương mại ngày càng dày đặc thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ còn được hưởng lợi?

Xuất khẩu tăng, vụ kiện cũng tăng

Thông thường một sản phẩm bất kỳ có tỉ lệ xuất khẩu vào một nước nào đó tăng cao và có giá rẻ hơn sản phẩm của nước sở tại rất hay bị vướng phải những vụ kiện thương mại như Chống bán phá giá và Chống trợ cấp.

Vụ kiện Chống bán phá giá đầu tiên xảy ra năm 2002 với sản phẩm cá tra và basa. Theo số liệu từ Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam, tính đến 31.3.2013, Việt Nam mới chỉ có 52 vụ. Tuy nhiên, tính đến tháng 3.2014, có 73 vụ.

Tính riêng tại thị trường Mỹ, trong 10 năm đã có tới 8 vụ điều tra chống phá giá và trợ cấp với các sản phẩm xuất xứ từ Việt Nam, nhất là thủy sản. Cá tra và tôm là hai mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất vào Mỹ nhưng thường xuyên bị khởi kiện, có thể được xét như một sự kiện hằng năm vậy. Giữa năm 2013, Bộ Thương mại Mỹ có quyết định khởi kiện con tôm của Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 1,15% đến 7,88%. Cá tra cũng thường xuyên phải chịu cảnh tương tự như tôm, đợt áp thuế lần 9 vào tháng 9.2013 đã tăng lên gấp 3 lần. Đầu tháng 7 vừa qua Mỹ tiếp tục áp thuế lần 10 với cá tra.

Không chỉ có cá tra, Mỹ đang tiếp tục áp thuế lên nhiều sản phẩm xuất khẩu khác của Việt Nam như, vụ kiện kép với đinh thép, thép hàn chịu lực không gỉ, cá tra và gần đây nhất là thông tin điều tra năng lực cạnh tranh ngành gạo đối với một số nước trong đó có Việt Nam.

Mặc dù sau đó các doanh nghiệp Việt Nam có giành được chiến thắng cho tôm cá nhưng những vụ kiện như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và sự đầu tư của doanh nghiệp. Một lý do khác khiến một số doanh nghiệp thủy sản ngừng xuất khẩu vì lo sợ mức thuế tăng cao do Bộ Thương mại Mỹ liên tục thay đổi nước thứ ba được dùng để tính thuế. Đây là những khó khăn, gây thiệt thòi, giảm tỉ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp.

Ngoài Mỹ, nhiều nước khác cũng đang áp đơn kiện lên các sản phẩm của Việt Nam như Úc kiện thép mạ kẽm, Indonesia kiện về thép cán nguội, Cananda kiện thép ống dẫn dầu…

Đứng trước sản lượng xuất khẩu các nước tăng nhanh, biện pháp phòng vệ thương mại thường được dùng như “cứu cánh” để bảo hộ các doanh nghiệp trong nước. Đối với Việt Nam, một nước chưa được thừa nhận là nước kinh tế thị trường, thường dễ gặp phải tình trạng này.

TPP có giúp doanh nghiệp thoát kiện?

Câu chuyện của WTO là một tấm gương để TPP rút ra bài học. Tham gia WTO nhiều năm, nhưng đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn không hưởng được những ưu đãi như kỳ vọng. Trong khi đó, ở những nước có tiềm năng để sản phẩm Việt Nam xuất khẩu thì doanh nghiệp liên tục phải chịu các vụ kiện thương mại.

Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia Kinh tế Cao cấp, cho biết Việt Nam mở cửa thị trường nhưng lại không có biện pháp phòng vệ thương mại (hạn chế nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa khi việc đó đe dọa ngành sản xuất địa phương) nên các doanh nghiệp trong nước rất khó cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, nước ngoài tuy mở cửa nhưng lại đưa ra chính sách phòng vệ khắt khe khiến doanh nghiệp Việt khó thâm nhập.

Ở một khía cạnh khác, sau khi tham gia TPP, Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế. Chẳng hạn, có nhiều mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào các nước trong nhóm này sẽ giảm thuế về 0%. Tuy nhiên, ngoài một số mặt hàng như dệt may, da giày thì không phải mặt hàng nào cũng được hưởng những ưu đãi về thuế.

Ngoài ra, nhiều sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam ở một số thị trường cũng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi nên TPP cũng chưa mang lại lợi ích gì mới. Ví dụ ở thị trường Mỹ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đang được hưởng mức thuế suất gần bằng 0%. Còn ba nước khác là Úc, New Zealand và Peru đã áp dụng mức thuế 0% cho các sản phẩm thủy sản như cá hay tôm của Việt Nam.

Thật ra, nhiều doanh nghiệp hy vọng rằng đàm phán TPP đã khiến Mỹ có những nhượng bộ tích cực trong các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với thủy sản và nhiều ngành khác của Việt Nam. Tuy nhiên, dường như đàm phán TPP hoàn toàn không tác động đến kết quả các vụ kiện Chống bán phá giá, Chống trợ cấp của Mỹ đối với thủy sản Việt Nam.

Theo phân tích từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đàm phán TPP không có nội dung nào hạn chế quyền của các quốc gia nhập khẩu trong việc sử dụng các công cụ phòng vệ này. Dù TPP có Chương về phòng vệ thương mại, nhưng nội dung của các Chương này rất ngắn và chủ yếu nhấn mạnh yếu tố hợp tác trong việc xử lý nhanh các khiếu nại, nếu có.

Nói cách khác, sẽ không có chuyện TPP sẽ khiến các nhà nhập khẩu giảm bớt những biện pháp phòng vệ thương mại đối với Việt Nam. Cũng sẽ không có chuyện cơ quan điều tra bớt sử dụng những phương pháp tính toán bất lợi cho doanh nghiệp Việt. Càng không có khả năng nào để những yêu cầu hay tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm được hạ thấp, hoặc ít ra là không phát sinh thêm.

Thực tế, hiện nay các hàng thuế quan vẫn rất khó được gỡ bỏ. Hàng rào này đổ thì hàng rào khác lại dựng lên với mục tiêu bảo vệ bằng một giá cho hoạt động sản xuất của các nước. TPP có được ký kết, nhưng các quốc gia lại tăng cường biện pháp phòng vệ thương mại như áp thuế Chống bán phá giá và Chống trợ cấp thì doanh nghiệp Việt sẽ vẫn khó xuất khẩu.

Mai Hân

Nhịp cầu đầu tư

Trong bối cảnh quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt khi các nước tham gia bỏ lỡ lần lượt ba thời hạn kết thúc đàm phán, nhiều chuyên ...

Trong bối cảnh quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt khi các nước tham gia bỏ lỡ lần lượt ba thời hạn kết thúc đàm phán, nhiều chuyên gia đã bày tỏ hoài nghi về triển vọng các nước tiến tới ký kết nhằm đưa TPP trở thành một hiệp định toàn diện của thế kỷ 21.

Phóng viên TTXVN tại Canda dẫn mạng tin "Diễn đàn Đông Á" ngày 15/7 cho biết một nguyên nhân giải thích cho sự chậm trễ trong việc hoàn thành TPP là thành phần tham gia đàm phán quá đa dạng.

Không giống với các hiệp định hợp tác đa phương, TPP trải rộng về địa lý, với độ phủ sóng gồm hai nền kinh tế đứng đầu và đứng thứ ba thế giới (Mỹ và Nhật Bản) cùng các nước phát triển năng động của châu Á, Bắc và Nam Mỹ. Bên cạnh đó, các nước này còn đa dạng về kinh tế.

Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người của Australia đang gấp khoảng 40 lần thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam. Nền kinh tế Mỹ có quy mô lớn gấp 1.000 lần so với của Brunei. Các chuyên gia cho rằng chính những sự đa dạng này khiến cho các bên khó tìm được cơ sở và nguyên tắc chung khi thương lượng.

Nguyên nhân thứ hai là các nước tham gia đàm phán TPP đưa ra một chương trình nghị sự quá lớn, khiến việc tìm được tiếng nói chung là hết sức khó khăn. Ngoài ra, giữa các thành viên tham gia đàm phán cũng tồn tại bất đồng về các chính sách của mỗi nước.

Trước thực tế này, các chuyên gia đã bày tỏ lo ngại tinh thần ban đầu của TPP đang suy yếu và có nguy cơ trở thành một loạt các thỏa thuận song phương, với thỏa thuận Mỹ-Nhật là cốt lõi.

Theo họ, nếu TPP bị hoãn lại vô thời hạn, hoặc nếu được hoàn thành với vô số ngoại lệ, hiệp định này sẽ cần có các điều khoản phục vụ lợi ích của các thành viên.

Đàm phán TPP được khởi động từ năm 2005, hiện nay có sự tham gia của 12 nước gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Một khi được ký kết, hiệp định này sẽ thiết lập một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

vietnam+

Vòng đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham dự của 12 nước tham gia đàm phán TPP khép lại cuối tuần qua tại Ottawa, Canada mà không đạt được thỏa thuận nào, thậm chí cả về ...

Vòng đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham dự của 12 nước tham gia đàm phán TPP khép lại cuối tuần qua tại Ottawa, Canada mà không đạt được thỏa thuận nào, thậm chí cả về thời gian tổ chức cuộc họp sắp tới, do những khác biệt cơ bản liên quan đến các vấn đề dễ gây bất đồng như sở hữu trí tuệ, các công ty quốc doanh hay môi trường.

Như vậy, sáu tháng sau khi bỏ lỡ thời hạn ban đầu cho việc đạt được thỏa thuận này vào cuối năm 2013, các nước tham gia đàm phán TPP vẫn chưa thể vạch ra được con đường rõ ràng nào hơn để tiến tới việc đạt được thỏa thuận này.

Giới quan sát cho rằng một số nhà đàm phán có thể bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu các cuộc đàm phán TPP có thể duy trì tiến độ hiện nay, trong bối cảnh Mỹ - nước khởi xướng thỏa thuận thương mại này và là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại trong việc đạt được TPP - có thể sẽ không đưa ra được bất kỳ quyết định làm thay đổi cục diện trong những tháng tới.

Nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ dự kiến diễn ra tại Mỹ vào tháng 11/2014.

Tại cuộc gặp ở Ottawa lần này, trưởng đoàn đàm phán và các quan chức thương mại của các nước tham gia tiến trình đàm phán TPP cũng không đả động gì đến đề xuất của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng trước rằng ông sẽ đưa ra một bản dự thảo TPP vào tháng Mười Một tới.

Mặc dù hứa hẹn sẽ tiếp tục nhóm họp để giải quyết những vẫn đề còn tồn đọng, nhưng các nước tham gia đàm phán đã không thể đi tới quyết định thời điểm diễn ra cuộc họp sắp tới.

Các cuộc đàm phán TPP được bắt đầu từ năm 2010 với sự tham gia của chín nước và hiện nay con số này đã được nâng lên 12 nước, bao gồm Mỹ, Australia, Brunei , Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Singapore, Peru, Nhật Bản và Việt Nam.

Một khi được ký kết, hiệp định này sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

vietnam+

Các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bước vào "giai đoạn tăng tốc" cuối tuần qua, với các nhà đàm phán chủ chốt của 12 nước tiến hành thảo luận cấp chuyên viên.

Các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bước vào "giai đoạn tăng tốc" cuối tuần qua, với các nhà đàm phán chủ chốt của 12 nước tiến hành thảo luận cấp chuyên viên.

Tham gia đàm phán TPP có Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Các đại biểu tham dự Hội nghị Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) diễn ra ở Singapore, hồi tháng Năm vừa qua

Phát biểu trước cuộc thảo luận trên, Koji Tsuruoka, trưởng đoàn đàm phán của Nhật Bản về TPP nhận định đây là cuộc họp quan trọng để hướng tới một thỏa thuận vào cuối năm nay. Các cuộc đàm phán trên là một phần trong hội nghị bất thường kéo dài 10 ngày kể từ ngày 3/7, đề cập đến vấn đề luật pháp, thể chế, cũng như thị trường lao động.

Trước đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên tiếng kêu gọi các bên tiến tới một thỏa thuận khung TPP vào tháng 11/2014.

Các cuộc đàm phán TPP đã bị trì hoãn một phần do bất đồng giữa Nhật Bản và Mỹ liên quan đến vấn đề thuế quan. Nếu được thực thi, TPP sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn, chiếm gần 40% GDP toàn cầu và 1/3 tổng thương mại của thế giới.

Ngày 7/7, trong chuyến thăm New Zealand, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Thủ tướng nước chủ nhà John Key đã nhất trí sẽ nỗ lực hướng tới hoàn tất việc ký kết TPP song phương trong một ngày gần nhất.

Thủ tướng John Key khẳng định để hoàn tất TPP, còn có rất nhiều việc phải làm đối với cả hai nước cũng như tất cả các bên tham gia đàm phán TPP, song cả Tokyo và Wellington sẽ nỗ lực tối đa để đạt được thỏa thuận đa quốc gia toàn diện này.

Theo ông, khó có khả năng đạt được một thỏa thuận trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, nhưng cũng có "cánh cửa cơ hội" sau tháng 11 tới.

Hương Giang

vietnam+

Các quan chức từ 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã bắt đầu cuộc họp bất thường kéo dài 10 ngày tại Ottawa, Canada vào ngày 3/7, khi Mỹ muốn sớm đạt thỏa ...

Các quan chức từ 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã bắt đầu cuộc họp bất thường kéo dài 10 ngày tại Ottawa, Canada vào ngày 3/7, khi Mỹ muốn sớm đạt thỏa thuận, cụ thể là trong thời gian Tổng thống Barack Obama có chuyến công du châu Á vào tháng 11 tới.

Các quan chức tham dự cuộc họp sẽ tập trung thảo luận các vấn đề như quyền sở hữu trí tuệ, với lo ngại về bản quyền phim và bằng sáng chế các loại thuốc mới và việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước, nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng.

Từ ngày 5/7, trưởng các phái đoàn đàm phán của các nước sẽ ngồi vào bàn thương lượng và cũng sẽ có các cuộc họp song phương bên lề phiên họp toàn thể. Tuy nhiên, một cuộc họp giữa các bộ trưởng thương mại, thường diễn ra sau các cuộc đàm phán giữa các nhóm làm việc, chưa được lên kế hoạch, trong khi các quyết định cuối cùng cho việc ký kết thỏa thuận có thể được đưa ra tại cuộc họp này.

Ông Koji Tsuruoka, Trưởng phái đoàn đàm phán của Nhật Bản, cho rằng cuộc họp tại Ottawa là dịp rất quan trọng để đưa đàm phán TPP đến giai đoạn cuối cùng, bày tỏ hy vọng về những tiến triển để các quan chức các nước có thể ấn định thời điểm cho cuộc họp cấp bộ trưởng.

Nhật Bản và Mỹ là hai nền kinh tế lớn nhất trong số 12 nước hiện tham gia đàm phán TPP, gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Bất đồng giữa hai nền kinh tế lớn nhất này là một trở ngại cho việc sớm đi đến ký kết sáng kiến trên.

Đàm phán về TPP bắt đầu từ năm 2005, ban đầu chỉ có sự tham dự của bốn nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Nay với sự góp mặt của 12 nước, một khi được ký kết, TPP sẽ thiết lập một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

Lê Minh

Vietnam+

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng.

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho biết, dệt may là một trong những lợi ích cốt lõi của Việt Nam khi tham gia Hiệp đinh kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Mỹ là thị trường lớn đối với dệt may Việt Nam. Do vậy, đoàn đàm phán Việt Nam sẽ tiếp tục đàm phán để đạt được kết quả tốt nhất có thể. Trước mắt, với những quy định khắt khe của Mỹ và một số nước, hai bên vẫn đang đưa ra bàn luận để tìm tiếng nói chung.

Hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu vải, mặc dù vải Việt Nam có thể sản xuất được nhưng chất lượng không đáp ứng được xuất khẩu. Với thực tế này, sau nhiều vòng đám phán, Mỹ đưa ra sáng kiến “nguồn cung thiếu hụt”, tức là có thể cho Việt Nam nhập khẩu vải từ đối tác thứ ba nhưng dựa trên những danh mục sản phẩm theo chuẩn phía họ cung cấp vào thị trường Việt Nam, xem đó là loại vải có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam.

Phương án này này có thể tạo ra “nguyên tắc xuất xứ lỏng” - Việt Nam chỉ cần nhập vải về và cắt may rồi được hưởng ưu đãi thuế quan. Nhưng Thứ trưởng Trần Quốc Khánh lo ngại rằng, chính điều này sẽ khiến doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở việc làm gia công mà không có động lực để đầu từ mạnh mẽ vào dệt may. “Nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng”, Thứ trưởng khẳng định.

Thêm vào đó, dệt may là ngành thu hút lực lượng lao động đông đảo và nhân công rẻ, nếu cứ mãi chỉ làm gia công thì dệt may Việt Nam sẽ dần dần chịu sức ép cạnh tranh từ các nước trong khu vực, cụ thể là Myanmar.

Vì vậy, để phát triển toàn diện ngành dệt may, không còn cách nào khác là nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, chủ động về nguồn nguyên liệu sợi, nhuộm; đầu tư cơ sở sản xuất, tránh sản xuất kiểu “mì ăn liền”.

Quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” mới nghe qua có vẻ rất khắt khe nhưng để được hưởng ưu đãi thì chúng ta phải đầu tư. “Không người nào đầu tư và hầm lò nếu còn than lộ thiên và không ai sẽ đầu tư vào dệt, sợi, vải để nâng cao giá trị gia tăng tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động nếu còn “nguyên tắc xuất xứ lỏng””, vị lãnh đạo Bộ Công Thương ví von.

Trên thực tế, việc đầu tư vào dệt, nhuộm gặp khó khăn bởi cần vốn đầu tư lớn đồng thời các địa phương gần như không ủng hộ. Tuy nhiên, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh vẫn lạc quan khi cho rằng dệt, nhuộm vốn đầu tư đắt nhưng không phải chúng ta không có tiền. “Tôi tin rằng khi doanh nghiệp đã nhìn thấy đầu ra họ sẽ sẵn sàng đầu tư”, ông Khánh nói.

Việc ô nhiễm môi trường đối với các dự án dệt, nhuộm trước đây là do chúng ta chưa thực hiên quy chuẩn trong việc xử lý môi trường. Khi thực hiện quy định nghiêm ngặt về xử lý môi trường vẫn có thể thu hút đầu tư vào lĩnh vực dệt, nhuộm.

Phan Thu

hải quan

Không phải từ bây giờ khi ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may xuất khẩu đứng trước nguy cơ gặp khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, thì chúng ta mới đặt ra việc ...

Không phải từ bây giờ khi ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may xuất khẩu đứng trước nguy cơ gặp khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, thì chúng ta mới đặt ra việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, sau hơn hai thập niên phát triển mạnh mẽ với vào top đầu hàng xuất khẩu cả nước thì các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu vẫn chưa thể chủ động với nguồn cung cấp trong nước. Trong khi đó thì Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thị trường chung của Cộng đồng ASEAN năm 2015, ASEAN+1… đã đến gần.

Cho trứng vào một giỏ

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam có hơn 4.000 doanh nghiệp thu dụng 2,5 triệu công nhân và tạo ra kim ngạch xuất khẩu hơn 20 tỉ USD theo số liệu thống kê năm 2013. Tuy vậy, do tính chất một nền công nghiệp gia công tỷ lệ nội địa hóa rất thấp, ngành dệt may phụ thuộc vào máy móc cũng như nguyên phụ liệu, bông, vải, xơ, sợi nhập khẩu từ nước ngoài.

Theo ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM thì các doanh nghiệp nội địa, bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI chỉ mới cung ứng hơn 30% các loại nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, chủ yếu là phụ liệu và 67% phải nhập từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil…

Trong đó, Trung Quốc chiếm tỷ lệ 26%. Nhưng nếu tính cả những vật tư như hóa chất cơ bản cho dệt, nhuộm hay phụ tùng thay thế thì hằng năm mức tổng nhập chính thức từ nước này là 40%. Do vậy, người ta dễ thấy hàng Trung Quốc có mặt ở hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất của hàng dệt may.

Đó là lý do tại sao, bên cạnh việc đặt hàng gia công khách hàng thường chỉ định nguồn cung ứng hay thậm chí là cung cấp cả nguyên phụ liệu thì doanh nghiệp Việt Nam ít khi chủ động nhận hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm).

Ông Ngô Đức Hòa, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dệt May Thắng Lợi cho biết về tình hình này, nếu tự cung cấp đơn vị ông sẽ không thực hiện nổi đơn hàng, mua trong nước thì lượng vải chỉ đạt yêu cầu 20%, còn mua của các nước trong nhóm đang đàm phán Hiệp định TPP thì bị áp lực giá đầu vào cao hơn thị trường.

Không chủ động được nguyên, phụ liệu trong nước, phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, khiến giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may còn thấp.

Sau nhiều năm phát triển thì tỷ lệ làm hàng gia công của Việt Nam vẫn chiếm 70%, và như thế, doanh nghiệp chỉ nhận được 15% giá trị từ đơn hàng, nếu làm hàng FOB thì cao hơn từ 25 đến 30%. Với các nước chủ động về nguồn nguyên phụ liệu hoặc đã tham gia được vào thị trường ODM (tự thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm) thì tỷ lệ này lên đến 40 – 50%.

Trong khi đó, theo đánh giá của các khách hàng, tay nghề lao động của ngành may xuất khẩu Việt Nam hiện đã hơn hẳn nhiều nước. Trình độ tổ chức sản xuất, đảm nhận những đơn hàng xuất khẩu có độ khó như đồ vest, jacket, đồ thể thao hay thậm chí là hàng thời trang sản xuất với số lượng ít nhưng chất lượng cao… tạo được sự tin cậy của đối tác, nên dù trong những năm suy giảm về kinh tế vừa qua, ngành may xuất khẩu vẫn duy trì được sự phát triển so với nhiều ngành nghề khác. Vì vậy, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành chuỗi cung ứng trong nước trở thành nhu cầu cấp thiết của ngành dệt may hiện nay.

Trước mắt, để tránh sự lệ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu từ nước ngoài, nhiều doanh nghiệp cho rằng giải pháp tốt nhất là ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bớt dần các sản phẩm thuộc phân khúc thấp, áp lực cạnh tranh cao về giá và lệ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu Trung Quốc để chuyển dần vào phân khúc trung cao.

Khi đó, các doanh nghiệp có thể chọn lựa nhiều nguồn cung cấp hơn từ Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ… mà không ảnh hưởng nhiều đến giá thành. Có doanh nghiệp đã chủ động đặt chi nhánh tại thị trường Mỹ để nhận được đơn hàng trực tiếp, có doanh nghiệp thuyết phục được khách hàng dùng vải nội địa thay thế cho vải nhập khẩu… hay đã có doanh nghiệp chuẩn bị những bước cần thiết để đặt chân vào thị trường ODM.

Hướng đến TPP

Mục tiêu hiện nay của ngành dệt may Việt Nam là hướng về TPP. Theo ông Lê Tiến Trường, Phó chủ tịch Hiệp hội dệt may Việt Nam, kiêm Phó tổng giám đốc thường trực Vinatex, do có đến 60% thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam tập trung vào các nước thuộc khối đàm phán TPP, nên khi tham gia Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi đáng kể về thuế quan. Như thị trường Hoa Kỳ, hàng dệt may Việt Nam hiện chịu thuế suất khoảng 17 – 18%, khi Hiệp định TPP được ký kết thuế suất này sẽ giảm dần xuống 0%.

Với các quy tắc xuất xứ có khuyến khích sử dụng nhiều nguyên liệu nội khối TPP và hàng trong nước, nên trong dài hạn điều này sẽ thúc đẩy Việt Nam đầu tư vào khâu sản xuất nguyên liệu, cụ thể là sản xuất sợi, dệt và nhuộm. Và điều quan trọng là dệt may Việt Nam sẽ có thêm cơ hội xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ.

Dự kiến, ngành dệt may Việt Nam sẽ đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 60% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Khi đó, việc hưởng lợi từ thuế suất mới thực sự phát huy tác dụng.

Mong muốn là như vậy và cũng đã có nhiều nhà đầu tư nhanh chân đến Việt Nam tìm cơ hội đón đầu TPP tạo nên một làn sóng đầu tư từ hơn một năm nay trong lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu dệt may, gồm Hongkong, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Họ không chỉ đầu tư các dự án mới mà tiếp tục rót vốn để tăng vốn lũy kế các dự án còn hiệu lực, theo Bộ Công thương tính đến ngày 20/5 đã đạt là 7,8 tỉ USD (cuối năm 2012 mới chỉ là 4,58 tỉ USD).

Các doanh nghiệp trong nước như Thắng Lợi, Phong Phú, Dệt May Gia Định, các nhà máy thuộc Vinatex như Nhà máy sợi Hồng Lĩnh, Phú Bài, Dệt Yên Mỹ… cũng đang tích cực đầu tư mới cũng như đổi mới công nghệ và thiết bị nhằm thay đổi tình trạng nghịch lý hiện nay của Việt Nam là xuất sợi thô nhưng nhập vải thành phẩm cũng như yếu kém về mặt hàng phụ liệu như phụ liệu trang trí, các loại nút có xi, mạ…

Có một nút thắt vẫn chưa gỡ được dù nhiều lần các doanh nghiệp đã lên tiếng, thậm chí có doanh nghiệp cho rằng nếu Việt Nam không có chính sách hỗ trợ đầu tư thì ngành công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn mãi ở kiếp làm thuê, đó là chúng ta quá yếu trong khâu nhuộm, hoàn tất vải. Đây là công đoạn gây ô nhiễm nặng cho môi trường nên hầu hết các địa phương đã từ chối cho đặt nhà máy khi doanh nghiệp chưa có phương án rạch ròi.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính để doanh nghiệp không mặn mà là chi phí đầu tư, vận hành nhà máy quá lớn. Đầu tư một doanh nghiệp may chỉ vài mươi tỉ đồng, nhà máy dệt có thể lên đến vài trăm tỉ nhưng khâu nhuộm và hoàn tất thì phải đầu tư hàng nghìn tỉ đồng để xử lý ô nhiễm.

Nếu không có các chính sách miễn giảm tiền thuê đất, thuế, phí hay thu nhập doanh nghiệp thì khó có nhà đầu tư nào dám mạo hiểm và các cơ quan chức năng cứ phải tiếp tục đi “rình” doanh nghiệp xả nước thải ra môi trường.

Ai cũng biết Trung Quốc mạnh về vải vóc, những họ phải trả giá bằng sự ô nhiễm nặng nề của con sông Dương Tử. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đề nghị nên quy hoạch đầu tư lĩnh vực dệt may tại các khu công nghiệp tập trung và có chính sách khuyến khích cho đầu tư dệt nhuộm.

Các doanh nghiệp có nguồn nước thải ô nhiễm mà không có điều kiện đầu tư thì phải trả phí tương tự như thu phí cầu đường dạng BOT mới có thể đẩy nhanh hơn các dự án phát triển nguyên phụ liệu, dệt, nhuộm mà hiện vẫn đang bế tắc.

Bởi vì, nếu chuẩn bị không kịp chúng ta sẽ gặp một thách thức lớn khác như ông Lê Tiến Trường đã nêu là, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam làm thế nào tiếp cận thị trường khối các nước đang đàm phán TPP, trong khi nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam lại chủ yếu nhập khẩu từ các nước ngoài khối này. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với việc mở cửa thị trường trong nước cho các nước thành viên TPP vào Việt Nam khi hiệp định được ký kết.

Phải mở cửa nhưng nội tại của ngành chưa thật sự bền vững và sẽ dẫn đến những điểm yếu khác. Ðó là tỷ trọng tích lũy của ngành chưa cao; các doanh nghiệp dệt may chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu về khâu may (là khâu đầu tư thấp, dễ dịch chuyển).

Doanh nghiệp dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả cao nhất TPP thì phải hình thành chuỗi cung ứng bên trong, có sự liên kết hữu cơ giữa các khâu để đi đến một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ thiết kế – nguyên, phụ liệu – may – phân phối hình thành trong cộng đồng các thành viên tham gia ký kết Hiệp định TPP.

• Hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã có mặt ở khoảng 50 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD, trong đó, 16 thị trường đạt trên 100 triệu USD gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Canada, Trung Quốc, Hà Lan và Đài Loan. Bốn tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng chung của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (16,9%). Dự kiến năm 2014, con số xuất khẩu tiếp tục vượt qua con số 20 tỉ USD.

• Đối với 11 nước trong khối đàm phán Hiệp định TPP, xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2013 đạt 11.684 triệu USD, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số thị trường TPP đạt khá cao, như Hoa Kỳ 36%, Canada 25,2%, Nhật Bản 17,4%, Chile 14%, Mexico 9,8%…

Kim Phi

Doanh nhân sài gòn

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang tiến đến giai đoạn đàm phán then chốt với gần 20 lĩnh vực xếp vào loại phức tạp về mặt kỹ thuật và nhạy cảm trong việc mở cửa thị trường.

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang tiến đến giai đoạn đàm phán then chốt với gần 20 lĩnh vực xếp vào loại phức tạp về mặt kỹ thuật và nhạy cảm trong việc mở cửa thị trường.

Tuy nhiên, các nước tham gia TPP đều có chung quan điểm không hoán đổi chất lượng của Hiệp định TPP để lấy thời hạn kết thúc đàm phán.

Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên thuộc Bộ Công Thương Việt Nam, đến nay TPP đã thực hiện được 19 phiên đàm phán chính thức cùng nhiều phiên đàm phán nhóm.

12 quốc gia tham gia TPP đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về một số lĩnh vực mang tính kỹ thuật, không quá nhạy cảm như hợp tác và xây dựng năng lực, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách cạnh tranh thuần túy…. Mục tiêu ban đầu mà các nước đặt ra là quyết tâm kết thúc đàm phán vào cuối năm 2013 nhưng thực tế, khối lượng các vấn đề còn lại rất nhiều và phức tạp.

Bản thân các Bộ trưởng đã vào cuộc (qua 5 phiên đàm phán) nhưng vẫn chưa tìm được giải pháp ổn thỏa mà tất cả các bên đồng thuận. Kỳ vọng kết thúc đàm phán trong 6 tháng đầu năm nay cũng không còn cơ hội và được xác định ngay sau Hội nghị Bộ trưởng các nước TPP tại Singapore vào tháng Năm vừa qua.

Cũng theo Vụ Chính sách thương mại đa biên, Việt Nam cũng như các nước đã đặt ra các lợi ích và nghĩa vụ của từng quốc gia và đều thống nhất, chỉ khi nào các bên đều có được sự cân đối giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lúc đó TPP mới có thể kết thúc đàm phán. Việt Nam cũng như các nước không sẵn sàng hy sinh quyền lợi chỉ để đáp ứng một thời hạn nào đó. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể vẫn đang băn khoăn về lợi ích và thách thức khi Hiệp định TPP được ký kết nhưng có thể khẳng định, chắc chắn sẽ có những lợi ích cốt lõi đối với nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp nói riêng.

Liên quan đến thuế quan, Việt Nam sẽ đáp ứng quy tắc chung của TPP về việc xóa bỏ 100% thuế nhập khẩu (trong đó 90% là xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực), nhưng Việt Nam yêu cầu phải có được lộ trình giảm thuế cụ thể nhất là với các mặt hàng nhạy cảm.

Lý giải cho vấn đề này, các chuyên gia cho rằng, thuế nhập khẩu bình quân của Việt Nam hiện nay là 13%, trong khi thuế bình quân của Hoa Kỳ khoảng 4%, Nhật Bản là 3% và Australia chỉ hơn 2%. Do vậy, rõ ràng thời gian mức thuế đi từ 1-4% về 0% ngắn hơn nhiều so với mức 13%.

Uyên Hương

vietnam+

Dự báo, vài năm tới, khi gia nhập TPP, các doanh nghiệp (DN) dệt may Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn nữa khi chuỗi cung ứng nguyên liệu dệt may đang dần rơi vào tay các DN vốn đầu tư nước ngoài (FDI). ...

Dự báo, vài năm tới, khi gia nhập TPP, các doanh nghiệp (DN) dệt may Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn nữa khi chuỗi cung ứng nguyên liệu dệt may đang dần rơi vào tay các DN vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Nhiều DN FDI đang đón lõng việc cung cấp nguyên liệu cho DN Việt ngay trên sân nhà.

Nguyên liệu vẫn chủ yếu nhập ngoại

Dù được xếp vào nhóm các lĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước, song thực chất, lợi nhuận mang lại của ngành dệt may, nhiều năm nay, không cao.

Số liệu từ Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) cho thấy, năm 2013, ngành dệt may đạt được kim ngạch đáng tự hào, hơn 20 tỷ USD. Nhưng để đạt được con số này, các DN dệt may phải bỏ ra tổng cộng 13,58 tỷ USD để nhập khẩu nguyên phụ liệu (như bông, xơ sợi, vải và nguyên phụ liệu khác).

Còn nhìn vào số liệu Bộ Công Thương công bố năm 2013, tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may mới đạt gần 47%. Các DN mới chỉ đáp ứng khoảng 2% nhu cầu bông, 1/8 nhu cầu vải, sản xuất được 140.000 tấn sợi mỗi năm (nhưng chưa phải là sợi chất lượng cao), còn lại phải nhập khẩu.

Vấn đề phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu của ngành dệt may là nhìn thấy được, đã được cảnh báo khi Việt Nam tham gia đàm phán TPP. Bởi nguyên tắc của TPP, để được hưởng ưu đãi về thuế các DN phải chứng minh lô hàng xuất khẩu có xuất xứ nguyên phụ liệu từ sợi trở đi (không tính xuất xứ bông), được sản xuất trong nước hoặc tại các nước thành viên TPP.

Như vậy, thời gian tới, rõ ràng các DN ngành dệt may trong nước không thể thuần túy nhập nguyên liệu và gia công rồi xuất khẩu kiếm lợi như hiện tại. Muốn có lợi nhuận, có sức cạnh tranh cao hơn thì phải tự chủ cả về sản xuất lẫn nguyên phụ liệu. Thế nhưng đến giờ nguyên phụ liệu DN Việt vẫn chủ yếu nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan (những nước không tham gia TPP).

Trước đe dọa về sự sống còn, các DN Việt Nam đã “rục rịch” chạy đua chuẩn bị đón TPP, trong đó, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) tích cực nhất. Năm 2013, Vinatex đã triển khai 42 dự án sợi và dệt, tổng mức đầu tư hơn 6.300 tỷ đồng. Dù mạnh tay đầu tư nhưng Vinatex cũng chỉ chủ động được gần 60% nguyên phụ liệu cho mình, còn lại vẫn phải nhập khẩu.

Tiếp tục phụ thuộc?

Được coi là lĩnh vực có nhiều cơ hội lớn khi Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết, tuy nhiên, dường như DN nội đang đuối sức thấy rõ so với các DN ngoại thời kỳ tiền TPP.

Trong khi các DN nội còn đang loay hoay tìm thị trường, cạnh tranh lẫn nhau, theo số liệu của các địa phương, hàng loạt dự án FDI với số vốn khủng (của DN đến từ các nước không tham gia TPP) đang được đổ vào lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu ngành dệt may.

Cách đây ít ngày, dự án Nhà máy sản xuất sợi của Cty TNHH Dong - IL (Tập đoàn Dong - IL, Hàn Quốc) đã khởi công xây dựng tại Đồng Nai, với vốn đầu tư 52 triệu USD (hơn 1.000 tỷ đồng), công suất 9.000 tấn sản phẩm/năm. Giữa tháng 5, Cty Huafa Hồng Kông được cấp phép đầu tư dự án nhà máy kéo sợi màu chất lượng cao cung cấp cho các công ty chuyên ngành dệt may tại Việt Nam và xuất khẩu, tổng vốn đầu tư hơn 2.800 tỷ đồng, tại Long An.

Tỉnh Nam Định cũng vừa làm việc với liên doanh các nhà đầu tư gồm Cty Luenthai, Cty Foshan Sanshui Jialida (Hồng Kông) và Tập đoàn Dệt may Việt Nam để xây dựng khu công nghiệp chuyên về dệt may. Vốn đầu tư khu công nghiệp khoảng 350 triệu USD (hơn 7.300 tỷ đồng), nhằm phát triển ngành dệt may theo chuỗi cung ứng từ nhà máy kéo sợi - dệt - nhuộm - in - tới sản phẩm hoàn chỉnh.

Trước đó, hồi tháng 3, Nam Định đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Cty TNHH Tập đoàn Dệt may YULUN Giang Tô (Trung Quốc) xây dựng nhà máy sản xuất sợi, dệt, nhuộm với tổng vốn đầu tư 68 triệu USD (hơn 1.400 tỷ đồng).

Bà Đặng Phương Dung, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký VITAS cho biết, các DN dệt may đều hiểu khi vào TPP nếu dùng nguyên liệu nhập khẩu sẽ không được hưởng ưu đãi. VITAS đã kêu gọi các DN, đặc biệt DN đã làm nguyên phụ liệu mở rộng sản xuất, đầu tư mới.

“DN mình đã làm rồi nhưng không dễ, do năng lực hiện nay của DN Việt chưa đáp ứng được yêu cầu về vốn, công nghệ, quản trị. Đặc biệt là thiếu nhân lực đáp ứng được yêu cầu”, bà Dung nói.

Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, các DN FDI đầu tư vào nguyên phụ liệu sau đó bán lại cho các DN Việt để gia công, như vậy cũng không khác nhập khẩu nguyên liệu. “Không tự sản xuất được nguyên liệu, không thiết kế được mẫu mã…

DN Việt sẽ vẫn làm theo đơn đặt hàng, cũng chỉ là gia công như hiện nay. Và như vậy, TPP cũng chưa mang lại gì nhiều cho DN trong nước, chỉ tạo thêm ít công ăn việc làm, ít thuế. Còn lại thì chúng ta vẫn trong cảnh phụ thuộc hoàn toàn. Với cách làm ăn này, doanh nghiệp Việt sẽ không có thế mạnh gì ngoài thế mạnh làm gia công”, ông Doanh nói.

Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đặt mục tiêu: Tỷ lệ nội địa hóa đến năm 2015 đạt 55%, năm 2020 đạt 65% và đạt 70% vào năm 2030. Đồng thời, các doanh nghiệp dệt may nhiều lao động sẽ chuyển về nông thôn; đô thị lớn sẽ tập trung vào thời trang, sản xuất mẫu, cung cấp dịch vụ, nguyên phụ liệu, công nghệ ngành dệt may.

Lê Hữu Việt

tiền phong

Tại tọa đàm “TPP - cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam” do Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng (Vacod) tổ chức chiều 5-6.

Tại tọa đàm “TPP - cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam” do Hiệp hội Phát triển hàng tiêu dùng (Vacod) tổ chức chiều 5-6.

Ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương (Trưởng đoàn đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương - TPP của Việt Nam), cho biết dệt may là vấn đề lợi ích cốt lõi trong TPP, trong đó quy định nguyên tắc xuất xứ là nội dung quan trọng.

Thứ trưởng cho biết Việt Nam vẫn phải nhập khẩu vải, mặc dù vải Việt Nam có thể sản xuất được nhưng chất lượng không đáp ứng được xuất khẩu. Mỹ là thị trường lớn đối với dệt may Việt Nam và họ có quy định khắt khe; hai bên vẫn đang đưa ra những điểm để tìm tiếng nói chung trong đàm phán. Trước mắt, Mỹ đưa ra phương án có thể cho Việt Nam nhập khẩu vải từ đối tác thứ ba nhưng dựa trên những danh mục sản phẩm theo chuẩn mà phía họ cung cấp vào thị trường Việt Nam, xem đó là loại vải có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam. Tuy nhiên, phương án này có thể tạo ra “nguyên tắc xuất xứ lỏng” - Việt Nam chỉ cần nhập vải về và cắt may. Điều này sẽ khiến DN Việt Nam không có động lực để đầu tư vào dệt may. “Để phát triển toàn diện ngành dệt may, không còn cách nào khác là cần nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, chủ động về nguồn nguyên liệu sợi, nhuộm; đầu tư cơ sở sản xuất, tránh sản xuất kiểu “mì ăn liền” - Thứ trưởng khuyên DN.

Về mặt hàng thực phẩm, theo ông Khánh, thịt gà, thịt heo là mặt hàng nông nghiệp khó khăn nhất khi tham gia TPP. “Đến bây giờ dù là nước thuần nông nhưng tôi vẫn không hiểu nổi tại sao thịt heo của Việt Nam không đủ sức cạnh tranh được với nước ngoài; thậm chí thuế nhập khẩu thịt heo lên đến 40% nhưng không thể cạnh tranh nổi với thịt heo nhập từ Mỹ”. Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam còn đang tiêu thụ phần lớn thịt bò từ Lào, Campuchia và một phần từ Úc dù mức giá chênh lệch với thị trường trong nước không lớn. Khi tham gia TPP thì sẽ có một lượng lớn thịt bò từ Úc, New Zealand vào Việt Nam vì thuế suất 0%. Điều mà ông Khánh băn khoăn: “Việt Nam là nước nông nghiệp và không có gì có thể ngăn cản chúng ta phát triển chăn nuôi bò nhưng đến nay vẫn chưa chủ động, tự túc được thịt bò”.

Trà Phương

pháp luật tphcm

Hiện Việt Nam và các nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang nỗ lực đàm phán. Phóng viên báo Công Thương có cuộc trao đổi với ông Rick Rowland- Trưởng phòng Chương ...

Hiện Việt Nam và các nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang nỗ lực đàm phán. Phóng viên báo Công Thương có cuộc trao đổi với ông Rick Rowland- Trưởng phòng Chương trình Cao cấp về Quản trị Dân chủ của ActionAid Quốc tế- xung quanh vấn đề này.

Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, khi tham gia vào TPP, ngoài những lợi ích kỳ vọng sẽ đạt được, Việt Nam cũng đối mặt với khá nhiều bất lợi. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

Thật vậy, hiệp định TPP yêu cầu Việt Nam phải có những thay đổi mạnh mẽ trong các chính sách đối nội và các quy định pháp luật hiện hành mà trong nhiều trường hợp, những thay đổi này về lâu dài sẽ làm suy yếu khả năng xây dựng những ngành công nghiệp mới trong nước. Đặc biệt là đối với các ngành sản xuất và dịch vụ tiên tiến với mức chi trả cao mà Việt Nam cần xây dựng trong vòng 15 đến 30 năm tới.

Ông Rick Rowland- Trưởng phòng Chương trình Cao cấp về Quản trị Dân chủ của ActionAid Quốc tế

Một trong những chương quan trọng trong TPP là về hàng hóa. Khi Việt Nam tham gia vào TPP, thuế suất của nhiều mặt hàng sẽ giảm xuống còn 0% và chỉ còn có một hay hai biểu thuế được giữ lại. Theo đó, Việt Nam sẽ phải cắt giảm các dòng thuế quan bảo hộ trên các sản phẩm nhập khẩu; đồng thời, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày một gia tăng từ các công ty lớn của Nhật Bản, Hoa Kỳ và Australia. Điều này sẽ cản trở quá trình Việt Nam xây dựng các doanh nghiệp sản xuất trong nước để phục vụ những lĩnh vực tiến bộ hơn trong tương lai.

Ngoài ra, về vấn đề mua sắm Chính phủ, Việt Nam sẽ phải tuân thủ nguyên tắc về đấu thầu cạnh tranh. Nếu nhìn trong ngắn hạn, những nguyên tắc đó sẽ tạo được hiệu ứng khá tốt bởi ngay lập tức Chính phủ có thể tiết kiệm được ngân sách trong hoạt động đấu thầu mua sắm, nhưng ngành công nghiệp trong nước có khả năng sẽ phải chịu những tổn thất kinh doanh rất lớn.

Theo ông Việt Nam cần phải lưu tâm những vấn đề gì khi tham gia hiệp định này?

Tôi cho rằng Việt Nam cũng cần đặc biệt lưu tâm đến chính sách ưu đãi cho vay tín dụng. Trước đây, Nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nhưng khi tham gia TPP thì các chính sách sẽ phải hướng tới sự công bằng hơn trong việc cung cấp các khoản ưu đãi cho công ty trong và ngoài nước. Đây là chính sách đối xử quốc gia, tuy nhiên vấn đề này lại có thể gây nguy hiểm cho doanh nghiệp Việt Nam bởi các công ty lớn có thể gây áp lức đối với các DN Việt Nam có tiềm lực nhỏ bé.

Trong khi đó, trước đây những công ty lớn của nước ngoài cũng đã nhận được nhiều sự hỗ trợ từ chính phủ nhưng nay những quốc gia này lại lên tiếng kêu gọi cần phải thay đổi chính sách kinh tế để phù hợp với giai đoạn mới.

Tuy nhiên, lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy các quốc gia phát triển đều phải trải qua giai đoạn gắn kết các nhà nước với doanh nghiệp và đến một thời điểm nào đó, các doanh nghiệp này mới tách khỏi sự hỗ trợ của nhà nước. Vì vậy, tôi cho rằng, muốn phát triển dài hạn phải nhìn vào thành công của các quốc gia phát triển khác.

Ông có lời khuyên gì cho Việt Nam trong thời điểm này?

Cũng giống như WTO, TPP có nhiều chính sách ưu đãi cho các nước kém phát triển hơn. Nhưng tôi không chắc Việt Nam có thực hiện những điều này trong TPP hay không vì hiện nay Việt Nam là quốc gia có mức thu nhập trung bình. Vì vậy, Việt Nam cần cố gắng nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thực tế, theo một nghiên cứu mới nhất của Nam Phi cho thấy, một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào nước này lại không bắt nguồn từ những nước ký kết hiệp định thương mại. Các quốc gia đầu tư ra nước ngoài thường quan tâm nhiều hơn đến thị trường, cơ sở hạ tầng và nhân lực. Việt Nam cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng vấn đề này.

Xin cám ơn ông!

Nguyễn Hường

công thương

Những ngày đầu tháng 5 này, cả Việt Nam phẫn nộ, sôi sục trước sự kiện Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 cùng nhiều tàu và máy bay hộ tống vào vị trí nằm sâu trong vùng đặc quyền ...

Những ngày đầu tháng 5 này, cả Việt Nam phẫn nộ, sôi sục trước sự kiện Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 cùng nhiều tàu và máy bay hộ tống vào vị trí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế nước ta.

Bầu không khí nóng lên từng ngày với những diễn biến mỗi lúc mỗi nguy hiểm của nhà cầm quyền Trung Quốc trên biển Đông. Thêm nữa, đã bắt đầu xuất hiện những lo ngại về những hành động trả đũa ngược mà Trung Quốc có thể thực hiện với Việt Nam trên mặt trận kinh tế.

Trong bối cảnh như vậy, hầu như chẳng ai còn bụng dạ nào để ý tới cuộc gặp cấp trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ ngày 12 đến 15-5 tại TPHCM. Và tiếp sau đó là hội nghị bộ trưởng 12 nước đàm phán TPP tại Singapore. Những vấn đề được thảo luận tại TPHCM nghe nói không mới, vẫn xoay quanh những tranh cãi dai dẳng về mở cửa thị trường, các chuẩn bảo hộ cao hơn trong sở hữu trí tuệ, về môi trường, đầu tư, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ...

Trong khi đó, kết quả hội nghị tại Singapore chỉ đạt được một số tiến bộ liên quan tới thuế quan và tiếp cận thị trường, song chưa phải hoàn toàn thỏa đáng, theo lời của Bộ trưởng Thương mại Malaysia Mustapa Mohamed.

Với những người Việt Nam theo dõi sự kiện này, không mấy ai ngạc nhiên về những tiến triển mờ nhạt sau các cuộc gặp. Nhưng phải thừa nhận là họ có một chút thất vọng, bởi trong tình hình này, hơn lúc nào hết Việt Nam trông chờ biết bao nhiêu vào những tiến triển của đàm phán TPP, cũng như đàm phán tương tự giữa Việt Nam và EU, hay với Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Kazakhstan...

Những hiệp định tự do thương mại (FTA) này, khi được đàm phán thành công và đi vào thực thi, sẽ là một trong những lối thoát có ý nghĩa cho Việt Nam trong việc giảm bớt và dần dần thoát khỏi tình trạng lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc như hiện nay, không chỉ vì tranh chấp ở biển Đông leo thang mà là vì sự cân bằng trong lâu dài của nền kinh tế.

Một chìa khóa mở rộng nguồn cung cho Việt Nam

Với bản chất là các thỏa thuận dành ưu đãi thuế quan cho hàng hóa từ các đối tác, các FTA có thể giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung cho sản xuất cũng như tiêu dùng.

Cụ thể, với các FTA, trang thiết bị, máy móc, công nghệ phục vụ sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào và hàng tiêu dùng từ các nước đối tác FTA, mà đặc biệt từ các nước có nền khoa học công nghệ tiên tiến, có sản phẩm hàng hóa chất lượng cao có thể nhập khẩu vào Việt Nam với giá cả hợp lý hơn. Cũng với các FTA, thị trường dịch vụ (xây lắp, tài chính...) của Việt Nam sẽ chứng kiến sự tham gia cạnh tranh sôi động hơn, bình đẳng và minh bạch hơn của các nhà cung cấp dịch vụ từ các đối tác với chi phí hợp lý hơn.

Đây sẽ là cơ sở để cải thiện phần nào tình trạng “nhập siêu” hàng hóa, dịch vụ từ Trung Quốc, nguồn cung vốn trước nay áp đảo tất cả các nguồn khác bằng thế mạnh giá rẻ của mình dù chất lượng không cao, dù công nghệ không tốt hay dù có nguy hại tới môi trường hay con người.

Với 7 trong 8 FTA mà Việt Nam đã ký kết là với các nước trong khu vực châu Á, châu Đại Dương, lẽ ra chúng ta đã có thể tận dụng bổ sung dần nguồn cung từ Trung Quốc bằng nguồn cung từ các nước này.

Nhưng rồi thói quen mua hàng giá rẻ vẫn lấn lướt, để rồi thị trường hàng hóa nguyên liệu vẫn ngập hàng Trung Quốc, nhà thầu và lao động Trung Quốc hiện diện ở khắp nơi, để rồi nhập siêu từ Trung Quốc vẫn “ngoạm” trọn tất cả những nỗ lực xuất siêu của chúng ta sang các thị trường và khiến nền kinh tế tiếp tục lún sâu vào vị trí phụ thuộc.

Với các FTA với những đối tác lớn sắp tới, Việt Nam lại một lần nữa đứng trước cơ hội có thể tiếp cận nguồn cung với giá hợp lý hơn và với chất lượng tốt hơn từ các đối tác có nền kinh tế tri thức, nền kinh tế xanh của tương lai.

Một lối ra khả dĩ cho xuất khẩu

Theo số liệu chính thức thì Trung Quốc chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta và không phải là thị trường lớn nhất. Tuy nhiên, Trung Quốc đang là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam, và do đó có ảnh hưởng trực tiếp và tức thời tới thu nhập của một bộ phận đáng kể nông dân và người sản xuất nông nghiệp nước ta.

Việt Nam bán nông sản sang Trung Quốc chẳng phải vì giá cả hấp dẫn, so với các thị trường phương Tây, giá bán chỉ bằng 1/10 và cũng không suôn sẻ gì. Mỗi năm mùa nào thức ấy câu chuyện bị xử ép tại cửa khẩu biên giới lại xảy ra, rồi tình trạng chậm thanh toán, hủy ngang hợp đồng tràn lan... cũng thường xuyên lặp lại. Nhưng chúng ta vẫn tiếp tục xuất sang thị trường này, bởi chưa biết cách để đáp ứng các tiêu chuẩn của khách hàng khó tính EU, Mỹ...

Vì vậy, việc thông qua các FTA để tiếp tục đa dạng hóa đầu ra cho các sản phẩm, đặc biệt là nông sản Việt Nam, tại các thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng là một cơ hội không thể bỏ qua. Với các FTA, Việt Nam không chỉ kỳ vọng ở việc tiếp cận thị trường với thuế quan ưu đãi mà còn ở các cơ hội trao đổi, đàm phán để giải quyết những vấn đề vốn trước nay là rào cản giữa Việt Nam và các thị trường này như hàng rào kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ.

Thương mại toàn cầu - sự phụ thuộc lẫn nhau

Trong lúc các nhà làm chính sách đang tìm những lối ra khả dĩ cho nền kinh tế để tránh tình trạng “bỏ tất cả trứng vào một giỏ” như hiện nay, cũng cần thừa nhận một thực tế là chúng ta đang kinh doanh trong một nền thương mại toàn cầu nơi mọi doanh nghiệp, mọi nền kinh tế đều có sự ràng buộc, liên hệ chặt chẽ với nhau. Điều này đúng với cả Việt Nam và Trung Quốc.

Do đó, với các FTA cũ và mới, với nhiều giải pháp khác nhằm giảm sự lệ thuộc vào Trung Quốc, chúng ta vẫn phải đồng ý với nhau rằng sự phụ thuộc lẫn nhau là tất yếu, và rằng việc duy trì quan hệ thương mại bình thường, ổn định giữa Việt Nam và Trung Quốc là cần thiết, vì lợi ích lâu dài của cả hai bên.

Mọi động thái tẩy chay, kỳ thị hay phá hoại hoạt động giao thương, đầu tư giữa hai bên sẽ là thất sách, ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới lợi ích của doanh nghiệp và nền kinh tế.

Trang Nguyễn

tbktsg

Ngày 19/5, tại Singapore, Hội nghị bộ trưởng của 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã khai mạc.

Ngày 19/5, tại Singapore, Hội nghị bộ trưởng của 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã khai mạc.

Đoàn Việt Nam tham dự hội nghị này do ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ Công Thương, Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế, dẫn đầu.

Trước Hội nghị Bộ trưởng, trưởng đoàn đàm phán và các chuyên gia cấp cao của 12 nước tham gia đàm phán TPP là Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam đã họp tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 12-15/5.

Các đại biểu tập trung thảo luận các vấn đề còn tồn tại liên quan tới các lĩnh vực tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ, đầu tư, môi trường, doanh nghiệp nhà nước và dịch vụ tài chính.

Các vấn đề trên sẽ tiếp tục được thảo luận tại các phiên họp đa phương và song phương được tổ chức trong hai ngày của Hội nghị Bộ trưởng lần này.

Hãng thông tấn Kyodo của Nhật Bản trích lời Quốc vụ khanh phụ trách đàm phán TPP của Nhật Bản Akira Amari nói với báo giới vào cuối tuần trước rằng tại Singapore, các nước sẽ “bắt đầu đánh giá những tiến bộ (trong quá trình đàm phán vừa qua) và xem xét cẩn trọng (các vấn đề còn tồn tại).”

Trong khi đó, nguồn tin từ đại biểu tham gia phiên họp của các trưởng đoàn đàm phán tại Việt Nam cho biết tại Singapore, các bộ trưởng khó có thể đưa ra thông báo về một thỏa thuận, có chăng là thông báo về “hướng đi nào đó” để thúc đẩy các cuộc đàm phán.

Trước Hội nghị Bộ trưởng, Bộ trưởng Ngoại giao Singapore, ông K. Shanmugam trong chuyến thăm Mỹ từ ngày 12-16/5 và người đồng cấp Mỹ, ông John Kerry đã đạt được đồng thuận rằng việc sớm kết thúc các phiên đàm phán về TPP là rất quan trọng.

Nhiều quan sát viên thương mại nhận định mặc dù các nước tham gia đàm phán TPP đều mong muốn sớm kết thúc các phiên đàm phán, nhưng hội nghị bộ trưởng lần này chỉ là cơ hội để 10 nước đánh giá những trở ngại đối với quá trình đàm phán xuất phát từ những bất đồng giữa Nhật Bản và Mỹ, hai nền kinh tế lớn nhất trong 12 nước hiện tham gia đàm phán TPP.

Nhật Bản muốn duy trì thuế nhập khẩu đối với một số hàng nông sản như thịt bò, thịt lợn, gạo, lúa mỳ và các sản phẩm sữa. Trong khi đó, Mỹ thúc giục Nhật Bản rỡ bỏ hàng rào phi thuế quan đối với ngành công nghiệp ôtô để các nhà sản xuất Mỹ có thể tiếp cận tốt hơn thị trường Nhật Bản.

Kim Yến/Singapore

Vietnam+

Nói đến Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhiều chuyên gia bày tỏ những quan ngại về các thách thức Việt Nam sẽ phải đối mặt khi hiệp định này được ký kết.

Nói đến Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhiều chuyên gia bày tỏ những quan ngại về các thách thức Việt Nam sẽ phải đối mặt khi hiệp định này được ký kết.

TS. Phạm Đỗ Chí, chuyên gia kinh tế:

3 thách thức

Thách thức đầu tiên là Việt Nam sẽ phải cạnh tranh bình đẳng với các nước trong khối khi thuế nhập khẩu giảm về 0%; thị trường dịch vụ, đầu tư phải mở cửa, mua sắm chính phủ sẽ phải tuân theo khuôn khổ TPP. Sức ép liên quan đến giảm thuế nhập khẩu về 0% sẽ chủ yếu đến từ các nước Việt Nam chưa có quan hệ FTA, bao gồm Hoa Kỳ, Canada, Mexico và Peru. Những ngành sản xuất của Việt Nam thực sự gặp khó khăn sẽ là ô tô, thịt lợn, thịt bò, đường. Tiếp sau là thực phẩm chế biến, rượu và hóa phẩm tiêu dùng. Liên quan đến mở cửa thị trường dịch vụ và đầu tư, sức ép cạnh tranh đến từ 3 ngành chính là ngân hàng, thương mại bán lẻ và viễn thông. Về mua sắm chính phủ trong khuôn khổ TPP, tác động của việc mở cửa thị trường tuy có nhưng ở mức chấp nhận được.

Thách thức thứ hai liên quan đến rủi ro thất thu ngân sách do giảm thuế nhập khẩu. Việc giảm thuế nhập khẩu sẽ dẫn tới giảm thu ngân sách nhưng thách thức này không lớn vì 2 lý do. Một là việc giảm thu sẽ diễn ra từ từ vì Việt Nam sẽ giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình. Hai là khi Việt Nam giảm thuế nhập khẩu, hàng nhập từ Hoa Kỳ và các nước TPP có khả năng tăng lên và số thu từ thuế giá trị gia tăng vì vậy cũng tăng lên.

Thách thức thứ ba, quan trọng nhất là việc tiến hành thành công cải cách DNNN để thu lợi tối đa từ TPP. Kinh tế Việt Nam đang ở thời kỳ khó khăn nhất vì sự suy kiệt của DN nói chung gây nên bởi các mối nợ to lớn cũng như quản trị thiếu hiệu quả của các DNNN. Cuộc đàm phán khó khăn với TPP đã xoay quanh không ít vấn đề trong địa hạt này. Trong hiện trạng nền kinh tế đang khó khăn và thực tế dù lãi suất đã nỗ lực hạ nhiều nhưng gần như chỉ có các DNNN mới được dành sự ưu đãi đặc biệt qua chính sách tín dụng và hơn nữa các món nợ ngân hàng của nhiều DNNN lại thiếu tài sản thế chấp hay nếu có tài sản đó phần lớn lại thuộc sở hữu nhà nước. Đây chính là lỗ hổng lớn trong khối nợ xấu và tài sản thế chấp “tồn kho” của hệ thống ngân hàng Việt Nam và xử lý như thế nào 153.000 tỷ đồng nợ xấu của các tập đoàn, tổng công ty là một câu hỏi đầy thách đố.

Ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Vissan:

Thách thức sản xuất nông nghiệp-nông thôn

Đối với thị trường trong nước, Việt Nam phải mở cửa thị trường tức phải loại bỏ 100% dòng thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm nông nghiệp trong khi rào cản kỹ thuật chưa có hoặc không cao nên thị trường nội địa gặp bất lợi. Với tính chất là một nước có khu vực sản xuất nông nghiệp khá lớn, Việt Nam có nhu cầu cao trong việc yêu cầu các đối tác mở cửa thị trường cho nông sản Việt Nam. Vấn đề khó khăn là các nước TPP đều có xu hướng đàm phán hạn chế, giữ bảo hộ với nông sản nội địa (không mở cửa).

Đối với thị trường xuất khẩu, rào cản kỹ thuật của các nước sẽ khắt khe hơn trong khi năng lực cạnh tranh của Việt Nam không cao dẫn đến khó tận dụng lợi ích từ việc giảm thuế quan. Điều này gây bất lợi cho nông sản Việt Nam dù thuế suất có là 0%. Nông sản là một vấn đề rất khó đàm phán vì từ xưa đến nay trong khuôn khổ đàm phán các hiệp định thương mại hay gia nhập WTO… nông sản luôn là lĩnh vực được các nước bảo hộ mạnh mẽ. Vấn đề TBT (hàng rào kỹ thuật thương mại) và SPS (biện pháp vệ sinh dịch tễ) rất quan trọng với khả năng tiếp cận thị trường các nước của nông sản Việt Nam. Dù thuế quan có được cắt bỏ hết nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh… của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của Việt Nam, thậm chí còn nhiều rủi ro hơn so với thuế quan.

Luật sư Phạm Mạnh Dũng, Văn phòng luật sư LCT Lawyers:

Lo ngại đầu tư bị thu hẹp

Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với những “người khổng lồ” từ các nước TPP ngay ở thị trường trong nước. Việc giảm thuế sẽ dẫn đến việc gia tăng các luồng hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam với giá cạnh tranh. Hệ quả tất yếu là DN sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, thị phần hàng hóa, đầu tư có nguy cơ bị thu hẹp. Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng và hạ tầng chính sách pháp luật, quản lý điều hành, cải cách hành chính cũng là rào cản, thách thức cho Việt Nam khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Một khó khăn nữa có thể gặp phải là trong khi TPP còn đang đàm phán, nhiều DN nước ngoài đã mạnh tay rót vốn vào những lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh nhằm đón đầu cơ hội, trong khi hầu hết DN Việt Nam còn rất mơ hồ về TPP.

Đối với hoạt động đầu tư tại Việt Nam từ các nước không phải thành viên của TPP cũng có ảnh hưởng không nhỏ. Bởi nguyên tắc xuất xứ nội khối tạo ra cơ hội nhưng cũng là thách thức đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các DN xuất khẩu sang các quốc gia thành viên TPP. Nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan là những quốc gia có tỷ trọng đầu tư lớn tại Việt Nam mà nguồn đầu vào không có đủ hàm lượng xuất xứ từ TPP không được hưởng ưu đãi từ hiệp định này sẽ tạo ra sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm từ các nước thuộc khối TPP. Dịch vụ là mảng hoạt động đầu tư mà mức độ mở cửa thị trường của Việt Nam hạn chế và dè dặt nhất. Với TPP, sự tham gia mạnh mẽ và tự do hơn của các nhà cung cấp có tiềm lực lớn, có kinh nghiệm lâu năm, có ưu thế về dịch vụ trên thế giới có thể khiến các đơn vị cung cấp dịch vụ của Việt Nam và các nhà đầu tư đến từ ngoại khối TPP gặp khó khăn trong cạnh tranh do có sự giới hạn phạm vi hoạt động dịch vụ.

Đức Mạnh (ghi)

sài gòn đầu tư tài chính

Tiềm lực tài chính mạnh, khả năng liên kết linh hoạt và tạo được chuỗi khép kín trong tiêu thụ từ nguyên liệu đến thành phẩm khiến các doanh nghiệp dệt may nước ngoài thắng thế so với doanh nghiệp ...

Tiềm lực tài chính mạnh, khả năng liên kết linh hoạt và tạo được chuỗi khép kín trong tiêu thụ từ nguyên liệu đến thành phẩm khiến các doanh nghiệp dệt may nước ngoài thắng thế so với doanh nghiệp trong nước trong cuộc đua đón đầu Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhằm hưởng thuế suất ưu đãi.

Thời gian gần đây, hàng loạt doanh nghiệp dệt may Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông ồ ạt vào Việt Nam xây nhà máy sợi, dệt, nhuộm đón đầu TPP để được hưởng thuế suất nhập khẩu 0%. Trong khi đó, các doanh nghiệp trong nước tỏ ra yếu thế, bị động hơn trong cuộc đua này.

Tại TPHCM mới đây có hai công ty lớn là Forever Glorious thuộc tập đoàn Sheico (Đài Loan) cam kết rót 50 triệu đô la Mỹ đầu tư dự án hoàn chỉnh từ dệt vải đến thành phẩm may mặc chuyên dụng cao cấp cho thể thao dưới nước hoặc Công ty Gain Lucky Limited thuộc tập đoàn Shenzhou International (Trung Quốc) cũng sẽ đầu tư đến 140 triệu đô la Mỹ để phát triển dự án trung tâm thiết kế thời trang và sản xuất các sản phẩm may mặc cao cấp.

Tại Nam Định, tập đoàn Dệt may Yulun Giang Tô (Trung Quốc) cũng được cấp phép xây nhà máy khép kín từ sản xuất sợi, dệt, nhuộm với tổng vốn đầu tư 68 triệu đô la Mỹ. Ngoài ra, hàng loạt doanh nghiệp dệt may lớn từ Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc thậm chí từ Mỹ cũng đang có dự định mở rộng các dự án sản xuất dệt may tại Việt Nam để tận dụng cơ hội từ TPP mang lại.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn đầu tuần này, ông Nguyễn Anh Kiệt, Phân viện trưởng Phân viện Dệt may tại TPHCM, cho rằng các dự án sản xuất sợi, dệt, nhuộm thường có chi phí đầu tư rất cao, một dây chuyền sản xuất sợi có chi phí đầu tư cao gấp hàng chục lần so với dây chuyền may, một máy kéo sợi có giá gần 2 triệu đô la Mỹ và một dây chuyền kéo sợi có rất nhiều máy. Chưa kể các công đoạn sau kéo sợi như dệt, nhuộm đòi hỏi đầu tư hàng chục triệu đô la cho hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải nên các nhà đầu tư nước ngoài vốn dĩ mạnh về tiềm lực tài chính thường có lợi thế hơn doanh nghiệp trong nước.

Cũng theo ông Kiệt, trong khi vừa mạnh về vốn, các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài thường có sẵn hệ thống tiêu thụ sản phẩm thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp trong hệ thống chuỗi cung ứng có sẵn. Trong khi đó, liên kết nội khối của doanh nghiệp trong nước còn quá yếu, thậm chí đến thời điểm này (khi TPP cận kề có hiệu lực) các doanh nghiệp còn chưa muốn liên kết với nhau.

Theo quy định xuất xứ “từ sợi” (yarn forward) của TPP, các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu sản phẩm sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi khi sử dụng nguyên liệu sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước thành viên TPP khác.

Ông Lê Quốc Ân, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho biết đối với các nước đang đàm phán TPP thì chẳng có nước nào sản xuất sợi, vải với giá vừa phải, nên doanh nghiệp trong nước khó sử dụng. Vì vậy, quan trọng nhất vẫn là sợi và vải của Việt Nam tự sản xuất, tức là định hướng phát triển của ngành dệt may chính là phát triển chuỗi giá trị theo ngành dọc, cụ thể là phát triển từ vùng nguyên liệu đến thành phẩm.

Điều này có nghĩa là doanh nghiệp dệt may trong nước muốn chủ động được nguyên liệu phải tạo sự liên kết giữa các doanh nghiệp từ sản xuất sợi, dệt, nhuộm rồi cuối cùng là may ra thành phẩm theo chuỗi khép kín. Sản phẩm cuối cùng muốn đáp ứng yêu cầu của nhà nhập khẩu nước ngoài thì chất lượng của từng công đoạn ban đầu phải đảm bảo chất lượng tốt.

Theo đánh giá của Phân viện trưởng Phân viện Dệt may tại TPHCM Nguyễn Anh Kiệt, đối với các doanh nghiệp vốn nước ngoài, khi họ vào Việt Nam đầu tư nhà máy sản xuất sợi, dệt hay nhuộm họ đã có sẵn đầu ra cho sản phẩm bằng sự liên kết với các doanh nghiệp khác. Ở khâu tạo sự liên kết này, doanh nghiệp dệt may trong nước đang vẫn còn khá yếu. Hiệp định TPP đang được đàm phán giai đoạn nước rút và thời gian có hiệu lực đang cận kề nên xem ra việc tạo sự liên kết càng khó thành công.

Có thể nói, tại Việt Nam hiện nay, tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) là một trong số những doanh nghiệp lớn hiếm hoi đang ráo riết tăng cường đầu tư các dự án sợi, dệt và sản xuất vải để đón đầu cơ hội xuất khẩu.

Hiện Vinatex đang triển khai dự án chuỗi nhà máy dệt - nhuộm - may tại khu công nghiệp Xuyên Á (tỉnh Long An) công suất giai đoạn 1 là 6 triệu mét vải mỗi năm và giai đoạn 2 nâng lên thành 10 triệu mét mỗi năm, dự kiến dự án này sẽ có sản phẩm vào tháng 8-2015. Tổng cộng, Vinatex đang có 12 dự án sợi, 9 dự án dệt được khởi động đầu tư trong năm 2013. Trong năm 2014, Vinatex tiếp tục đầu tư thêm khoảng 5.000 tỉ đồng cho các dự án phát triển nguyên phụ liệu, trong đó tập trung đến các dự án sợi, dệt nhằm gia tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm.

Tuy nhiên, khi nói về khả năng đầu tư đón đầu TPP thì ông Đặng Vũ Hùng, Phó tổng giám đốc Vinatex, cũng phải thừa nhận nguồn lực tài chính của doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đủ mạnh, không thể so sánh với doanh nghiệp nước ngoài, đặc biệt khi xây dựng các dự án nguyên liệu lớn cần rất nhiều vốn.

Ngoài ra, ông Hùng còn cho rằng trong khi muốn xây dựng một dự án từ sợi đến thành phẩm thì đòi hỏi phải qua các bước đào tạo đội ngũ chuyên gia, lựa chọn công nghệ và kỹ thuật sản xuất công phu và tốn kém hơn rất nhiều so với chỉ đầu tư công đoạn may thành phẩm.

Và trong khi doanh nghiệp trong nước còn loay hoay tìm kiếm những yếu tố quan trọng này thì doanh nghiệp nước ngoài hầu như có sẵn mọi thứ, từ nguồn nhân lực, công nghệ đến vốn liếng, chỉ cần xin cấp phép đầu tư xong là họ có thể huy động đủ nguồn lực bắt tay vào sản xuất ngay.

Có thể thấy TPP khá quan trọng đối với sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam bởi trong 12 quốc gia tham gia TPP (trong đó có cả Việt Nam) thì đã có tới hai thị trường lớn của ngành dệt may là Mỹ và Nhật Bản với 43% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào Mỹ, 12% vào Nhật và 4% vào các nước TPP còn lại.

Một chuyên gia kinh tế tỏ ra lo ngại nếu tạo được lợi thế cạnh tranh và tăng giá trị cho các sản phẩm dệt may xuất khẩu, rất có thể Việt Nam sẽ trở thành cứ điểm sản xuất hàng hóa của những nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong nước vẫn tiếp tục làm gia công cho họ như trong thời gian qua.

Văn Nam

tbktsg

12 quốc gia tham gia đàm phán Hiệp định thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ bắt đầu phiên họp 4 ngày tại TP HCM hôm nay.

12 quốc gia tham gia đàm phán Hiệp định thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ bắt đầu phiên họp 4 ngày tại TP HCM hôm nay.

Các bên tham gia đàm phàn kỳ vọng cuộc họp lần này sẽ có tiến triển khi Mỹ - Nhật tiến gần hơn đến việc giải quyết các vấn đề song phương. Theo Japan Times, sau phiên họp này, các bộ trưởng sẽ tới Singapore tiếp tục bàn thảo trong hai ngày 19 và 20/5 để giải quyết các vấn đề từ thuế nhập khẩu, quyền sở hữu trí tuệ đến cải tổ doanh nghiệp nhà nước.

Các thành viên TPP đã không thể đạt thỏa thuận chung trong kỳ họp gần nhất hồi tháng 2 tại Singapore, do bất đồng của Mỹ và Nhật Bản về khả năng gia nhập thị trường của nhóm hàng nông nghiệp, ôtô. Đây là vấn đề lớn nhất giữa hai nước.

Việt Nam sẽ đàm phán quyết liệt với Mỹ về mở cửa thị trường dệt may và gia dày. Ảnh: Thanh niên.

Các quốc gia còn lại đều giữ thái độ quan sát và chờ đợi. Tuy nhiên, một số nguồn tin cho biết cuộc đàm phán có thể có tiến triển sau khi Tokyo và Washington vượt qua bất đồng tháng trước. Thủ tướng Nhật Bản – Shinzo Abe và Tổng thống Mỹ - Barrack Obama cho biết sau cuộc gặp gỡ tháng 4 tại Tokyo, họ đã “tìm ra lối đi” cho các vấn đề song phương, đánh dấu “dấu mốc quan trọng” trong TPP.

Thông tin các nước tham gia vào việc đàm phán Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã bắt đầu vòng đàm phán mới nhất tại TP HCM trước đó hoàn toàn được giữ kín. Nội dung cuộc họp và các nước tham gia đàm phán cũng không được tiết lộ cho báo giới.

Bộ Công Thương cho biết hiện Việt Nam đã đàm phán 19 phiên chính thức, nhiều phiên giữa kỳ, 4 phiên cấp Bộ trưởng. Hiện còn gần 20 lĩnh vực vẫn trong vòng đàm phán như mở cửa thị trường hàng hóa, quy tắc ứng xử, sở hữu trí tuệ, môi trường, thương mại điện tử...

TPP dự báo sẽ hình thành mô hình mới về hợp tác kinh tế khu vực, tạo thuận lợi tối đa cho thương mại và đầu tư. Bên cạnh đó, việc cạnh tranh với các nền kinh tế phát triển trong TPP cũng đặt ra nhiều thách thức rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, Bộ Công Thương cho rằng, đây vừa là động lực, vừa là sức ép để các doanh nghiệp, các ngành và nền kinh tế Việt Nam tự điều chỉnh để hoàn thiện mình. TPP sẽ giúp doanh nghiệp định hình lại chiến lược trong hoạt động sản xuất-kinh doanh trong bối cảnh đất nước hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng khẳng định sẽ đàm phán quyết liệt với Mỹ về mở cửa thị trường dệt may và da giày. Theo Bộ trưởng Hoàng, khi Việt Nam mới tham gia TPP, các nước khác lo ngại Việt Nam sẽ là cản trở lớn nhất, vì "có nền kinh tế yếu kém và còn nhiều vấn đề”. Nhưng hiện nay, Việt Nam đã trở thành quốc gia có vị trí trung bình trong 12 nước TPP.

Thu Lan

vnexpress

Đang tải dữ liệu...

Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán