Hiệp định TPP

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 2-5 nói rằng các thỏa thuận thương mại trong khu vực do Trung Quốc dẫn đầu cho thấy sự cấp thiết của việc quốc hội phải phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình ...

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 2-5 nói rằng các thỏa thuận thương mại trong khu vực do Trung Quốc dẫn đầu cho thấy sự cấp thiết của việc quốc hội phải phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tổng thống Mỹ Barack Obama - Ảnh: Reuters

Reuters cho biết ông Obama đang thúc đẩy để hoàn thành TPP trước khi ông rời nhiệm sở vào 20-1-2017 nhưng ông cần phải vượt qua những ý kiến phản đối hiệp định từ cả hai đảng Dân chủ của chính ông lẫn đảng Cộng hòa.

Nhiều cử tri lo lắng tác động của hiệp định thương mại đối với việc làm và môi trường vốn được nhấn mạnh trong chiến dịch tranh cử của ứng cử viên đảng Cộng hòa Donald Trump cũng như ứng cử viên đảng Dân chủ - thượng nghị sĩ Bernie Sanders.

Trong bài xã luận đăng trên trang mạng của Washington Post, ông Obama cho biết ông hiểu những điều mà cử tri hoài nghi nhưng "xây dựng những bức tường để cô lập chúng ta với nền kinh tế toàn cầu" sẽ phản công lại nền kinh tế Mỹ.

"Trung Quốc đang đàm phán một thỏa thuận thương mại mà sẽ chia phần với chúng ta tại một số thị trường phát triển nhanh trên thế giới, khiến hàng hóa, doanh nghiệp và việc làm tại Mỹ đối mặt với các rủi ro cao" - ông Obama nhận định.

Ông Obama cũng đã đề cập đến Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực gồm 16 thành viên (RCEP) và lưu ý rằng Trung Quốc đang tìm cách hoàn tất thỏa thuận này vào cuối năm nay.

"Thỏa thuận thương mại đó sẽ không ngăn cản sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp do chính phủ tài trợ" - ông Obama nói. Ngoài ra tổng thống Mỹ cũng cho rằng thỏa thuận RCEP thiếu sự bảo vệ sở hữu trí tuệ, quy định lao động và môi trường.

Ông Obama đã lên kế hoạch cho một chuyến thăm đến các đối tác TPP cuối tháng này là Nhật và Việt Nam. Ông Obama lập luận rằng TPP sẽ cho phép Mỹ thể hiện vai trò đối với thương mại tại châu Á.

Anh Thư

Tuổi trẻ

Sau 10 năm thực hiện Luật sở hữu trí tuệ từ 2006 đến hết năm 2015, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tiến hành thanh tra và xử phạt các doanh nghiệp tổng cộng hơn 8,6 tỉ đồng vì dùng phần mềm ...

Sau 10 năm thực hiện Luật sở hữu trí tuệ từ 2006 đến hết năm 2015, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tiến hành thanh tra và xử phạt các doanh nghiệp tổng cộng hơn 8,6 tỉ đồng vì dùng phần mềm không có bản quyền. Tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm còn lớn, chiếm 81%, đang là một trong những rào cản, gây khó khăn và bất lợi cho doanh nghiệp khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP.

Quang cảnh buổi tọa đàm ngày 20-4. Ảnh: Vân Ly

Thông tin trên được ghi nhận tại tọa đàm “Doanh nghiệp Việt Nam và một số vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TPP” diễn ra vào ngày 20-4 do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh Phần mềm BSA tổ chức.

Phát biểu tại tọa đàm, ông Trần Văn Minh, Phó Chánh thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cho biết từ năm 2006 đến 2015, các cơ quan chức năng đã tiến hành thanh tra đột xuất gần 550 doanh nghiệp trên cả nước và kiểm tra hơn 27.600 máy tính. Khi phát hiện hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền, thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã lập biên bản và ban hành gần 500 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền nộp vào ngân sách nhà nước hơn là 8,6 tỉ đồng, chuyển một hồ sơ sang cơ quan điều tra.

Ông Minh cho biết, sau khi được kiểm tra, các công ty đã chấm dứt hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu phần mềm, mua bản quyền phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

“Hiện giá trị mua bản quyền phần mềm máy tính của các doanh nghiệp Việt mỗi năm lên tới hàng chục triệu đô la Mỹ và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao,” ông Minh nói.

Theo đánh giá của Liên minh Phần mềm BSA, năm 2004 tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính tại Việt Nam là 92% thì đến năm 2014 đã giảm còn 81%.

Vi phạm bản quyền sẽ gây khó cho DN khi tham gia TPP

Vẫn theo ông Minh, ngày 4-2-2016, Việt Nam đã ký tham gia hiệp định TPP, theo đó, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực được đặc biệt quan tâm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt hơn các điều luật về sở hữu trí tuệ. Trong lĩnh vực phần mềm máy tính, những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều cải thiện đáng kể, nhưng tình trạng xâm phạm bản quyền phần mềm vẫn còn tương đối phổ biến.

Ông Minh nói: “Doanh nghiệp cần quan tâm hơn tới vấn đề sở hữu trí tuệ, có những bước chuẩn bị về tài chính, về nhân lực và về kỹ thuật để khi hội nhập TPP, tránh được các rắc rối khiếu kiện có thể xảy ra.”

Phát biểu tại cuộc tọa đàm nêu trên, ông John Hill, Tham tán Kinh tế từ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam sẽ có lợi lớn khi gia nhập TPP song cũng có những bất lợi. TPP đề ra những tiêu chuẩn rất cao về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Những tiêu chuẩn này còn chặt chẽ hơn cả quy định của WTO, mà nếu không tuân thủ thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Ông Hill cho rằng tỉ lệ cài đặt phần mềm không có bản quyền của Việt Nam hiện 81% là một trong những mức cao nhất trên thế giới, cao nhất trong 12 nước thành viên TPP. Đây là vấn đề khó khăn lớn đối với doanh nghiệp trong nước vì không những họ không tận dụng được lợi thế từ TPP mà còn vướng vào các vấn đề pháp lý.

Số vụ kiện vi phạm bản quyền có thể tăng cao khi TPP có hiệu lực. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam dường như còn chưa nhận thức được đầy đủ hoặc còn chưa quan tâm đến vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, ông nói. Ông John Hill cho biết ông đồng tình với cảnh báo của Bộ Khoa học-Công nghệ rằng doanh nghiệp Việt Nam có thể đi đến phá sản, giải thể nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng để đáp ứng các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của TPP.

Ông Hill cho rằng các nền kinh tế hiện đại được xây dựng trên nền tảng đổi mới, sáng tạo. Đổi mới, sáng tạo lại được xây dựng trên nền tảng quyền sở hữu trí tuệ. Theo thống kê trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới: Thụy Sỹ đứng thứ 3 về bảo hộ sở hữu trí tuệ - nước này xếp hạng 1 về Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu. Hai tỉ lệ tương tự này của Phần Lan là 1 và 8 còn Singapore là 4 và 2. Đây là những quốc gia không chỉ thu hút được đầu tư FDI nhờ có cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh mà còn vươn lên trở thành những trung tâm đổi mới, sáng tạo.

“Chúng tôi hiểu được những khó khăn phía trước, hoan nghênh Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu lớn cũng như cam kết vượt qua những khó khăn đó. Việt Nam cần biết rằng Hoa Kỳ cũng như cộng đồng quốc tế luôn mong muốn hợp tác và luôn sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,” ông John Hill nói.

Vân Ly

TBKTSG

Theo tính toán, sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD/năm.

Theo tính toán, sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD/năm.

Theo ông Lê Tiến Trường - Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) - hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ hiện đang chịu thuế suất 17,5%, nhưng khi TPP có hiệu lực, 73% dòng thuế sẽ về 0%. Nếu tính theo kim ngạch hiện nay, hàng dệt may xuất khẩu sang nước này có khả năng tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD.

Bên cạnh những con số hấp dẫn từ thị trường Mỹ, DN dệt may trong nước cũng kỳ vọng không kém vào các thị trường mới như: Canada, Autralia, Peru… Riêng với Canada, ngay từ năm đầu tiên TPP có hiệu lực, 42% thuế xuất khẩu vào thị trường này sẽ về 0%, đến năm thứ 4 là 57,1%. Trong khi đó, hàng dệt may của Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 2% thị phần tại Canada. Vì vậy, cơ hội mở rộng thị trường rất lớn.

Quy tắc xuất xứ từ sợi vẫn được coi là trở ngại lớn của ngành Dệt may trong việc tận dụng ưu đãi thuế quan. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, khi quy mô xuất khẩu chưa đủ lớn, việc đầu tư cho sản xuất nguyên phụ liệu khó khả thi. Thậm chí, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 30 tỷ USD, lượng vải sử dụng khoảng 15 tỷ USD hiện nay, vẫn chưa đủ sức tạo ra các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu có khả năng cạnh tranh về giá với nguyên liệu từ Trung Quốc.

Ông Lê Tiến Trường cho rằng, bài toán kinh tế trong đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu mặc dù rất đáng cân nhắc, nhưng vẫn cần có tỷ lệ nguyên liệu nội địa nhất định để đảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Bản thân Vinatex từ năm 2005 đến nay đã triển khai nhiều dự án đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu, nhờ đó tỷ lệ nội địa hóa đã tăng từ 20% lên 50% năm 2015. Tập đoàn cũng dự kiến, khi TPP có hiệu lực ngay những năm đầu có thể chủ động khoảng 60% nguyên phụ liệu.

Nguồn cung nguyên liệu thiếu hụt cho phép DN mua một số nguyên liệu khó sản xuất, nhu cầu sử dụng ít tại các quốc gia ngoài khối mà vẫn được hưởng ưu đãi. Trong 194 dòng nguyên liệu đã được quy định có 8 dòng tạm thời áp dụng 5 năm, còn lại 186 dòng là vĩnh viễn.  Việt Nam cũng có 3 mặt hàng áp dụng quy tắc xuất xứ cắt và may gồm balo, túi xách; quần áo trẻ em từ vải polyester; áo ngực nữ. Ngoài ra, với mặt hàng quần sản xuất từ vải cotton, cứ mua 1m vải từ các nước trong TPP may quần nam và quần nữ sẽ được mua 0,75m và 1,25m vải ở các nước ngoài khối. Đây cũng là chương trình hết sức thuận lợi cho các DN may hàng cơ bản và tạo đà tăng trưởng nhanh cho các mặt hàng như áo sơ mi, quần.

Hiện đang có làn sóng đầu tư của DN Hoa Kỳ vào Việt Nam trong các ngành sản xuất vải, dệt nhuộm. Đây là cơ hội tốt cho DN trong nước tranh thủ đầu tư nước ngoài mở rộng sản xuất, chuyển hướng kinh doanh.

Việt Nga

báo công thương

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ mở cửa cho các tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính nội địa dưới nhiều hình thức.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ mở cửa cho các tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính nội địa dưới nhiều hình thức.

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Đây là thông tin được cho biết tại hội thảo "Hiệp định TPP: Cơ hội và Thách thức đối với lĩnh vực tài chính và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam," tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/4.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cho biết thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các tổ chức tài chính nước ngoài được tham gia thị trường Việt Nam dưới những hình thức đa dạng như văn phòng đại diện, chi nhánh; ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Đồng thời, TPP cũng mở ra cơ hội cho các tổ chức tài chính nước ngoài tham gia cổ phần vào các ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam với mức giới hạn tỷ lệ %.

Cụ thể, tổng tỷ lệ cổ phần của nước ngoài tại một ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam không vượt quá 30%; còn giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược là 20%. Ngoài ra, các tổ chức tài chính nước ngoài được thành lập công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.

Mặt khác, để các tổ chức tài chính của các nước thành viên có thể tiếp cận và hoạt động hiệu quả tại thị trường của nhau, TPP đã đưa ra những biện pháp minh bạch và pháp lý về các chính sách quy định hoạt động của các tổ chức tài chính thông qua công bố công khai luật trước khi ban hành.

Cơ quan quản lý của các nước thành viên TPP phải cam kết khung thời gian nhất định để phúc đáp nhà đầu tư các vấn đề liên quan trong quá trình cấp phép. Trong TPP, có các quy định cốt lõi của lĩnh vực dịch vụ tài chính gồm: đối xử quốc gia, mở cửa thị trường, thương mại qua biên giới, nhân sự cấp cao và hội đồng quản trị.

Cụ thể, liên quan đến vấn đề chuyển tiền và bảo vệ cán cân thanh toán, bà Vũ Minh Châu, Vụ hợp tác Quốc tế Ngân hàng Nhà nước, nhấn mạnh các nước thành viên TPP cam kết cho phép việc chuyển tiền và thanh toán liên quan tới khoản đầu tư cũng như các dịch vụ qua biên giới ra hoặc vào lãnh thổ một cách tự do, không chậm trễ, không hạn chế loại tiền tệ, theo tỷ giá thị trường tại thời điểm chuyển tiền.

Riêng đối với dịch vụ thanh toán điện tử cho các giao dịch bằng thẻ, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường thẻ có mã quốc tế, cho phép nhà cung cấp nước ngoài cung cấp qua biên giới các dịch vụ thanh toán bù trừ (không mở cửa thị trường thẻ nội địa). Bên cạnh đó, Việt Nam bảo lưu quyền yêu cầu chuyển mạch thẻ qua một cổng thống nhất tại đơn vị chuyển mạch thẻ quốc gia.

Theo bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, TPP sẽ tạo ra triển vọng cho ngành thương mại Việt Nam mức tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ cho doanh nghiệp xuất khẩu trong tương lại.

Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng trưởng tích cực, tại thuận lợi cho hệ thống ngân hàng tăng cường thanh khoản và gia tăng cơ hội kinh doanh.

Ngoài ra, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn ủy thác trên thế giới với chi phí thấp hơn do vị thế của Việt Nam được cải thiện nhờ TPP. Theo đó, Việt Nam có cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ và năng lực quản lý điều hành cao vào ngành ngân hàng.

Đặc biệt, việc tham gia sâu rộng của các nhà đầu tư ngoại mang lại điều kiện mở rộng hợp tác, nâng cao năng lực quản trị và tài chính cho các ngân hàng nội địa và đây là cơ sở để phát triển ngành ngân hàng Việt Nam./.

Mỹ Phương

Vietnam+

Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt...

Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt...

Ảnh: Hữu Khoa

Phải tạo liên kết với doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Ưu đãi nào cũng kèm theo điều kiện mà nếu không tuân thủ tốt và tìm hiểu kỹ, VN khó tận dụng được...

 Ông Trương Đình Tuyển, nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại, đã khẳng định như vậy tại hội nghị “TPP: cơ hội và thách thức trong kinh doanh tại VN” diễn ra tại TP.HCM ngày 8-4.

Ưu đãi nào cũng kèm theo điều kiện, mà nếu không tuân thủ tốt và tìm hiểu kỹ, VN khó tận dụng được"

Ông Trương Đình Tuyển (nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ trong đàm phán TPP)

Theo ông Tuyển, hơn 80% mặt hàng giày dép VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế 0% ngay khi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.

Trong lĩnh vực dệt may, TPP yêu cầu khắt khe các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ, nhưng cũng có những ngoại lệ cho VN chuẩn bị, cơ hội tăng trưởng mặt hàng thủy hải sản, đồ gỗ cũng rất lớn...

Ngoài ra, TPP và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác cũng đem lại cơ hội cho VN thu hút đầu tư, mở rộng xuất khẩu, tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng. Theo tính toán, một khi TPP có hiệu lực, giá trị vốn đầu tư vào VN mỗi năm tăng 25-35%.

Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi VN tạo được kết nối, hợp tác giữa doanh nghiệp bản địa và doanh nghiệp nước ngoài.

Ông Phạm Xuân Hồng, chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM, thừa nhận nếu suôn sẻ, đến năm 2018 TPP chính thức có hiệu lực nhưng nhiều doanh nghiệp VN đang lo lắng với khoảng thời gian đó làm sao VN giải quyết được bài toán xuất xứ hàng hóa.

Những thay đổi của dệt may hiện chuyển động rất chậm, chỉ có hơn 20% nguyên phụ liệu xuất xứ từ VN. VN cần dòng vốn đầu tư FDI vào ngành dệt sợi để giải quyết một phần bài toán này bởi VN không thể khai thác được các lợi thế của TPP đem lại nếu vẫn tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn nguyên phụ liệu từ nước ngoài, đặc biệt hơn 50% nhập từ Trung Quốc.

Theo bà Virginia Foote - chủ tịch và giám đốc điều hành Bay Global Strategies (Mỹ), sự thiếu hợp tác giữa doanh nghiệp VN và doanh nghiệp FDI là lý do làm khoảng cách doanh nghiệp hai bên ngày càng lớn, đặc biệt khi VN hội nhập sâu. VN cần đánh giá đúng vai trò vốn FDI để các khoản đầu tư này được rót nhiều vào doanh nghiệp trong nước, tạo sự lan tỏa trong công nghệ, sản xuất.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Thành, giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho biết ưu thế của doanh nghiệp FDI ngày càng rõ, chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của VN, trong khi chưa có nhiều liên kết giữa hai khối doanh nghiệp bởi VN thiếu hẳn ngành công nghiệp hỗ trợ.

Đây là sự khác biệt lớn giữa VN với các nước trong khu vực ASEAN hay Trung Quốc. “Nếu không muốn nhảy từ bẫy thu nhập thấp sang bẫy thu nhập trung bình, VN cần có một nguồn lực tăng trưởng mới dựa vào sự trỗi dậy của các ngành nghề trong nước, có sự liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài” - ông Thành nhấn mạnh.

Tuy nhiên, ông Nestor Scherbey, cố vấn cấp cao Liên minh thuận lợi hóa thương mại VN (VTFA), cho rằng để tận dụng các ưu đãi thuế từ các FTA, trong đó có TPP mang lại, các công ty FDI sẽ phải xác định lại chuỗi cung ứng toàn cầu khi sản xuất hàng để xuất khẩu sang các thị trường TPP.

Điều này cũng mang đến cơ hội mới cho các doanh nghiệp VN để trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI tại VN và các công ty toàn cầu khác trong chuỗi cung ứng toàn cầu của họ.

“Vấn đề là doanh nghiệp VN phải hành động từ bây giờ, không nên đợi đến thời điểm TPP có hiệu lực. Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt” - ông Nestor Scherbey khuyến cáo./.

N.Bình

Tuổi trẻ

Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa chính thức thông báo cho Quốc hội Mỹ 6 điều luật dự kiến cần sửa đổi nhằm triển khai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa chính thức thông báo cho Quốc hội Mỹ 6 điều luật dự kiến cần sửa đổi nhằm triển khai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Đại diện thương mại Mỹ Michael Froman. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Trong số đó, chỉ có duy nhất một điều luật sửa đổi là mới so với các quy định được đặt ra trong các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà Mỹ đã tham gia trước đó, liên quan tới cách tính phí đối với người sử dụng dịch vụ hải quan, với việc chuyển từ cách tính trên nguyên tắc theo giá hàng sang hệ thống bốn tầng, với các mức phí từ 30-500 USD tùy thuộc vào giá trị hàng hóa.

Theo thông cáo của USTR, bốn điều luật cần thay đổi khác liên quan tới thủ tục đối với nhà nhập khẩu về chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn TPP và đây cũng chính là những thay đổi mà Mỹ cần thực hiện theo Thỏa thuận Tự do Thương mại (FTA) Mỹ-Chile ký kết hồi tháng 6/2003 và nằm trong danh sách các luật cần thay đổi mà Tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush đã đề nghị Quốc hội Mỹ vào ngày 3/7/2003.

Điều luật cần thay đổi còn lại để phù hợp với TPP là Mục 308 Đạo luật Hiệp định Thương mại 1979 sửa đổi, theo đó sẽ cho phép Tổng thống thực thi các cam kết của Mỹ về mua sắm công của chính phủ giúp cho các công ty của các nước thành viên TPP có cơ hội được đối xử như các công ty của Mỹ khi tham gia cạnh tranh các hợp đồng chính phủ liên bang.

Như vậy, để thực hiện điều này, Tổng thống có thể phải từ bỏ đặc quyền dành cho các công ty Mỹ theo Đạo luật về Mua sắm của Mỹ (Buy American Act). Sửa đổi này cũng có trong danh sách các luật Mỹ cần sửa đổi để triển khai FTA đã ký với Australia hồi tháng 5/2004 và đã được ông Bush trình lên Quốc hội ngày 2/7/2004.

Với danh sách đưa ra, USTR đã đáp ứng được thời hạn trước ngày 3/4 phải đệ trình Quốc hội Mỹ bản mô tả các Luật cần thay đổi để thực thi TPP và đây là một trong các bước thủ tục mà USTR phải thực hiện theo Luật về Quyền Đàm phán nhanh (TPA) thông qua năm 2015.

Các bước còn lại cần hoàn tất để chuẩn bị cho việc bỏ phiếu phê chuẩn về TPP tại Quốc hội Mỹ bao gồm:

Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) ra báo cáo đánh giá tác động tổng thể của TPP tới nền kinh tế Mỹ, dự kiến vào ngày 18/5/2016.

Trong vòng 30 ngày tiếp đó, Tổng thống đệ trình Quốc hội bản sao văn bản thỏa thuận cuối cùng của TPP cùng dự thảo Tuyên bố về hành động của Chính quyền (SAA) nhằm triển khai TPP và kế hoạch thực thi TPP; trình Ủy ban Ngân sách và Tài chính Hạ viện và Ủy ban Tài chính Thượng viện báo cáo đánh giá tác động của TPP tới lao động Mỹ, báo cáo về quyền của người lao động tại Mỹ và các đối tác FTA và báo cáo về đánh giá tác động tới môi trường.

Ủy ban Ngân sách và Tài chính Hạ viện và Ủy ban Tài chính Thượng viện xem xét dự luật triển khai TPP mà Chính quyền trình Quốc hội.

Tổng thống đệ trình dự thảo cuối cùng Luật triển khai TPP cùng bản chụp thỏa thuận cuối cùng, SAA và các “thông tin hỗ trợ” (bao gồm tài liệu giải thích cách thức luật được triển khai, đề xuất các hành động của chính phủ và tài liệu viện dẫn các lý do mà tổng thống cho rằng cần thực thi TPP) tới Thượng viện và Hạ viện trong một ngày mà cả Thượng viện và Hạ viện đều nhóm họp.

Quốc hội Mỹ sẽ xem xét việc thông qua TPP trong vòng 90 ngày.

Chính quyền Tổng thống Barack Obama tuyên bố hợp tác chặt chẽ với Quốc hội trong việc lựa chọn thời điểm phù hợp để xem xét TPP và các thông tin cho đến thời điểm này cho thấy nhiều khả năng Quốc hội Mỹ chỉ xem xét TPP sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới./.

Đoàn Hùng

vietnam+

Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia Mustapa Mohamed nhận định Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể thất bại nếu ứng cử viên Đảng Cộng hòa Donald Trump trở thành Tổng ...

Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia Mustapa Mohamed nhận định Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể thất bại nếu ứng cử viên Đảng Cộng hòa Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ.

 

Ứng viên đảng Cộng hòa Donald Trump phát biểu trong cuộc họp báo ở West Palm Beach, Florida, Mỹ ngày 15/3. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Phát biểu tại Quốc hội Malaysia ngày 21/3, ông Mustapa cho biết ông Trump đã chỉ trích thỏa thuận thương mại này trong chiến dịch chạy đua vào Nhà Trắng, nói rằng TPP sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ.

Theo ông Mustapa, Malaysia không muốn đưa ra dự đoán về những gì sẽ xảy ra ở Mỹ, nhưng nếu điều này xảy ra (ông Trump trở thành Tổng thống Mỹ tiếp theo) và Quốc hội Mỹ không ủng hộ TPP thì hiệp định này nhiều khả năng sẽ không được thông qua.

Một điều khoản trong TPP nêu bật sự cần thiết của việc Washington tham gia vào thỏa thuận thương mại này vì Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 20% sản lượng toàn cầu.

Ông Mustapa nói: "Trong các cuộc đàm phán TPP, chúng tôi cảm thấy rằng nếu không có Mỹ nó sẽ ít có ý nghĩa và kém hiệu quả"./.

Vietnam+

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về công tác chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về công tác chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Theo kết luận của Thủ tướng, Hiệp định TPP có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, là kết quả của một quá trình công phu kéo dài 7 năm. Trong suốt quá trình đàm phán Hiệp định TPP, Bộ Chính trị đã nghe báo cáo nhiều lần, Ban Chấp hành Trung ương nghe báo cáo hai lần, và Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã thông qua Nghị quyết cho phép Chính phủ ký Hiệp định TPP và giao Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn theo quy định của pháp luật, thể hiện sự nhất trí cao của Đảng về vấn đề này.

Cho đến nay, dù Hiệp định chưa có hiệu lực nhưng đã bắt đầu mang lại những lợi ích thiết thực cho Việt Nam: vị thế của Việt Nam được khẳng định trên trường quốc tế, đầu tư nước ngoài tăng, dự báo tác động tích cực đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.

Việc sớm phê chuẩn Hiệp định TPP có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định quyết tâm chính trị cao của Việt Nam, thể hiện vai trò thành viên chủ động, tích cực trong TPP; góp phần thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hệ thống pháp luật trong nước để sẵn sàng thực thi hiệu quả các cam kết; đồng thời có đủ thời gian để các doanh nghiệp, người dân và toàn bộ xã hội chuẩn bị, chủ động tham gia khi Hiệp định có hiệu lực. Căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị, quy định của pháp luật và công tác chuẩn bị của các Bộ, ngành, Chính phủ đặt mục tiêu trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP vào Kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa XIV (dự kiến tháng 7/2016).

Để kịp trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP theo kế hoạch đặt ra Thủ tướng Chính phủ giao Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện việc rà soát, đánh giá tác động Hiệp định TPP đến hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam.

Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ trực tiếp chi đạo, tập trung nguồn lực gồm đội ngũ cán bộ pháp chế, cán bộ trực tiếp tham gia đàm phán Hiệp định TPP để hoàn thành nhiệm vụ rà soát, đánh giá trong lĩnh vực mình phụ trách, kiến nghị danh mục và lộ trình cụ thể các văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, gửi Bộ Tư pháp tổng hợp trước ngày 10/4 tới.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện Danh mục các Luật, Pháp lệnh, Nghị định cần phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù hợp với các cam kết trong TPP, kiến nghị lộ trình cụ thể, ưu tiên các văn bản phải ban hành ngay để đảm bảo việc thực thi Hiệp định, trình Chính phủ trước ngày 20/4/2016.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện Tờ trình phê chuẩn Hiệp định TPP theo đúng quy định của Hiến pháp 2013 và Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế, trình Chính phủ trước ngàv 20/4/2016./.

Tất cả các cơ hội với TPP hiện nay đều được xây dựng trên các giả định và nếu giả định đó thay đổi thì cơ hội của chúng ta sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP, theo Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt ...

Tất cả các cơ hội với TPP hiện nay đều được xây dựng trên các giả định và nếu giả định đó thay đổi thì cơ hội của chúng ta sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP, theo Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt Nam, thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh.

 

Đại diện doanh nghiệp đặt câu hỏi với ông Trần Quốc Khánh và các nhà lãnh đạo. Ảnh: HP

Bên cạnh yếu tố giả định đó, yếu tố thứ hai là cơ hội tự nó không biến thành lợi ích; cơ hội chỉ đến với ai dậy sớm và nỗ lực. Thứ ba, cơ hội có thể bị phân chia không đồng đều. Và thứ tư, cơ hội luôn đi kèm với thách thức, chừng nào doanh nghiệp thay đổi tâm thế của mình, dám chấp nhận cạnh tranh, rời khỏi vòng tay vỗ về của nhà nước mới có thể tồn tại.

Và cuối cùng, để nắm bắt cơ hội đó không chỉ doanh nghiệp phải làm việc mà cả Chính phủ cũng phải đặt mình vào môi trường cạnh tranh với các chính phủ khác về chất lượng thể chế và chất lượng điều hành.

Đây là những thông điệp quan trọng được ông Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt Nam, chia sẻ với gần 300 đại diện doanh nghiệp và nhà đầu tư tại TPHCM sáng nay, 17-3, tại hội thảo “Đối thoại TPP: Cơ hội nào cho Doanh nghiệp tại Việt Nam ?” do Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Công ty KPMG phối hợp tổ chức.

Chúng tôi xin lược ghi lại bài phát biểu của ông Khánh dưới đây:

TPP là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Trên cuộc chơi toàn cầu, TPP giờ không còn là mối quan tâm riêng của 12 nước thành viên mà các nước khác cũng tìm thời điểm thích hợp để tham gia. Mặc dù TPP còn phải chờ Quốc hội Việt Nam, lưỡng viện Hoa Kỳ và các cơ quan lập pháp của các nước thành viên phê chuẩn mới được đưa vào cuộc sống, nhưng các doanh nghiệp thì không thể chờ đến khi nước đến chân. Bạn không thể quản lý những gì mà bạn không hiểu rõ.

TPP cũng như các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam đang tham gia là những yếu tố chủ chốt để có thể thay đổi cuộc chơi.

TPP như các bạn biết, sẽ tạo ra khu vực thương mại tự do lớn nhất từ trước tới nay với 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Vì sao gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? Bởi vì nó đặt ra không chỉ các vấn đề thương mại truyền thống như thương mại hợp tác và dịch vụ, mà nó còn đặt ra các vấn đề mới với các yếu tố thương mại mới xuất hiện đầu thế kỷ 21, như các vấn đề của doanh nghiệp nhà nước, thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng… trong đó có những vấn đề Việt Nam lần đầu tiên tham gia đàm phán như mở cửa thị trường mua sắm chính phủ, thương mại lao động cũng như môi trường, các vấn đề xã hội… Đây thực sự là hiệp định có phạm vi điều chỉnh rất mạnh và cam kết sâu hơn rất nhiều so với các khu vực thương mại tự do Việt Nam đã tham gia nên ta gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Với Việt Nam thì sao?

Đây không phải lần đầu tiên Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Từ năm 1995, ta đã trở thành thành viên ASEAN và biết đến xóa bỏ thuế nhập khẩu cho các nước ASEAN chính là xóa bỏ hàng rào thuế cho chính đối thủ cạnh tranh của mình.

Năm 2000 ta ký hiệp định thương mại song phương BTA với Mỹ và lần đầu tiên ta biết đến thế nào là mở cửa thị trường dịch vụ cho bên ngoài. Tất cả các thương hiệu lớn nước ngoài sau đó đã có mặt ở Việt Nam như hệ quả của việc mở cửa thị trường dịch vụ và BTA. Và lần đầu tiên với BTA ta biết thế nào là cam kết về các quy tắc quản lý đầu tư quốc tế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Năm 2007 Việt Nam bước vào WTO và lần đầu tiên chúng ta biết thế nào là xóa bỏ cái gọi là giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như toàn bộ các hình thức hạn chế số lượng, định lượng với hàng xuất nhập khẩu như hạn ngạch...

Liệt kê ra như vậy để cho thấy, Việt Nam đã hội nhập từ 20 năm nay nên việc tham gia TPP không phải lần đầu tiên ta hội nhập kinh tế quốc tế. Với một hành trang 20 năm tôi nghĩ chúng ta đủ tự tin để bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và Việt Nam không chỉ đàm phán TPP mà cả các hiệp định thương mại tự do quan trọng khác.

Vị thế của Việt Nam đã khác

Vị thế của Việt Nam đã khác từ trước khi đàm phán TPP và sau khi đàm phán tôi xin khẳng định vị thế của Việt Nam còn  cao hơn. Việt Nam được mời tham gia đàm phán TPP ngay từ đầu với tám nước đầu tiên (khởi động đàm phán TPP vào tháng 3-2010).

Vì sao họ mời Việt Nam? Vì điều đầu tiên họ tin vào Việt Nam nghiêm túc trong thực thi các cam kết quốc tế. Thứ hai Việt Nam là đất nước có dân số lớn, thời điểm đó có hơn 80 triệu dân hứa hẹn một thị trường có sức mua lớn, đem lại giá trị gia tăng lớn cho các nước khác. Thứ ba Việt Nam là nước duy nhất hiện nay trên thế giới có quan hệ thương mại tự do với tất cả các thị trường lớn nhất thế giới từ thị trường ASEAN hơn 600 triệu dân, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật, Canada, Úc và đặc biệt là Cộng hòa Liên bang Nga. Việt Nam là nước duy nhất kết nối với tất cả thị trường lớn đó bằng quan hệ thương mại tự do. Nếu như có một người nào đó đầu tư vào Việt Nam người đó sẽ có cơ hội kết nối với tất cả các thị trường đó. Điều đó giải thích sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đặt Việt Nam vào vị thế rất khác sau khi kết thúc đàm phán TPP.

Tiếp đó Việt Nam sẽ có điều kiện thực thi đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ đặc biệt trong bối cảnh khu vực đang diễn ra cạnh tranh gay gắt. Giữ vững ổn định chính trị xã hội là yếu tố rất cần cho làm ăn. Nhà đầu tư đến với ta trong đó lý do quan trọng là kinh tế chính trị ổn định.

Nhiều cơ hội...

Khác với các lần trước, ở lần đàm phán hiệp định này (TPP) các doanh nghiệp đã đi theo song hành với đoàn đàm phán và tham gia góp ý rất sâu. Sự chủ động của họ là khác hẳn và lớn hơn các lần trước và khi đàm phán kết thúc rất nhiều người trong số họ đã sơ bộ nhận định vấn đề và lên kế hoạch cho mình.

Tuy nhiên, bản thân TPP - như các bạn đã biết - nó tạo nên xung lực mới cho xuất khẩu, gần như tất cả các mặt hàng đều hưởng lợi, với cơ hội xuất hiện trên tất cả các thị trường.

Cơ hội cũng đến như xung lực mới cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vì như tôi đã nói, Việt Nam trở thành điểm giao thoa duy nhất kết nối với tất cả các thị trường nên lần này chắc chắn sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng thêm và họ sẽ nhìn vào Việt Nam như địa điểm để họ tiếp cận các thị trường lớn. Tôi tin rằng đó là lý do một thế hệ nhà đầu tư nước ngoài khác sẽ đem chuỗi sản xuất của họ đến với chúng ta và Việt Nam trở thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất đó.

Rất nhiều các nhà đầu tư lớn đã di chuyển chuỗi sản xuất sang Việt Nam trong thời gian qua. Chúng ta có cơ hội để tham gia và trở thành người cung ứng của chuỗi đó. Có thể bây giờ doanh nghiệp Việt chưa nắm bắt cơ hội đó nhưng nếu nỗ lực ta sẽ nắm bắt được. Khi kinh tế tăng trưởng, đầu tư nước ngoài nhộn nhịp sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành kinh tế khác. Bất kể ngành nào cũng có cơ hội. Đó là đặc điểm của làn sóng đầu tư lần này.

Cơ hội lớn khác từ TPP là sự đúc rút kinh nghiệm quản lý trên thế giới thông qua các thành tựu tốt nhất, trong rất nhiều lĩnh vực, được tổng kết thành các bộ quy tắc của TPP. Nếu Việt Nam có thể tuân thủ các bộ quy tắc này thì ta sẽ có điều kiện cải thiện vị thế quản trị quốc gia và đặc biệt là môi trường chính sách. Với tất cả các quy tắc yêu cầu sự công khai minh bạch, không phân biệt đối xử, hành xử khách quan của bộ máy nhà nước sẽ đem lại rất nhiều thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

… nhưng chỉ là giả định

Tuy nhiên, ông Trần Quốc Khánh “xin nhấn mạnh”. Thứ nhất, cơ hội chỉ là dựa trên các giả định. Các chuyên gia, báo chí đã nói nhiều về các thuận lợi và cho rằng Việt Nam sẽ tăng tốc trong những năm sau TPP. Họ đưa ra những dự báo hết sức tốt. Và cũng như WTO ta đã có sự hào hứng rất lớn rồi sau WTO vốn đầu tư gián tiếp ồ ạt đổ vào rất mạnh năm 2007. Nhưng họ không lường trước được hai sự kiện: khủng hoảng tài chính nổ ra 2008 và khủng hoảng nợ công tiếp theo đó. Chúng đã làm điều kiện thay đổi vì thế tôi mới nói cơ hội Việt Nam cất cánh là giả định. Cần tỉnh táo nhận thức rằng cơ hội đó được giả định với điều kiện nền kinh tế ổn định, đồng tiền của các quốc gia ổn định, một số nền kinh tế lớn không chậm tốc. Nếu nó thay đổi đi thì cơ hội của ta vì thế sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP rồi.

Thứ hai, cơ hội tự thân nó không biến thành lợi ích. Cơ hội chỉ đến với ai dậy sớm, nỗ lực. Ngành dệt may được cho rằng có cơ hội lớn nhưng sẽ vẫn có doanh nghiệp dệt may thất bại. Cơ hội tự thân nó không chuyển hóa thành lợi ích và tùy thuộc vào nỗ lực của từng chủ thể, từng doanh nghiệp có nắm bắt được nó hay không và chính phủ có tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt tốt nó hay không.

Thứ ba, cơ hội có thể bị phân chia không đồng đều. Báo chí đã nói các công ty nước ngoài nắm bắt hết cơ hội của TPP. Nhưng đó là cuộc sống, người nào chuẩn bị tốt hơn sẽ nắm bắt tốt hơn và tôi thấy dường như doanh nghiệp nước ngoài đang có sự chuẩn bị tốt hơn.

Và cuối cùng cơ hội luôn đi kèm với thách thức. Thách thức với doanh nghiệp là sức ép cạnh tranh, thay đổi tâm thế của chính mình, dám chấp nhận cạnh tranh và và chủ động đổi mới sáng tạo. Rất nhiều doanh nghiệp nhà nước từ xưa tới nay yên ổn trong vòng tay vỗ về của nhà nước nhưng theo TPP sự vỗ về đó sẽ hết, họ sẽ phải tự thân vận động theo đúng cơ chế  thị trường, chừng nào họ chấp nhận cạnh tranh họ mới có thể tồn tại.

Vậy các doanh nghiệp hỏi tôi làm thế nào để nắm bắt cơ hội của TPP? Tôi không biết. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc chung tôi xin chia sẻ.

Thứ nhất, hội nhập cũng như tham gia TPP không phải việc riêng của chính phủ mà là sự nghiệp của chính các doanh nghiệp. Vì sao tôi nói vậy? Vì ta phải gạt bỏ suy nghĩ và câu hỏi Nhà nước sẽ làm gì để hỗ trợ chúng tôi? Thật sự tôi chưa bao giờ nhận được câu hỏi đó từ Eurocham và Amcham, hoặc các doanh nghiệp nước ngoài, mà tôi chỉ nhận được các câu hỏi của doanh nghiệp Việt Nam: Làm gì để phổ biến thông tin về TPP cho chúng tôi? tài liệu tuyên truyền của anh đâu? Sách hướng dẫn dâu? Tài liệu, sách hướng dẫn TPP đã có rồi, Nhà nước đã và chắc chắn sẽ làm, và có doanh nghiệp cầm sách trên tay rồi vẫn hỏi… Đó là sự khác biệt, nên điều đầu tiên chắc chắn mỗi doanh nghiệp phải chủ động. Ta phải bước vào thị trường với tâm thế cạnh tranh chủ động chứ không phải chấp nhận và hỏi Nhà nước ở đâu.

Tiếp theo xin đừng cạnh tranh chỉ bằng giá, đó là ta đang tự cắt vào thịt của mình, cạnh tranh kiểu đó không bao giờ bền mà hãy cạnh tranh bằng chữ tín và chất lượng, hãy để họ thấy rằng ta biết giữ chữ tín.

Điều nữa, hãy chú ý đến quản trị hiện đại. Nhiều công ty vẫn quản trị gia đình theo kiểu "công ty của tôi nên điều hành theo cách của tôi."

Doanh nghiệp hãy đi nhiều hơn để thấy bên ngoài họ đang làm thế nào. Đặc biệt với doanh nghiệp miền Bắc, chỉ cần vào đến TPHCM thôi để thấy một quán ăn ở TPHCM đã khác so vơi quán ăn miền Bắc thế nào.

Cuối cùng tôi xin nhấn mạnh ta đang bước vào kỷ nguyên của kinh tế số và hãy đi xa bằng kinh tế số. Ví dụ câu chuyện niêu cá kho của lãng Vũ Đại khi làm ra không bán được, sau đó khi sử dụng Facebook thì làm không đủ bán. Khi tôi sang Mỹ thì Google coi đây là câu chuyện thành công của Việt Nam. Internet tạo ra cơ hội lớn cho tất cả mọi người, hãy phát huy tinh thần khởi nghiệp theo hướng đó.

Chính phủ cũng phải cạnh tranh

Chính phủ có thể làm gì? Tôi không thể đại diện cho chính phủ, cá nhân tôi chỉ là trưởng đoàn đàm phán. Thủ tướng mới đây thông qua bài viết của mình đã đưa ra thông điệp rõ ràng rằng Chính phủ và Quốc hội sẽ có chương trình hành động cụ thể, sẽ coi trọng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nợ công và ngân sách.

Việc thứ hai Chính phủ có thể làm là liên tục hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia và có tư duy mới, tức là thực hiện vai trò của nhà nước kiến tạo. Điều đó có ý nghĩa rất lớn, thay vì suy nghĩ làm thế nào quản lý thật chặt, tư duy điều hành của Chính phủ chuyển sang hướng làm thế nào để kiến tạo. Thay vì đưa ra quy định đảm bảo an toàn nhất cho nhà quản lý thì đưa ra quy định làm sao để tạo thuận lợi nhiều nhất cho doanh nghiệp và từ tư duy đó sẽ thay đổi cách làm của Chính phủ. Đó là công khai minh bạch, hành xử vô tư khách quan không phân biệt doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài.

Công khai mới chỉ là một vế của phương trình và vế kia là khi người dân và doanh nghiệp phản hồi lại dứt khoát anh phải trả lời chứ không phải nhận câu hỏi đó là để yên trong ngăn bàn. Nên việc Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng đang làm là chứng minh tư duy mới của Chính phủ, là tăng cường tương tác giữa chính phủ với doanh nghiệp. Một Chính phủ đang thay đổi tư duy, vậy nếu họ sẵn sàng lắng nghe thì chúng ta hãy lên tiếng.

Tôi không thể trả lời câu hỏi tôi có thể làm gì để giúp các bạn. Các bạn hãy nói với bí thư Đinh La Thăng điều đó và nói với chính phủ rằng hãy làm a, b, c để giúp chúng tôi nắm bắt cơ hội của TPP.

Trong bài viết của Thủ tướng mới đây có một ý rất quan trọng lần đầu tiên được Chính phủ khẳng định, là nếu đặt hàng hóa dịch vụ, doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh thì từ đây trở đi cũng phải đặt Chính phủ vào môi trường cạnh tranh. Chính phủ Việt Nam phải cạnh tranh với chính phủ của các nước trong khu vực về chất lượng thể chế và chất lượng điều hành.

Hồng Phúc

tbktsg

Ngày 7/3, Quốc hội Chile đã hoãn xem xét thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi những bất đồng trong liên minh cầm quyền Đa số mới.

Ngày 7/3, Quốc hội Chile đã hoãn xem xét thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi những bất đồng trong liên minh cầm quyền Đa số mới.

 

Ngoại trưởng Chile Heraldo Muñoz. (Nguồn: publimetro.cl)

Thượng nghị sỹ Alejandro Navarro, lãnh tụ của Phong trào xã hội mở rộng (MAS) trong liên minh cầm quyền, đã bác bỏ TPP và cho biết việc xem xét thông qua thỏa thuận nói trên sẽ được hoãn tới tháng 4.

Theo ông Navarro, vấn đề này chưa được thảo luận chính thức với các nghị s​ỹ trong liên minh cầm quyền cũng như các đảng trong Đa số mới và không có sự đồng thuận trong việc thông qua TPP. Bên cạnh đó, ông Navarro cũng bày tỏ quan ngại trước khả năng TPP sẽ tác có những tác động tiêu cực tới các mối quan hệ thương mại của Chile.

Trong khi đó, Ngoại trưởng Chile Heraldo Muñoz khẳng định những điều khoản ký kết trong TPP liên quan tới bảo vệ bản quyền các sản phẩm sinh học sẽ tuân thủ luật pháp quốc gia, đồng thời cam kết giá thuốc sẽ không tăng do thỏa thuận đã ký.

Theo ông Muñoz, 1.600 sản phẩm sẽ được miễn thuế vào các thị trường các nước thành viên TPP, mà các thỏa thuận song phương không cho phép. Ngoài ra, 1.400 sản phẩm khác cũng có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu.

Nhiều ý kiến ở Chile chỉ trích với việc ký kết TPP, Chile sẽ phải thông qua Công ước quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới (1991) và Luật Monsanto, theo đó cho phép tư hữu hóa giống cây trồng, đồng thời khiến các tập quán nông nghiệp truyền thống trở thành bất hợp pháp, cũng như buộc Chile phải sửa đổi luật về môi trường và thuế quan, được sử dụng để kiểm soát hoạt động của các công ty đa quốc gia.

TPP là hiệp định thương mại tự do đa quốc gia, với sự tham gia của 12 nước, bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam./.

Vietnam+

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành ...

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành viên mới, cũng như cho phép thành viên hiện tại có thể rút khỏi Hiệp định. Thậm chí, cho phép cho phép sửa đổi các nội dụng của Hiệp định.

Nội dung của Hiệp định TPP có thể sửa đổi

Hiệp định TPP là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giữa 12 nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Sau hơn 5 năm đàm phán, Hiệp định này đã hoàn tất đàm phán cuối năm 2015, được ký chính thức đầu năm 2016 và dự kiến sẽ có hiệu lực vào khoảng năm 2018.

Với phạm vi cam kết rộng, mức độ tự do hóa sâu, TPP chắc sẽ có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ thể chế kinh tế, cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Chia sẻ về việc Hiệp định TPP có thể thay đổi trong tương lại hay không? bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO cho biết, Hiệp định TPP là một Hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành viên mới, cũng như cho phép thành viên hiện tại có thể rút khỏi Hiệp định. Thậm chí, cho phép cho phép sửa đổi các nội dụng của Hiệp định.

Dệt may được nhận định sẽ hưởng lợi lớn từ Hiệp định TPP

Theo bà Trang, Hiệp định TPP cho phép kết nạp thêm thành viên mới là thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) hoặc bất kỳ nước/khu vực thuế quan độc lập nào nếu được các nước TPP đồng ý, với điều kiện là thành viên tương lai này chấp nhận tuân thủ tất cả các cam kết đã có trong TPP (bao gồm cả cam kết về thủ tục và điều kiện gia nhập) và được tất cả các thành viên TPP chấp nhận.

Riêng về việc rút khỏi Hiệp định, Giám đốc Trung tâm WTO cũng cho biết, nước thành viên nào nếu muốn rút khỏi Hiệp định thì chỉ cần thông báo bằng văn bản cho Cơ quan lưu chiểu (New Zealand), đồng thời thông báo cho tất cả các thành viên khác của Hiệp định về việc rút khỏi này. Việc rút khỏi sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày gửi thông báo đến New Zealand, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Và Hiệp định sẽ vẫn tiếp tục có hiệu lực với các thành viên còn lại.

Đối với việc sửa đổi, bổ sung nội dung Hiệp định TPP, đại diện Trung tâm WTO chia sẻ, các nội dung, cam kết trong TPP có thể được sửa đổi, nếu được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên. Nội dung sửa đổi sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày tất cả các thành viên thông báo đồng ý sửa đổi bằng văn bản cho New Zealand. Trong trường hợp một cam kết WTO mà TPP dẫn chiếu tới có sửa đổi thì, trừ khi có quy định khác trong Hiệp định, các thành viên sẽ tiến hành tham vấn xem có nên sửa đổi nội dung tương ứng trong Hiệp định hay không.

Trước những nội dụng này, bà Trang cũng lưu ý với doanh nghiệp, việc TPP có những thành viên nào có ý nghĩa đặc biệt trong quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc tận dụng các cơ hội của TPP, đặc biệt là liên quan tới thị trường và quy tắc xuất xứ. Cùng với đó, việc TPP thêm hoặc bớt thành viên, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh ưu tiên ở nhiều hơn hay ít hơn các thị trường. Số lượng các nước thành viên TPP cũng ảnh hưởng tới tình hình cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường Việt Nam và các nước TPP.

“Do tính mở của mình, số lượng các thành viên TPP không cố định mà có thể thay đổi theo các thời điểm khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần chú ý theo dõi TPP có bao nhiêu thành viên, và đó là những nước nào để có kế hoạch kinh doanh phù hợp tận dụng TPP”, bà Trang lưu ý.

Doanh nghiệp cần quan tâm tới quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP

Theo lãnh đạo Trung tâm WTO, trong thương mại quốc tế, quy tắc xuất xứ hàng hóa được sử dụng để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA), quy tắc xuất xứ của hàng hóa được sử dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa để cho hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA đó.

Thông tin của đại diện Trung tâm WTO cho biết, quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định TPP được sử dụng để xác định xem một sản phẩm hàng hóa nhất định có được coi là xuất xứ của TPP hay không, để được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP.

Cụ thể, quy tắc xuất xứ TPP yêu cầu các hàng hóa nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định, thì phải được hình thành hoàn toàn từ các nước TPP hoặc được sản xuất từ các nguyên liệu và theo quy trình nhất định trong khu vực TPP. Hàng hóa không đáp ứng quy tắc xuất xứ TPP, sẽ không được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định này.

Quy tắc xuất xứ là điều kiện để hàng hóa có thể được hưởng ưu đãi thuế quan. Vì vậy, doanh nghiệp muốn hưởng ưu đãi thuế quan trong Hiệp định TPP, khi xuất hàng sang các thị trường TPP hay khi nhập khẩu hàng hóa về Việt Nam đều cần chú ý nghiên cứu và đáp ứng các quy tắc xuất xứ liên quan tới hàng hóa của mình.

Việc đáp ứng quy tắc xuất xứ phải thực hiện ngay từ đầu (ví dụ từ khâu tìm nguồn nguyên phụ liệu, thiết kế quy trình sản xuất…), nên doanh nghiệp phải quan tâm vấn đề này sớm để thu xếp đáp ứng, không nên để tới thời điểm xuất/nhập hàng hóa mới tìm hiểu”, Giám đốc Trung tâm WTO nêu lưu ý với doanh nghiệp.

Yến Nhi

vnmedia

Hãng thông tấn của Trung Quốc Tân Hoa Xã vừa có bài phân tích nhận định rằng thắng lợi vang dội của ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa và Bernie Sanders thuộc đảng Dân chủ trong cuộc bỏ ...

Hãng thông tấn của Trung Quốc Tân Hoa Xã vừa có bài phân tích nhận định rằng thắng lợi vang dội của ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa và Bernie Sanders thuộc đảng Dân chủ trong cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại bang New Hampshire hôm 9/2 khiến con đường để Quốc hội Mỹ tiến tới phê chuẩn Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong năm nay “lắm chông gai hơn” với việc bùng nổ xu hướng bài thương mại tự do trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa. (Nguồn: AP)

Một thời gian dài bị coi là các ứng cử viên đứng ngoài cuộc chơi của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, trong các cuộc bầu cử sơ bộ vừa qua, hai ông Trump và Sanders đã kịch liệt chỉ trích TPP giữa Mỹ và 11 nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Sanders, Thượng nghị sỹ độc lập đến từ bang Vermont, một người kiên trì phản đối tự do thương mại quốc tế, đã tuyên bố sẽ không ký, đưa "thỏa thuận thương mại tự do thảm họa" này thành luật nếu được bầu làm Tổng thống của nước Mỹ.

Phát biểu trong cuộc vận động tranh cử tại tòa thị chính ở New Hampshire hôm 3/2, ông Sanders nói: "Tôi cho rằng đây là một sự tiếp nối các chính sách thương mại tồi. Tổng thống ủng hộ nó, nhưng tôi nhất quyết không ủng hộ."

Theo ông, TPP chủ yếu có lợi cho các tập đoàn và có thể "đẩy người lao động Mỹ ra ngoài đường."

Trong khi đó, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, đối thủ của ông Sanders trong cuộc đua giành quyền đề cử của đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống, cũng tái khẳng định hồi tuần trước rằng bà sẽ không ủng hộ TPP và sẽ tìm cách thay đổi hiệp định thương mại này nếu đắc cử.

Trong cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình hôm 4/2, bà Clinton nêu rõ: "Tôi không ủng hộ hiệp định (với các điều khoản như hiện nay). Có những thay đổi mà nếu làm được, tôi tin rằng sẽ tạo ra sự khác biệt thực sự."

Trước đó, bà Clinton đã bày tỏ sự không tin tưởng rằng TPP (vừa đạt được) sẽ đáp ứng được "tiêu chuẩn cao" của bà trong việc tạo công ăn việc làm tốt cho người Mỹ, cũng như cải thiện tiền lương và thúc đẩy an ninh quốc gia. Bà cũng cho rằng hiệp định thương mại này không thể giải quyết được tình trạng thao túng tiền tệ cũng như việc phân phối dược phẩm.

Bên phía đảng Cộng hòa, cả tỷ phú bất động sản Donald Trump và ông Ted Cruz, Thượng nghị sỹ bảo thủ đến từ bang Texas và là người giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ tại bang Iowa, đều công khai phản đối hiệp định TPP.

Còn Thượng nghị sỹ Marco Rubio, đại diện cho bang Florida, người được dư luận rộng rãi trong nội bộ đảng Cộng hòa coi là ứng cử viên thay thế tiềm năng cho các ông Trump và Cruz, đã tuyên bố chỉ tiết lộ sẽ bỏ phiếu cho thỏa thuận thương mại này theo hướng nào sau ngày 18/5 tới hoặc thậm chí muộn hơn. Việc ông Rubio từ chối đưa ra lập trường vững chắc về TPP phản ánh thực tế rằng cử tri Mỹ không hào hứng với thương mại tự do trong mùa bầu cử sơ bộ.

Trong cuộc họp kín tại Nhà Trắng vào tuần trước, Tổng thống Barack Obama đã thảo luận với Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan và thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện Mitch McConnell về TPP, nhưng không đạt được thỏa thuận về thời điểm chính xác Quốc hội Mỹ sẽ bỏ phiếu về hiệp định thương mại này.

Trong khi chính quyền Obama hối thúc Quốc hội phê chuẩn TPP càng sớm càng tốt, thì ông McConnell đã nhắc lại rằng chính quyền không nên đệ trình thỏa thuận thương mại này lên Quốc hội để bỏ phiếu trước cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 tới.

Phát biểu với các phóng viên sau cuộc họp, ông McConnell nhấn mạnh: "Với việc cả hai ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ và một số ứng cử viên tổng thống trong đảng chúng tôi (Cộng hòa) phản đối thỏa thuận này, lời khuyên của tôi là chúng ta không nên cố gắng đưa thỏa thuận này ra bỏ phiếu tại Quốc hội, chắc chắn là trước cuộc bầu cử," đồng thời chỉ rõ thỏa thuận này có một số khiếm khuyết cần được giải quyết. Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan cũng dự đoán rằng hiệp định TPP sẽ không thu được đủ số phiếu ủng hộ tại Quốc hội để được thông qua.

Đa số các tổ chức kinh tế có ảnh hưởng tại Mỹ, trong đó có Phòng Thương mại Mỹ (USCC), Hiệp hội Các nhà chế tạo Mỹ và Hội Bàn tròn Doanh nghiệp Mỹ, đã bày tỏ sự thất vọng về một số điều khoản trong lĩnh vực thuốc lá, dược phẩm và các thể chế tài chính được quy định trong hiệp định đã được các bộ trưởng của 12 nước thành viên chính thức ký kết tại Auckland (New Zealand) hôm 4/2 sau hơn 5 năm đàm phán.

Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ Orrin Hatch, người đặc biệt quan ngại về các điều khoản liên quan đến thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm sinh dược, đã đánh tín hiệu rằng TPP có thể sẽ phải đối mặt với sự trì hoãn lâu dài từ khi ký kết đến lúc được Quốc hội nước này phê chuẩn.

Ông Hath cũng lưu ý rằng các hiệp định thương mại tự do của Mỹ với Colombia, Panama và Hàn Quốc chỉ được Quốc hội Mỹ phê chuẩn sau hơn 4 năm kể từ khi ký kết./.

Việc nước ta ký Hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây ...

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Việc nước ta ký Hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây là thành quả của tiến trình 30 năm đổi mới, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng, ngày càng được khẳng định mạnh mẽ và kiến giải sâu sắc qua các Nghị quyết của Đảng. Đây còn là những trải nghiệm rút ra từ thực tiễn hội nhập của nước ta sau khi ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN, các Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Hội nhập kinh tế quốc tế còn là một nội hàm quan trọng trong thể chế kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

I

Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, trong các nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của Chính phủ về đàm phán tham gia một số Hiệp định Thương mại tự do mới. Đây là những Hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường cao hơn cam kết trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký trước đây. Đặc biệt, TPP và FTA với EU là những Hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích, với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng. Các Hiệp định này còn bao gồm các nội dung tuy không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại như môi trường và lao động. Với những nội hàm chủ yếu nêu trên, TPP cùng với FTA Việt Nam-EU được gọi là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

TPP là Hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức độ cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất khẩu, nhập khẩu và rào cản phi quan thuế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh, người lao động cũng như người tiêu dùng.

TPP sẽ thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên; tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại nội khối; nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân; góp phần giải quyết những thách thức trong nền kinh tế đương đại, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển nền kinh tế số, xây dựng chính sách cạnh tranh và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động và bảo vệ môi trường. Hiệp định còn có các quy định bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển. TPP cũng bao gồm các cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực và có sự linh hoạt về lộ trình thực thi, phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển để các bên có khả năng đáp ứng cam kết và tận dụng đầy đủ lợi ích của Hiệp định. Đồng thời, quy định cơ chế giám sát thực thi và chế tài xử lý các vi phạm.

TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước; thừa nhận yêu cầu phải tuân thủ đầy đủ pháp luật quốc gia, phù hợp với các cam kết quốc tế và không bao gồm các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh. Hiệp định cũng được kỳ vọng là tạo ra một nền tảng mới cho hội nhập kinh tế khu vực và tạo cơ hội cho các quốc gia khác trên vành đai châu Á-Thái Bình Dương tham gia.

Trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp và còn nhiều khó khăn, việc chủ động quyết định tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là TPP với tinh thần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, nỗ lực vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội để vươn lên phát triển nhanh và bền vững, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén và tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Đây còn là sự khẳng định niềm tin vào ý chí, khả năng và sức mạnh của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

II

TPP cùng FTA với EU sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức đối với nước ta.

Các Hiệp định này sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong đó EU gồm 28 thành viên với GDP trên 18 nghìn tỷ USD và TPP hiện có 12 thành viên với GDP trên 20 nghìn tỷ USD. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua. Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20.

Xuất khẩu và đầu tư có vai trò quyết định cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống dân cư, nhất là trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người và tiêu dùng nội địa của nước ta còn thấp. Tăng tỷ trọng xuất nhập khẩu với các thị trường này cũng làm cho quan hệ thương mại với các nước cân bằng hơn. Những cam kết trong các Hiệp định là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tham gia các Hiệp định này còn là một bước tiến mới trong thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là tại một khu vực đang diễn ra cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Cùng với những cơ hội thuận lợi, các Hiệp định này cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ. Đó là, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Trước sức ép cạnh tranh, một số doanh nghiệp sau thời gian chuyển đổi, tái cơ cấu nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương; khoảng cách giàu nghèo sẽ bị doãng ra nếu chúng ta không thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng thành quả của tăng trưởng. Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý. Nội dung về lao động-công đoàn cũng đặt ra những thách thức và yêu cầu mới trong hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cả hệ thống chính trị của nước ta.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội thuận lợi tự nó không chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải thông qua sự nỗ lực và hiệu quả hoạt động hướng đích của các chủ thể – Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của từng chủ thể. Nếu tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, chúng ta sẽ bị thua thiệt và rất khó khắc phục. Điều cần nhấn mạnh là, trong các Hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.

III

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia các Hiệp định FTA mới, nhất là các Hiệp định thế hệ mới – TPP và FTA với EU; và trong điều kiện công nghệ thông tin, Internet phát triển bùng nổ, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thương mại, dịch vụ toàn cầu; cùng với những tiến bộ trong vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics, ranh giới giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như bị san phẳng. Hệ quả là, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Nhiều quốc gia chuyển sang mô hình công nghiệp hóa dựa trên sức cạnh tranh, khai thác và tạo lập lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phấn đấu chiếm lĩnh các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị đó.

Để tận dụng cơ hội thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Trong đó, cần xác định rõ vai trò và hành động của các chủ thể trong thực thi nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định này.

Doanh nghiệp là chủ thể quyết định sức cạnh tranh vi mô, phản ảnh sức mạnh và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp phải dũng cảm chấp nhận cạnh tranh và phải chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng, với tư duy không chỉ giới hạn tại thị trường trong nước mà còn vươn ra khu vực và thế giới. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tự mình quyết định được tất cả. Doanh nghiệp phải hành động trong khung khổ thể chế và môi trường kinh doanh xác định. Điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước.

Nhiều nghiên cứu và từ thực tiễn các nước đều khẳng định rằng, thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển của một nền kinh tế. Phát triển nhanh và bền vững hay trì trệ, tụt hậu chủ yếu là do chất lượng thể chế. Thể chế tốt, bảo đảm nhà nước pháp quyền, quyền dân chủ của người dân và phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại sẽ khơi dậy được cao nhất sức mạnh tổng hợp và các nguồn lực cho sự phát triển. Và như vậy, thể chế có vai trò quyết định đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để có một thể chế tốt, chất lượng cao, phải xác định đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và tổ chức bộ máy quản lý để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng; sử dụng nguồn lực của Nhà nước, các chính sách và công cụ điều tiết để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống người dân; bảo vệ môi trường; bảo đảm các dịch vụ công thiết yếu, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thị trường quyết định việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Doanh nghiệp được tự quyết định kinh doanh trên các lĩnh vực mà luật pháp không cấm đồng thời phải đề cao trách nhiệm xã hội và văn hóa kinh doanh. Xã hội – thông qua người dân và các Tổ chức, các Hội nghề nghiệp đại diện cho mình và các chuyên gia, các nhà nghiên cứu độc lập để đóng góp xây dựng, phản biện và giám sát thực thi chính sách, nhằm hạn chế các khiếm khuyết của thị trường và Nhà nước.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các mối quan hệ trên đây, chúng ta phải khẩn trương tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các Hiệp định FTA, nhất là các FTA thế hệ mới với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị. Tập trung mọi nỗ lực xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thượng tôn pháp luật. Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Cán bộ công chức chỉ được làm và phải làm những việc theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục cải cách bảo đảm sự tương thích, đồng bộ giữa luật pháp, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức. Tổ chức trùng lắp, chồng chéo sẽ gây lãng phí nguồn lực và cản trở sự phát triển. Phải dám chấp nhận đổi mới, vượt qua sức ỳ, sự bảo thủ để hoàn thiện hệ thống tổ chức lãnh đạo quản lý, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

Đặt việc cải thiện môi trường kinh doanh trong yêu cầu cải cách thể chế. Thể chế tạo ra khung khổ, định ra giới hạn cho cải thiện môi trường kinh doanh. Không thể có môi trường kinh doanh tốt nếu không có thể chế phù hợp. Những tiến bộ trong cải cách thể chế phải được chuyển hóa đầy đủ sang cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ liên quan đến tổ chức bộ máy mà còn gắn chặt với chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đặc biệt quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý, các nhà quản trị doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập, cạnh tranh và phát triển.

Chỉ trên nền tảng đổi mới thể chế quản trị quốc gia phù hợp mới có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả của tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh áp dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Cũng chỉ trên cơ sở đổi mới thể chế phù hợp mới tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn và một nền nông nghiệp sạch, có giá trị gia tăng cao, ổn định nguồn cung để có thể tăng nhanh thị phần trên thị trường thế giới. Nếu không, sẽ không tận dụng được cơ hội thuận lợi do TPP, FTA với EU và các FTA mới mang lại.

TPP cũng như FTA với EU yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động và cạnh tranh công bằng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Phải đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước đồng thời khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.

Để bảo đảm thành công trong hội nhập quốc tế và thực hiện hiệu quả các FTA, đặc biệt là TPP và FTA Việt Nam - EU, trước hết phải có Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các cấp các ngành và của cộng đồng doanh nghiệp.  Phải làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo sự đồng thuận trong nhận thức, thống nhất trong hành động, nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững. 

                                                                     *  *  *

Chúng ta đang sống trong một thời đại vận động và phát triển rất nhanh, thế giới đang bước vào làn sóng công nghiệp lần thứ tư, tiến trình công nghiệp hóa ngày càng được rút ngắn. Nếu có quyết tâm cao và ý chí vươn lên mạnh mẽ, tinh thần sáng tạo và chiến lược tăng trưởng đúng đắn, nước đi sau có thể đuổi kịp và vượt quốc gia đã có trình độ phát triển cao hơn và những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ có thể nhanh chóng trở thành những doanh nghiệp lớn.

Tham gia các Hiệp định này, Việt Nam còn có thêm cơ hội nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ tăng quy mô, tạo điều kiện hình thành những doanh nghiệp lớn đồng thời với xu thế cá thể hóa doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội để nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, sáng tạo, khuyến khích phong trào khởi nghiệp của mọi người dân và nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp chúng ta hãy nêu cao niềm tự hào dân tộc, chung sức đồng lòng, chủ động khai thác và phát huy tốt nhất cơ hội thuận lợi, nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức trong hội nhập, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn./.

Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ

Ngày nhỏ, những khi lười ăn hay trốn uống thuốc là lại được nghe câu dọa: “Nhanh lên không con ‘ngáo ộp’ vào bắt bây giờ…”. Đôi lúc lấm lét hỏi nhỏ, con ‘ngáo ộp’ trông như thế nào thì chỉ nhận được ...

Ngày nhỏ, những khi lười ăn hay trốn uống thuốc là lại được nghe câu dọa: “Nhanh lên không con ‘ngáo ộp’ vào bắt bây giờ…”. Đôi lúc lấm lét hỏi nhỏ, con ‘ngáo ộp’ trông như thế nào thì chỉ nhận được nụ cười đầy bí hiểm… 

Cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng tại Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (và trong cả hiệp định thương mại tự do với EU) về cơ bản giống như cam kết đã có khi gia nhập WTO

Nhưng, những lúc thành phố mất điện, ngồi trong lòng người lớn, biết là bóng người hắt từ ánh đèn dầu soi trên tường, nhưng vẫn sợ bóng, sợ gió, nghĩ đến đủ thứ quái đản…

“Tăng Sâm giết người”

Sách Cổ học tinh hoa của Trung Quốc kể chuyện rằng, thời Xuân Thu có ông Tăng Sâm người đất Phi là học trò Khổng Tử. Ông tính tình chân thật và có hiếu. Lúc bấy giờ có kẻ trùng tên với ông giết chết người. Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông rằng: “Tăng Sâm giết người”.

Bà mẹ nói: “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi. Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người.” Bà mẹ không nói gì, vẫn ngồi dệt cửi. Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người”. Đến lúc này, bà mẹ sợ cuống cuồng, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn.

Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo nên bà mẹ tin con không thể là kẻ giết người. Vì thế, hai lần trước có người bảo "Tăng Sâm giết người", bà mẹ không tin. Nhưng đến lần thứ ba thì bà cuống cuồng chạy trốn. Thế mới thấy những chuyện đồn thổi, những cái sợ bóng sợ gió nó tác động mạnh đến con người ta thế nào.

So sánh nào có lẽ cũng là khập khiễng, nhưng từ khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết, trong hệ thống ngân hàng, cái cụm từ “thách thức khi hội nhập” TPP xuất hiện nhan nhản, từ những diễn đàn chính thức đến câu chuyện trà dư tửu hậu. Nào là ngân hàng Việt sẽ mất lợi thế trên sân nhà khi nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt đổ vào thị trường với những hậu thuẫn từ TPP, nào là nguy cơ nhãn tiền việc các ngân hàng bị thâu tóm, nguy cơ chảy máu nhân sự giỏi… vân vân và vân vân…

Nói là cứ “an nhiên” tọa hưởng thị trường nội địa thì là lạc quan tếu, nhưng “cái bóng” TPP liệu có ám ảnh đến vậy?

Điểm lại thông tin chính thức mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước, tại thị trường Việt Nam có gần 50 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 53 văn phòng đại diện, 4 ngân hàng liên doanh và 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Nếu bỏ ra ngoài 53 văn phòng đại diện (không được phép có hoạt động kinh doanh) thì số lượng thực thể có yếu tố nước ngoài đang hoạt động ngân hàng tại Việt Nam là gần 60 đơn vị.

Nếu so với con số 31 vào năm 2006, đúng là số lượng thực thể có hoạt động ngân hàng ngoại nhập tăng gần gấp đôi, thể hiện sự quan tâm lớn hơn tới thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy số tăng thêm này chủ yếu là các chi nhánh. Số lượng ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn ngoại vẫn còn rất khiêm tốn. Trong đó, có ít nhất 3 ngân hàng đã hiện diện tại Việt Nam từ rất lâu dưới hình thức chi nhánh, sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì chuyển từ chi nhánh lên thành ngân hàng 100% vốn (ANZ, HSBC và Standard Chartered).

Thực tiễn đó cho thấy điều gì? Một là, thị trường Việt Nam dường như vẫn chưa đủ mức hấp dẫn để các ngân hàng nước ngoài quyết định mở ngân hàng con (100% vốn). Thậm chí, hiện nay đã có những ngân hàng 100% vốn nước ngoài không còn mặn mà cho DN Việt Nam vay vốn. Hai là, số lượng thực thể nước ngoài tăng chủ yếu ở mảng “chi nhánh”, cho thấy ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam lúc này dường như chỉ là đi theo để phục vụ khách hàng chính quốc, những người đã quyết định đầu tư vào Việt Nam.

Rõ ràng, 9 năm qua, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng khi gia nhập WTO chưa gây ra sức ép cạnh tranh đáng kể cho các ngân hàng Việt Nam. Hệ thống ngân hàng có những thời điểm yếu đi là do các yếu tố nội tại chứ không phải do cạnh tranh từ các ngân hàng ngoại. Ngay cả trong thời gian mà các ngân hàng Việt Nam yếu nhất (2011 - 2014), các thực thể có yếu tố nước ngoài cũng không “tận dụng” được để gia tăng thị phần…

Theo một chuyên gia trực tiếp tham gia đàm phán TPP, cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng tại Hiệp định TPP (và trong cả FTA với EU) về cơ bản giống như cam kết đã có khi gia nhập WTO. Như vậy, thách thức tăng thêm trong lĩnh vực ngân hàng do tham gia TPP và FTA với EU là có, nhưng không quá đáng sợ.

Do cam kết trong TPP và FTA với EU là tương tự như cam kết khi gia nhập WTO nên tổng mức góp vốn mua cổ phần của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại từng ngân hàng TMCP Việt Nam vẫn không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó, trừ khi pháp luật Việt Nam có quy định khác hoặc được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Nói cách khác, trong thời gian tới, nếu pháp luật của ta không đồng loạt mở “room” (hoặc Ngân hàng Nhà nước không cho phép trường hợp nào “đặc cách”) thì không một ngân hàng TMCP nào, dù nhỏ đến mấy, lại có thể bị thâu tóm cả. Những lo lắng về việc quyền sở hữu các ngân hàng TMCP nhỏ sẽ “dần dần được chuyển cho nước ngoài” vì vậy, là không có cơ sở.

Thế mới hay, cái áp lực từ dư luận thiên hạ rất mạnh khi nói đến 2 từ “thách thức” mà chỉ nhìn ở ngọn chứ không nhìn từ gốc… Tấm huy chương nào cũng có hai mặt, nhưng người lạc quan là người mắt chiêm ngưỡng sự lấp lánh, đẹp đẽ, còn tay nắm chắc mặt xù xì, gai góc.

“Lợi mê lòng người”

Nhưng ai sẽ là những người lạc quan thận trọng này? Trên thực tế, chỉ một số ít ngân hàng hiểu rõ cạnh tranh của khối ngoại sẽ đến từ đâu? Thách thức nâng cao chất lượng dịch vụ, đa dạng hóa sản phẩm, đầu tư công nghệ hiện đại đời nào, lúc nào cũng có. Không có TPP hay FTA với EU thì câu chuyện này vẫn đến như thường…

Trong huy động, khối ngoại có lẽ chấp nhận thua ngân hàng nội vì thiếu một sự “linh hoạt” nhất định. Đối với cho vay, có 2 mảng là DN (tập đoàn kinh tế) và cá nhân (tiêu dùng, bán lẻ). Do đặc thù kinh tế Việt Nam và DN Việt Nam, khối ngoại chắc chắn “thua” khối nội trong mảng cho vay DN.

Chỉ khi nào môi trường kinh doanh Việt Nam có sự thay đổi về chất, dẫn đến sự thay đổi về chất của các DN Việt Nam thì khối ngoại mới có cơ cạnh tranh với khối nội về cho vay DN. Nhưng, mảng cá nhân thì khác. Đây là mảng mà khối nội, nếu không sớm tỉnh ra và cơ quan quản lý nhà nước, nếu không sớm có giải pháp khéo léo để giúp khối nội cạnh tranh với khối ngoại thì… sẽ lấm lưng, trắng bụng.

Mảng cá nhân là tương lai của dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam với trên 90 triệu dân, đa phần trẻ, mê công nghệ, độ phủ 3G-4G cao, nếu khối nội vẫn đam mê cho vay DN thì tới lúc nào đó ngoảnh lại, sẽ thấy tiếc nuối.

Còn bạn, những người trẻ hoặc trung niên, nếu ai đó có thể bảo đảm với bạn rằng bạn chỉ cần dùng điện thoại để nhận lương, vay tiền, thanh toán các khoản nợ, các loại hóa đơn và tiêu tiền ở mọi nơi bạn muốn thì bạn có đến với người đó không? Hay là bạn vẫn muốn giống ông bà của mình, thỉnh thoảng lại lãng mạn dắt tay nhau ra chi nhánh ngân hàng để xếp hàng, lấy số thứ tự, chờ gọi tên mình và khai đủ các loại giấy tờ?

Câu hỏi thật dễ có đáp án!

Một thách thức thực sự và cực kỳ to lớn nữa của các ngân hàng nội, đó là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và dịch chuyển nguồn nhân lực tài chính ngân hàng có chất lượng. Nếu không thay đổi tư duy quản trị, các ngân hàng sẽ rất khó vượt qua thách thức về nguồn nhân lực.

Trong khi đó, chuyện tại không ít ngân hàng, những cuộc họp bất thường từ 7h tối đến 11h đêm là việc thường ngày ở huyện. Chuyện rằng, 11 giờ đêm, “sếp” gọi điện bảo, 4h sáng mai đi công tác với “sếp” là chuyện như cơm bữa. 11 giờ đêm “sếp” điện thoại mà không nghe máy, ngay lập tức ngày hôm sau “sếp” cho nghỉ việc. Và “sếp” muốn cho công ty sân sau của “sếp” vay tiền là quyền của “sếp”, việc của nhân viên chỉ là lo ký các giấy tờ…

Trên thực tế, thù lao tài chính không phải là tất cả bởi với đa số người giỏi, môi trường làm việc quan trọng không kém. Chừng nào các ông chủ, bà chủ nhiều ngân hàng TMCP Việt Nam vẫn còn coi ngân hàng này là “của tôi” và cần được điều hành “theo kiểu của tôi” thì chừng đó sẽ còn có sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao...   

Chuyện rằng nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả tôi cái này”. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa. Người đàn bà cãi: “Ông mất áo thâm, tôi biết đấy là đâu? Áo tôi mặc đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra”.

Anh kia nói: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dày, cái áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cái áo thâm dày cho tôi, còn phải nói lôi thôi gì nữa!”. Lời bàn rằng, cái lợi nó làm cho lòng người mê muội, chỉ biết có mình mà không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà quên cả phải trái…        

Nhuệ Mẫn

đtck

Có nhiều điều trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nghe thì quá xa vời nhưng bản chất lại rất sát thực. Nguyên tắc thì rất mở nhưng các trường hợp ngoại lệ lại nằm trong phụ lục, cho ...

Có nhiều điều trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nghe thì quá xa vời nhưng bản chất lại rất sát thực. Nguyên tắc thì rất mở nhưng các trường hợp ngoại lệ lại nằm trong phụ lục, cho nên phụ đôi khi lại quan trọng hơn chính.

TPP trải qua nhiều phiên đàm phán căng thẳng.

Câu chữ rắc rối, bài toán đơn giản

Có người nói với tôi TPP dịch ra tiếng Việt là “tớ phình phường”, dẫn lại tích truyện tiếu lâm nổi tiếng về một anh chàng đèo người yêu trên chiếc xe đạp cà tàng leo dốc.

Lên đến đỉnh, em yêu mới thẽ thọt hỏi anh mệt không, chàng bở hơi tai rồi nhưng làm oai với người yêu nên vẫn đáp là anh bình thường, nhưng thở không ra hơi, thành ra “anh phình phường”.

Chuyện này ám chỉ việc Việt Nam gia nhập TPP cũng hụt hơi như anh chàng leo dốc xe đạp kia, vì sĩ diện mà bảo “phình phường thôi”.

Mở hết cửa ngõ cho mấy ông lớn như Nhật, Mỹ, Úc vào, cạnh tranh sao nổi. Câu chuyện gợi nhớ lại thời điểm cách đây gần 20 năm khi Việt Nam ký Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (BTA, 2001) và sau đó là gia nhập WTO (2007).

Cũng nóng ran mặt báo những cuộc thảo luận về cơ hội và thách thức, nổi lên là những lo lắng về sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội và viễn cảnh “bị bóp chết trên sân nhà”.

Thế nhưng, qua 20 năm, điều mọi người đều thấy là dòng thác hội nhập đã tưới tắm nước ngọt vào mọi ngóc ngách của đời sống kinh tế.

Doanh nghiệp nội vươn lên mạnh mẽ, xuất khẩu tăng trưởng ồ ạt và quan trọng nhất là thể chế, môi trường kinh doanh cải thiện chưa từng thấy.

Ngoài việc không thể đứng ngoài xu thế chung toàn cầu, điều có thể yên tâm về các hiệp định thương mại là khả năng đàm phán của Việt Nam.

“Tựu trung có 2 điều kiện, nguyên tắc tiên quyết để lựa chọn đi đến một hiệp định thương mại, đó là thị trường đôi bên không xung đột mà bổ sung cho nhau và dung lượng sức mua của thị trường mục tiêu phải lớn.

Tất nhiên không có cái gì là miễn phí. Nhưng nếu lợi ích trừ (-) đi chi phí lớn hơn (>) 0 thì chúng ta cứ thế mà làm thôi” – một thành viên đoàn đàm phán chia sẻ.

TPP còn được kỳ vọng nhiều vì sẽ cân bằng được cán cân xuất khẩu của Việt Nam vốn lâu nay phục thuộc quá nhiều vào khu vực Đông Á (hơn 50% xuất khẩu), chẳng khác nào “đặt trứng vào một giỏ” với nhiều rủi ro.

Khi phụ quan trọng hơn chính

TPP có 30 chương, nhưng không như đọc tiểu thuyết. Phụ lục là nơi bảo lưu các trường hợp ngoại lệ của những nguyên tắc đã thoả thuận. Vì vậy, nói theo cách Nam Bộ, nhiều trường hợp “tưởng dzậy hổng phải dzậy”.

TPP lại có 2 phụ lục khác nhau. Trong đó, phụ lục 1 áp dụng quy định “không thể đảo ngược”, tức chỉ có tiến chứ không có lùi, một khi đã mở một cánh cửa rồi thì chỉ có thể mở thêm chứ không được hối hận mà đóng lại.

Phụ lục 2 dễ chịu hơn, tức có thể du di tuỳ tình hình. Vì là nơi bảo lưu các trường hợp ngoại lệ, nên với những thành viên “nhỏ nhưng có võ” như Việt Nam, luôn đòi hỏi phải có lộ trình áp dụng cam kết, phụ lục vì vậy cũng chính là “đấu trường sinh tử” trong đàm phán, phụ mà còn quan trọng hơn chính.

Chẳng hạn, hiệp định yêu cầu chào thầu quốc tế trong đấu thầu, mua sắm công, tuy nhiên phụ lục lại nói rõ riêng trường hợp Việt Nam 25 năm nữa mới phải áp dụng hoàn toàn nguyên tắc này, trước mắt thì chỉ những gói thầu trực tiếp của các Bộ, ngành, cơ quan trực thuộc Chính phủ bị điều chỉnh.

Kể một câu trả lời của đoàn Việt Nam trên bàn đàm phán để giữ được bảo lưu này: “Các anh nói đúng, chúng tôi tiêu tiền dân nên phải đấu thầu để tiêu cho hiệu quả. Nhưng vì chúng tôi tiêu tiền dân nên chúng tôi cũng cần ưu tiên cho người dân của chúng tôi, doanh nghiệp của chúng tôi”.

Đặc biệt như chương về doanh nghiệp nhà nước. Nội dung hiệp định quy định khá chi tiết về về doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo cơ chế thị trường, minh bạch hóa một số thông tin, không được có hành vi phản cạnh tranh khi có vị trí độc quyền…

Đây đều là những nguyên tắc mà Việt Nam từ lâu đã thực hiện. Tuy nhiên, khi đàm phán chúng ta tiếp tục bảo lưu loại trừ tất cả các doanh nghiệp có hoạt động liên quan tới an ninh - quốc phòng.

Đồng thời, phụ lục còn quy định đạt một ngưỡng doanh thu nhất định thì doanh nghiệp nhà nước mới chịu sự điều chỉnh của hiệp định. Theo tính toán sơ bộ, có chưa đầy 10 doanh nghiệp nhà nước Việt Nam thuộc diện này!

* Công bố toàn văn Hiệp định TPP bằng tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha và bản dịch tiếng Việt

Người lữ hành trở về nhà

Tất nhiên, cơ hội luôn đi kèm thách thức. Nhưng có thể nói có nhiều thách thức đã bị thổi phồng. “Không thể nói Việt Nam có sức cạnh tranh yếu. Có đi đàm phán mới thấy nhiều bạn họ “sợ” ta như thế nào” – một thành viên đoàn đàm phán TPP nhận xét.

Thách thức thực sự đến từ chính nội tại, đó là một nguồn nhân lực đủ mạnh để có thể chớp lấy những cơ hội đang mở ra rộng hơn bao giờ hết đưa Việt Nam “bước tới đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ từng mong muốn.

Thiên nhiên trời phú, nếu được chăm bón thêm nguồn chất xám dồi dào thì hẳn một lĩnh vẫn được coi là yếu thế như nông nghiệp vẫn có thể tự tin mà bước tới.

Hy vọng rồi đây sẽ có thêm nhiều những mô hình đột phá như Công ty Viễn Phú ở đất mũi Cà Mau, lặn lội vào xứ rừng U Minh Hạ với lau sậy, phèn chua để rồi biến 320ha đất hoang hóa thành cánh đồng sản xuất lúa gạo hữu cơ để xuất khẩu duy nhất của cả nước, đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt tại thị trường Hoa Kỳ và châu Âu, với giá trị lợi nhuận cao gấp 5 lần so với gạo thường.

Không phải vô cớ mà dòng vốn đầu tư nước ngoài vẫn đổ vào Việt Nam. Hội nhập kinh tế tích cực, chủ động đã biến nước ta thành một giao lộ tấp nập trên bản đồ giao - chuyện sau bàn đàm phán thương quốc tế.

Cùng với các nhà đầu tư nước ngoài, những người Việt xa quê nay cũng trở về chung tay dựng xây đất nước. Đây là thành tựu của hội nhập chưa được đề cập nhiều và ý nghĩa khó có thể đo đếm qua những con số.

Không chỉ là câu chuyện kinh doanh, tạo công ăn việc làm, những doanh nhân trở về như tỷ phú Phạm Nhật Vượng còn góp phần kiến tạo lại diện mạo đô thị…

Và cũng không chỉ những cuộc trở về của những đứa con xa quê, đó còn là sự trở về ngay chính trong lòng đất nước. Chúng ta từng xót xa và có thể cả đổ lỗi cho hội nhập đã lấy mất những công trình mang tính biểu tượng, những vị trí đắc địa của Thủ đô trao vào tay nước ngoài.

Nhưng cùng với sự trưởng thành nhanh chóng của doanh nhân trong nước, chúng ta đang dần giành lại cho mình, như khách sạn Hilton, Daewoo là những ví dụ.

Mở cửa kinh tế, tham gia các hiệp định thương mại, lâu nay chúng ta vẫn chủ yếu chỉ nhìn ở khía cạnh đi, chứ chưa nhìn đến những cuộc trở về, những phút giây đoàn tụ trên Đất Mẹ.

Đức Sơn

plvn

Theo TS. Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách thương mại quốc tế của VCCI, Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định đòi hỏi những thành viên phải mở cửa ...

Theo TS. Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách thương mại quốc tế của VCCI, Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định đòi hỏi những thành viên phải mở cửa thương mại sâu rộng nên sẽ lợi thế nếu doanh nghiệp biết liên kết và là bất lợi đối với nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ.

 

TS. Trần Hữu Huỳnh: Trong TPP, sẽ lợi thế nếu doanh nghiệp biết liên kết.

TPP sẽ mang lại những khó khăn nào như thế nào đối với doanh nghiệp Việt Nam, thưa ông?

Khi tham gia TPP có nghĩa là hàng rào thuế quan của chúng ta sẽ phải giảm để hàng hóa của 11 nước thành viên khác có điều kiện xâm nhập thị trường Việt Nam. Do đó những doanh nghiệp nào trước đây được hưởng những ưu đãi từ Nhà nước như DNNN hay doanh nghiệp sản xuất nhưng được hưởng ưu đãi mà hiện giờ những ưu đãi đấy nằm trong diện TPP cấm sẽ là nhóm doanh nghiệp gặp khó khăn đầu tiên.

Nhóm doanh nghiệp thứ 2 là những ngành liên quan đến nông nghiệp. Đây là những lĩnh vực mà việc giảm thuế sẽ khiến hàng hóa nước ngoài tràn vào cạnh tranh trực tiếp khiến đối tượng này bị tổn thương nhiều nhất như các ngành chăn nuôi, rau quả.

TPP là một hiệp định đòi hỏi những thành viên phải mở cửa thương mại sâu rộng nên những ngành hàng bị ràng buộc như sở hữu trí tuệ hay liên quan đến môi trường cũng sẽ gặp phải những khó khăn.

Nếu nhìn từ góc độ thị trường dịch vụ, những doanh nghiệp nhỏ làm ăn kiểu cò con hay doanh nghiệp quy mô gia đình cũng sẽ gặp khó khăn hơn vì TPP mở cửa không đơn thuần là hàng hóa mà còn là dịch vụ, đầu tư nên những đối tượng trên thị trường nội địa sẽ gặp nhiều thách thức.

Đối với hàng hóa xuất khẩu nói chung sẽ có nhiều thuận lợi, nếu gặp khó khăn chủ yếu là hàng rào kỹ thuật và phòng vệ thương mại.

Vậy những mặt hàng nào là thế mạnh cạnh tranh sẽ giúp Việt Nam khẳng định được vị trí trong những quốc gia tham gia TPP?

Trong không gian về thương mại được mở rộng và chính sách ưu đãi thuế quan của các nước thành viên TPP, một số sản phẩm hàng hóa mà các thành viên không có sản phẩm cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam đó là dệt may, dầy dép, điện tử. Đây là những mặt hàng phần lớn các nước trong TPP không sản xuất nên không cạnh tranh trực tiếp với hàng Việt Nam.

Có thể coi đây là cơ hội của doanh nghiệp Việt Nam không, thưa ông?

TPP là một hiệp định mở ra nhiều cơ hội nhưng cơ hội đối với ai, rõ ràng là cơ hội đối với doanh nghiệp sản xuất mặt hàng có khả năng cạnh tranh với thị trường 11 nước còn lại. Thứ hai là cơ hội đối với doanh nghiệp có khả năng liên kết với đối tác đầu tư từ các thành viên TPP.

Như vậy, đối với nhóm doanh nghiệp thứ nhất, cần tìm hiểu thị trường, nắm rõ thế mạnh mặt hàng truyền thống là gì để chuyển đổi. Với nhóm doanh nghiệp thứ hai, việc liên kết trên thị trường nội địa rõ ràng sẽ nâng cơ hội cạnh tranh của doanh nghiệp lên nếu hàng hóa của doanh nghiệp có sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư TPP.

Trong cam kết TPP, ưu đãi cho DNNN sẽ giảm đi, điều này sẽ tác động như thế nào đối với khối doanh nghiệp này, thưa ông?

DNNN trong diện điều chỉnh là DNNN quy mô lớn, quy mô lớn ở đây được hiểu là doanh nghiệp có doanh số 3 năm liên tiếp lớn. Tuy nhiên cũng có ngoại lệ để DNNN không phải thực hiện những cam kết đó.

Thực hiện những cam kết này không liên quan đến vấn đề đóng góp vào ngân sách mà nếu DNNN hoạt động tốt, minh bạch, đáp ứng các tiêu chí mà chúng ta đã cam kết sẽ mang lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp, sau đó là Nhà nước và người tiêu dùng.

Những cam kết về sở hữu trí tuệ trong TPP có điểm gì cần lưu ý đối với doanh nghiệp Việt Nam?

Gọi TPP là một hiệp định thế hệ mới không chỉ đơn thuần là những quy định về hàng hóa mà còn ở nhiều yếu tố khác liên quan đến hàng hóa, không chỉ là hàng hóa qua biên giới mà còn là hàng hóa nằm sâu trong nội địa của các nước thành viên.

Nói cho cùng, TPP là thiết lập quyền sở hữu để bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, từ đó thu hút nhà đầu tư lớn, đối tác làm ăn tin cậy và lâu dài. Việc chúng ta thực hiện các cam kết sở hữu trí tuệ cũng có nghĩa làm cho doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh lên. Đó là tinh thần cơ bản của TPP mà những hiệp định thương mại khác chưa đạt được.

Đối với vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TPP, những quy định chung về sở hữu trí tuệ hiện đã ở mức độ cao nhưng yêu cầu trong TPP còn cao hơn, cụ thể ở chế tài về tịch thu, xử lý thiệt hại bao gồm xử lý hành chính, kiện tụng và các biện pháp hình sự…

Chúng ta đã có một khung khổ pháp luật về sở hữu trí tuệ tương đối tương thích với thế giới nhưng việc thực thi còn nhiều vấn đề.

Xin cảm ơn ông!

Hồ Huệ (ghi)

Hải quan

Trong khuôn khổ chuyến thăm và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại New Zealand của Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, ngày 3/2, Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán ...

Trong khuôn khổ chuyến thăm và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại New Zealand của Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, ngày 3/2, Bộ Công Thương Việt Nam phối hợp với Đại sứ quán Việt Nam tại New Zealand và Hội đồng kinh doanh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)-New Zealand (ANZBC) đã tổ chức Diễn đàn hợp tác Công Thương Việt Nam-New Zealand tại khách sạn Stamford Plaza, thành phố Auckland.

Diễn đàn là cơ hội để hai nước tăng cường hiểu biết trong lĩnh vực thương mại và các tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu của hai nước cùng gặp gỡ, tìm hiểu và trao đổi kinh nghiệm kinh doanh tại thị trường Việt Nam nhằm đón đầu cơ hội đầu tư và kinh doanh rộng mở do TPP mang lại.

Phát biểu tại diễn đàn, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng hoan nghênh sự hiện diện của đông đảo các doanh nghiệp, nhà đầu tư của hai nước; thông báo vắn tắt tình hình phát triển kinh tế và những nỗ lực của Việt Nam trong việc hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới những năm qua.

Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nhấn mạnh những cơ hội mà TPP đem lại cho Việt Nam và New Zealand khi cùng là hai nền kinh tế mang tính bổ trợ. New Zealand có nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như may mặc, da giày, đồ gỗ, nông sản nhiệt đới, thủy sản… trong khi Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu lớn một số mặt hàng như sữa, gỗ nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, kim loại, hóa chất, thiết bị, phụ tùng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và đặc biệt cho sản xuất hàng xuất khẩu dự kiến sẽ tăng mạnh.

Cùng với quan hệ chính trị được thắt chặt với các chuyến thăm lẫn nhau của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào tháng 3/2015 và chuyến thăm của Thủ tướng John Key vào tháng 7/2015, quan hệ thương mại hai nước thời gian qua cũng tăng trưởng vượt bậc. Kim ngạch xuất khẩu hai nước tăng từ 295 triệu USD năm 2009 lên 707 triệu USD năm 2015.

Trên diễn đàn đa phương, Việt Nam và New Zealand cùng tham gia Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN-Australia-New Zealand, Diễn đàn kinh tế châu Á-Thái Bình Dương và hai nước đang đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện. Hiện tiềm năng quan hệ kinh tế hai nước còn rất lớn và một tín hiệu đáng mừng là Hãng hàng không New Zealand dự kiến sẽ mở đường bay thẳng Auckland và thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2016.

Để các tập đoàn, doanh nghiệp New Zealand hiểu rõ về các cơ hội kinh doanh thương mại và đầu tư rộng mở với Việt Nam - một thành viên tích cực của TPP, bà Lê Hoàng Oanh - Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á-Thái Bình Dương (Bộ Công Thương), đã giới thiệu một số nét chính về môi trường kinh doanh và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Các tập đoàn lớn của hai nước cũng đã có những trao đổi kinh nghiệm và cơ hội đầu tư tại Việt Nam.

Phiên thảo luận trực tiếp tại diễn đàn với sự chủ trì của Bộ trưởng Công Thương Việt Nam, Bộ trưởng Thương mại New Zealand, Đại sứ Việt Nam và và Chủ tịch AZNBC diễn ra hết sức sôi nổi, các doanh nghiệp hai bên cùng bày tỏ quan tâm tới các cơ hội làm ăn mới cũng như các quy định của Việt Nam liên quan tới việc tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài làm ăn tại Việt Nam.

Kết thúc Diễn đàn, Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương Việt Nam đã ký một văn bản hợp tác và hai biên bản ghi nhớ với các đối tác New Zealand nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và tăng cường thông tin cho các doanh nghiệp cũng như tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp của mỗi nước tìm kiếm cơ hội kinh doanh.

Diễn đàn hợp tác Công Thương Việt Nam-New Zealand đã thành công tốt đẹp, góp phần tăng cường hiểu biết giữa doanh nghiệp hai nước, đón đầu cơ hội kinh doanh và đầu tư rộng mở do TPP mang lại cho mỗi nước./.

Vietnam+

Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ, Nhật Bản và các thành viên khác trong khối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tăng sau khi hiệp định này ...

Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ, Nhật Bản và các thành viên khác trong khối Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tăng sau khi hiệp định này chính thức được ký kết vào ngày 4/2. Hiện Mỹ và Nhật Bản là hai nước nhập khẩu tôm, cá ngừ lớn nhất của Việt Nam trong năm 2015, với tổng giá trị gần 1 tỷ USD. Dự báo, năm nay sẽ tăng khoảng 15% giá trị xuất khẩu vào hai thị trường này.

 

Chế biến tôm xuất khẩu tại Ninh Thuận. (Ảnh: Mạnh Linh/TTXVN)

Chuẩn bị cho thủy sản xuất khẩu

Ông Ngô Văn Ích, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, năm 2015 các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phải đương đầu với nhiều khó khăn và thách thức. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,7 tỷ USD, giảm gần 15% so với năm 2014, chưa bao giờ xuất khẩu cả 3 mặt hàng chính là tôm, cá tra và cá ngừ đồng loạt giảm.

Sự sụt giảm này chính là hồi chuông báo động để Hiệp hội phải nhìn lại và cùng nhau xây dựng chiến lược toàn diện trong bối cảnh cạnh tranh trong ngành thủy sản quốc tế.

Năm 2016, các Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu chính thức có hiệu lực, cộng với việc ký kết hiệp định TPP sẽ tạo thuận lợi để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản vào các thị trường này.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng thư ký VASEP lạc quan nhận định, từ trước đến nay, khi Việt Nam chưa tham gia các Hiệp định thương mại tự do, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng đã đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của các nước nhập khẩu. Chẳng hạn, xuất tôm vào thị trường Mỹ, các doanh nghiệp xuất khẩu phải làm theo tiêu chuẩn BAP (tiêu chuẩn thực hành thủy sản tốt nhất), ASC (tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý nuôi trồng thủy sản) , MSC CoC (tiêu chuẩn của Hội đồng quản lý biển) …

Do đó, khi TPP chính thức được hình thành, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam cũng sẽ sẵn sàng đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu. Đặc biệt, khi thuế suất sẽ giảm bằng 0% sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn nữa từ khâu nuôi trồng, chế biến cho đến xuất khẩu, mang lại giá trị kinh tế cao hơn.

Theo ông Nguyễn Phước Bửu Huy, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Chế biến và Xuất nhập khẩu thủy sản Cadovimex 2, công ty đã đầu tư cho dây chuyền chế biến, xuất khẩu, áp dụng BAP.

Công ty trang bị và mời các đơn vị từ Mỹ như Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm ( FDA ) sang đánh giá vùng nuôi, con giống, thức ăn và nhà máy chế biến, kiểm soát từ khâu đầu đến cuối. Ông Huy khẳng định, doanh nghiệp của ông đã sẵn sàng đáp ứng yêu cầu khắt khe của các bạn hàng đến từ Mỹ, Nhật Bản và các thị trường khó tính khác.

Phải nhìn nhận khách quan, thực tế hiện nay ở các tỉnh phía Nam rất ít doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản nắm bắt được đầy đủ thông tin thị trường và có kế hoạch đầu tư, sản xuất, chế biến thủy sản xuất khẩu bài bản như Công ty cổ phần Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Cadovimex 2.

Các ông Dương Ngọc Minh, Chủ tịch Ủy ban cá nước ngọt VASEP và ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Ủy ban Tôm VASEP kiến nghị, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần sâu sát hơn trong việc hoàn thiện chính sách phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.

Trước mắt, cần giải quyết các khó khăn về Chương trình thanh tra cá da trơn (Farm Bill) tại thị trường Mỹ; nhanh chóng trình Chính phủ ban hành Nghị định cá tra thay thế Nghị định số 36/2014/NĐ-CP để tránh gián đoạn xuất khẩu cá tra.

Đối với sản xuất tôm, Bộ cần có những giải pháp để hạ giá thành nuôi, tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong nuôi tôm thấp, tăng chất lượng con giống để có sản lượng ổn định, giá nguyên liệu ổn định.

Đồng hành cùng doanh nghiệp

Ông Nguyễn Phước Bửu Huy chia sẻ, để tránh rủi ro cao khi doanh nghiệp chỉ bán hàng cho một thị trường, phía doanh nghiệp cũng phải chuyển hướng sang nhiều thị trường, nhằm chia đều cơ cấu thị trường. Khi thị trường này có nhiều rào cản, gây khó cho xuất khẩu thì các thị trường khác bình ổn, giúp cho việc xuất khẩu thủy sản không ách tắc. Cách thức này vừa giúp doanh nghiệp linh động trong chế biến, có doanh số, vừa giúp cho nông dân lưu thông hàng hóa mà không bị ép giá, thiếu đầu ra như thời gian vừa qua.

Ông Trương Đình Hòe nhấn mạnh, chỉ có những rào cản kĩ thuật gây khó khăn trong một thời điểm nào đó, nhưng các doanh nghiệp cũng đã xoay sở để hàng hóa Việt Nam thâm nhập thị trường tốt.

Khi TPP có hiệu lực, Việt Nam tăng cường vị thế của mình với các quốc gia nhập khẩu, đối trọng cân bằng trong quá trình đàm phán giá bán mà không cần phải nhượng bộ như khoảng thời gian trước đây. Trong trường hợp có tranh chấp, các doanh nghiệp Việt Nam cũng tận dụng được lợi thế thành viên trong Hiệp định này để tranh chấp công bằng, các thành viên phải tuân thủ các quy tắc đã được sáng lập theo Hiệp định.

Ông Dương Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hùng Vương cho biết, bên cạnh việc đầu tư công nghệ cho quy trình chế biến và xuất khẩu, đầu tư để đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa cũng là một phần quan trọng trong Hiệp định TPP. Khi sản phẩm trong nước đạt chất lượng cao thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn và hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia thành viên trong Hiệp định không thể cạnh tranh với Việt Nam tại sân nhà.

Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ “mang chuông đi đánh xứ người” mà còn phải chăm sóc thật tốt người tiêu dùng nội địa thì ngành thủy sản mới có thể đứng vững.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát cho biết, Bộ sẽ tiếp tục đồng hành và sát cánh cùng các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản trước những khó khăn và thách thức của doanh nghiệp khi tham gia các Hiệp định thương mại tự do và TPP.

Bộ cũng đã trình Chính phủ dự thảo cuối cùng Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 36/2014/NĐ-CP và đang chờ ban hành. Về chương trình giám sát cá da trơn mà Bộ Nông nghiệp Mỹ vừa mới công bố, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cam kết sẽ để không bị gián đoạn xuất khẩu cá tra tại thị trường nhập khẩu lớn nhất này./.

Hồng Nhung

Vietnam+

Ngày 04/02, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Canada, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Australia, Mỹ, ...

Ngày 04/02, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm Canada, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Australia, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand.

* Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương chính thức được ký kết

Sau khi ký chính thức, các nước sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn Hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình. Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày nhận được thông báo sau cùng bằng văn bản về việc các Bên đã hoàn thành thủ tục pháp lý nội bộ.

Việt Nam đã ký xác thực lời văn Hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP. Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với Hiệp định TPP.

Hiệp định bao gồm 30 chương, đề cập không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước v..v.

Bộ Công Thương công bố toàn văn Hiệp định TPP bằng 3 thứ tiếng gồm tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã được các nước ký xác thực lời văn và có giá trị pháp lý như nhau cùng các thư trao đổi song phương giữa Việt Nam với một số nước TPP tại địa chỉ: http://tpp.moit.gov.vn/

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương cũng công bố bản dịch tiếng Việt do các Bộ, ngành có liên quan thực hiện./.

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 3/2 đã hoan nghênh việc ký kết một trong những thỏa thuận thương mại lớn nhất lịch sử, nói rằng Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể sẽ cho Mỹ lợi thế ...

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 3/2 đã hoan nghênh việc ký kết một trong những thỏa thuận thương mại lớn nhất lịch sử, nói rằng Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể sẽ cho Mỹ lợi thế hơn so với các nền kinh tế hàng đầu khác, cụ thể là Trung Quốc.

 

Tổng thống Mỹ Barack Obama. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Trong một tuyên bố, ông Obama nêu rõ: "TPP cho phép Mỹ - và không cho phép các nước như Trung Quốc - đề ra các luật chơi/ luật đi đường trong thế kỷ 21, vốn là đặc biệt quan trọng trong một khu vực năng động như châu Á-Thái Bình Dương."

Tuyên bố trên của ông Obama được đưa ra sau khi Bộ trưởng Thương mại và Kinh tế của 12 nước thành viên tham gia TPP; trong đó có Mỹ, đã chính thức ký vào văn bản này tại New Zealand, đánh dấu việc các nước chính thức hoàn tất toàn bộ quá trình đàm phán để có thể bắt đầu thủ tục phê chuẩn tại mỗi nước.

TPP là thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia (bao gồm: Canada, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Austrialia, Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam), được hình thành với mục tiêu chính là xóa bỏ các loại thuế quan và rào cản hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên.

Ngoài ra, TPP sẽ còn thống nhất nhiều luật lệ, quy tắc chung giữa các nước này, như: sở hữu trí tuệ, chất lượng thực phẩm, hay an toàn lao động…

Hiệp định bao gồm 30 chương và đề cập đến không chỉ các lĩnh vực truyền thống như hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà còn cả các vấn đề mới như thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng, doanh nghiệp nhà nước.

Một khi có hiệu lực, TPP sẽ trở thành khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới./.

Vietnam+

Đang tải dữ liệu...

Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng