Hiệp định TPP

“Theo quy định của Luật pháp nếu muốn trình Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ra Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước cần phải trình trước kỳ họp 30 ngày. Kết thúc bầu cử, Quốc hội khóa mới ...

“Theo quy định của Luật pháp nếu muốn trình Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ra Quốc hội phê chuẩn, Chủ tịch nước cần phải trình trước kỳ họp 30 ngày. Kết thúc bầu cử, Quốc hội khóa mới sẽ có kỳ họp đầu tiên từ sau tháng Bảy. Như vậy, Việt Nam có đủ thời gian để trình TPP ra quốc Hội ngay tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội.”

Buổi tiếp xúc doanh nghiệp Việt - Mỹ, ngày 23/5. (Ảnh: Vietnam+)

Thứ trưởng Bộ Công Thương, Trần Quốc Khánh khẳng định nội dung trên tại buổi tiếp xúc doanh nghiệp do Hiệp hội Thương mại Mỹ (AmCham) và Phòng Thương mại và Công Nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tối 23/5, nhân chuyến thăm chính thức của Tổng thống Mỹ Barack Obama đến Việt Nam.

Thứ trưởng cũng chia sẻ, lý do quan trọng nhất để Việt Nam đồng ý với các tiêu chuẩn cao của TPP là bởi nó tương đồng với những chuẩn mực mà Việt ​Nam đang muốn hướng tới.

Ông đưa ra ví dụ, “từ người dân Việt Nam cho đến Chính phủ đều mong muốn các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động ngày càng minh bạch, hiệu quả hơn và doanh nghiệp nhà nước trong TPP là phù hợp với triết lý quản lý hiện đại.

Công nhân dệt may Việt Nam. (Ảnh: Danh Lam/TTXVN)

Tất cả công dân Việt Nam đều mong muốn cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đạt được những thành quả to lớn. Như trong đời sống kinh doanh hàng ngày, các doanh nghiệp sẽ không gặp phải yêu cầu trái khoáy từ các cơ quan quản lý Nhà nước. Chính vì vậy, Việt Nam cũng đồng ý một chương đàm phán chống tham nhũng trong TPP”.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh nhấn mạnh, tham gia Hiệp định TPP, các hoạt động đầu tư và sản phẩm sản xuất ra ở Việt Nam sẽ có cơ hội tiếp cận thị trường hơn 600 triệu dân của các nước ASEAN, cũng như quyền tiếp cận với nhiều thị trường lớn của thế giới không phải chịu thuế nhập khẩu.

Bằng cách đó Việt Nam có thể trở thành địa chỉ hấp dẫn cả về đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, vì lý này Chính phủ Việt Nam sau khi trở thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới đặt ra mục tiêu cần tiếp tục đàm phán với một số thị trường lớn để tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước.

“Nếu Việt Nam tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mới, có chất lượng cao như TPP… sẽ giúp quốc gia cải thiện hơn nữa về môi trường thể chế, môi trường kinh doanh,” ông Khánh nhận định./.

Hạnh Nguyễn

Vietnam+

Việc đưa thuế nhập khẩu về 0% đối với một số chủng loại nông sản mà Mỹ và một số nước tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thế mạnh sẽ tạo sức ép cạnh tranh khá lớn cho Việt Nam, ...

Việc đưa thuế nhập khẩu về 0% đối với một số chủng loại nông sản mà Mỹ và một số nước tham gia Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thế mạnh sẽ tạo sức ép cạnh tranh khá lớn cho Việt Nam, theo tờ trình Chính phủ để chuẩn bị cho việc phê chuẩn TPP.

Trái cây nhập khẩu từ Mỹ được bày bán tại một siêu thị ở TPHCM. Ảnh minh hoạ: Thu Nguyệt

Theo tờ trình này, do Bộ Công Thương chuẩn bị vào cuối tháng 4-2016, bên cạnh những cơ hội, bộ này cũng nêu ra và phân tích một số thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải chủ động nỗ lực đổi mới trong nước để vượt qua, trong đó có thách thức về kinh tế, xã hội.

Cụ thể, Bộ Công Thương cho rằng, một số chủng loại nông sản mà Mỹ và một số thành viên khác trong TPP (Úc, New Zealand, Chi Lê) có thế mạnh, nổi bật là thịt gà, thịt heo, sẽ tạo sức ép cạnh tranh khá lớn khi thuế được đưa về 0%. Đây là những mặt hàng Việt Nam đã sản xuất được nhưng sức cạnh tranh còn yếu.

Tuy nhiên, Bộ Công Thương cũng cho rằng, với hai mặt hàng này Việt Nam bảo lưu được lộ trình thực hiện tương đối dài (với một số chủng loại thịt gà là trên 10 năm) – lộ trình này dài hơn nhiều so với cam kết mở cửa thị trường trong ASEAN vốn cũng rất cạnh tranh trong việc sản xuất một số loại thịt (Thái Lan xuất khẩu trung bình khoảng 4,5 tỉ đô la Mỹ thịt gà/năm).

Một số nông sản khác cũng sẽ gặp khó khăn, nhưng ở mức độ nhẹ hơn vì Việt Nam hiện vẫn phải nhập khẩu với số lượng lớn các sản phẩm này, nên doanh nghiệp trong nước cũng đã quen với cạnh tranh. Đó là sản phẩm sữa, đậu tương, bắp và nguyên liệu sản xuất thức ăn gia súc. Ngoài ra, trên thực tế, đối với sữa và thịt bò, Việt Nam cũng đã có cam kết mở cửa với Úc và New Zealand trong Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Úc-New Zealand.

Theo Bộ Công Thương, với bốn nhóm hàng nông nghiệp Việt Nam đang áp dụng hạn ngạch thuế quan thì việc tham gia TPP dự kiến không gây ra tác động lớn. Cụ thể, với đường, muối và trứng gia cầm, Việt Nam duy trì được hạn ngạch thuế quan với lượng tương tự như khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Với thuốc lá, Việt Nam chỉ mở cửa sau lộ trình 20 năm kể từ khi TPP có hiệu lực.

Theo Bộ Công Thương, để vượt qua thách thức, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp – chăn nuôi, Chính phủ sẽ phải hết sức nỗ lực, đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, trong đó đặc biệt coi trọng cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng khoa học – công nghệ,… để sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đủ sức đứng vững tại thị trường trong nước.

Ngoài ra, có một số sản phẩm công nghiệp mà các nước TPP có thế mạnh cũng được đánh giá là có thể gây khó khăn cho sản xuất của doanh nghiệp trong nước, như giấy, thép, ô tô. Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, có cơ sở để cho rằng sức ép cạnh tranh sẽ không lớn vì hiện tại và trong 10-15 năm nữa, sản phẩm của Việt Nam cũng vẫn chủ yếu hướng đến phân khúc thị trường trung bình trong khi sản phẩm các nước TPP thường hướng đến phân khúc thị trường cao cấp.

Với một số sản phẩm các nước TPP có sản xuất mà Việt Nam đang áp mức thuế nhập khẩu cao, việc hạ thuế về 0% chủ yếu sẽ gây giảm thu thuế nhập khẩu là chính, chứ không gây sức ép cạnh tranh, đó là bánh kẹo, chất tẩy rửa, đồ trang sức, sản phẩm kim loại (chủ yếu là đồ bếp), điều hòa không khí, đồ nội thất, xe mô tô phân khối lớn, rượu, thuốc lá.

Ngoài ra, việc cạnh tranh gia tăng khi tham gia TPP có thể làm một số doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu, rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản, kéo theo đó là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động. Tuy nhiên, theo Bộ Công Thương, do phần lớn các nền kinh tế trong TPP không cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, nên ngoại trừ một số sản phẩm nông nghiệp, dự kiến tác động này có tính cục bộ và quy mô không đáng kể, ngắn hạn.

Việt Nam cam kết trong TPP sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 66%% số dòng thuế ngay khi hiệp định này có hiệu lực và 86,5% số dòng thuế sau 3 năm từ khi TPP có hiệu lực. Các mặt hàng còn lại có lộ trình giảm thuế chủ yếu 5-10 năm. Đối với mặt hàng đặc biệt nhạy cảm, Việt Nam yêu cầu lộ trình trên 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan.

Chẳng hạn như, ô tô con dưới 3.000 phân khối, thịt gà, sắt thép có lộ trình 10 năm hoặc trên 10 năm, thịt heo có lộ trình 7-9 năm. Với ô tô đã qua sử dụng, Việt Nam áp hạn ngạch thuế quan, chỉ cho phép miễn thuế nhập khẩu cho một số lượng nhỏ (150 chiếc/năm). Cơ chế phân bổ hạn ngạch sẽ được thiết kế chặt chẽ để quản lý.

 

T.Thu

TBKTSG

Khi được đề nghị nêu tên các nước ASEAN mà họ dự định đặt trọng tâm đầu tư, 53,5% công ty Nhật được hỏi chọn Việt Nam...

Khi được đề nghị nêu tên các nước ASEAN mà họ dự định đặt trọng tâm đầu tư, 53,5% công ty Nhật được hỏi chọn Việt Nam...

 

Công nhân làm việc trong một nhà máy dệt may ở Việt Nam.

Với việc ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các doanh nghiệp sản xuất của Nhật Bản ngày càng chú trọng Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Việt Nam, với tư cách là một “công xưởng”.

Hãng tin Nikkei dẫn một cuộc thăm dò mới đây do Viện nghiên cứu Mizuho thực hiện cho thấy, khoảng 43,8% công ty sản xuất của Nhật được khảo sát ý kiến nói có kế hoạch dồn sức đầu tư vào ASEAN trong thời gian tới.

Tỷ lệ này tăng 2,3 điểm phần trăm so với cuộc thăm dò thực hiện vào năm ngoái, đồng thời đánh dấu năm thứ tư liên tiếp ASEAN dẫn đầu kết quả thăm dò.

Đây là cuộc khảo sát mà Mizuho tiến hành hồi tháng 2 năm nay, với đối tượng là các nhà sản xuất Nhật có giá trị vốn hóa từ 10 triệu Yên, tương đương 92.000 USD, trở lên. Cuộc khảo sát nhận được câu trả lời hợp lệ từ 1.100 công ty.

Kết quả khảo sát thể hiện rõ mối quan tâm của các doanh nghiệp Nhật đối với Việt Nam.

Khi được đề nghị nêu tên các nước ASEAN mà họ dự định đặt trọng tâm đầu tư, 53,5% công ty Nhật được hỏi chọn Việt Nam, tăng 4,9 điểm phần trăm so với năm ngoái.

Thái Lan - quốc gia nơi ngành công nghiệp ôtô đang tăng trưởng chậm lại, được 59,7% số công ty Nhật lựa chọn, nhưng tỷ lệ này đã giảm 2,2 điểm phần trăm so với năm 2015.

Mức độ quan tâm đối với Indonesia cũng giảm 4,7 điểm phần trăm, còn 41,5%.

Với động thái ký kết TPP vào tháng 2 năm nay, Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà sản xuất hàng dệt may và các sản phẩm khác để phục vụ cho xuất khẩu.

Khi được hỏi có kế hoạch mở rộng đầu tư ở đâu trong số 12 nước ký kết TPP, 12,8% công ty sản xuất của Nhật trong cuộc khảo sát chọn Việt Nam; 10,7% chọn Nhật Bản; và 4,9% chọn Mỹ.

Trong khi đó, các nhà sản xuất Nhật Bản đang tiếp tục rút khỏi Trung Quốc trong bối cảnh nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới giảm tốc. Chỉ 67,4% số nhà sản xuất Nhật được hỏi cho biết có cơ sở tại Trung Quốc, giảm 2 điểm phần trăm so với năm ngoái và đánh dấu năm thứ hai liên tiếp suy giảm.

An Huy

vneconomy

Ngày 12/5, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Hội thảo với chủ đề “Giải pháp cho nông dân khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” với sự tham gia của ...

Ngày 12/5, tại Hà Nội, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tổ chức Hội thảo với chủ đề “Giải pháp cho nông dân khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)” với sự tham gia của hơn 100 đại biểu là chuyên gia đến từ các bộ, ngành, các nhà khoa học và đại diện những hộ nông dân làm kinh tế tiêu biểu trên cả nước.

Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam Lều Vũ Điều nhấn mạnh, việc xây dựng một nền nông nghiệp bền vững, hiệu quả cao, tạo thu nhập ổn định và nâng cao đời sống cho người nông dân là mục tiêu hàng đầu và lâu dài của Hội Nông dân Việt Nam.

Trước những cơ hội và thách thức đặt ra trong quá trình hội nhập, hội thảo được tổ chức có ý nghĩa thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về tác động của TPP đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Từ đó tìm ra những giải pháp vượt qua khó khăn, giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh và đứng vững trên thị trường quốc tế.

Các đại biểu tham dự hội thảo nhận định, việc gia nhập TPP sẽ mở ra một thị trường tiêu thụ nông sản rộng lớn, đặc biệt thúc đẩy sự hợp tác, đầu tư của các nước thành viên vào Việt Nam, tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp Việt Nam tiếp cận được với ứng dụng công nghệ sản xuất mới nhằm nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, hơn 10 triệu hộ nông dân Việt Nam sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn do nền nông nghiệp nước ta vẫn hoạt động theo phương thức sản xuất nhỏ lẻ và lạc hậu.

Đây sẽ là đối tượng dễ bị “tổn thương” nhất do chưa được trang bị nhiều kiến thức dẫn tới năng lực cạnh tranh bị hạn chế. Các đại biểu cho rằng, dù Việt Nam có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp song đối với ngành chăn nuôi lại gặp nhiều bất lợi, vì chủ yếu sản phẩm chăn nuôi của các nước trên thế giới đều được sản xuất theo quy trình công nghiệp hiện đại nên có lợi thế cạnh tranh vượt trội.

Trước những thách thức đặt ra cho nền nông nghiệp Việt Nam, các đại biểu khẳng định, giải pháp đầu tiên và quan trọng nhất là phải tuyên truyền để người nông dân hiểu rõ những thời cơ, cũng như thách thức khi gia nhập TPP, từ đó thay đổi tư duy về sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, Hội Nông dân các cấp phải trở thành cầu nối liên kết nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi với các doanh nghiệp để đưa sản phẩm ra thị trường. Đó cũng là một cách bảo vệ lợi ích chính đáng của người nông dân thông qua quan hệ hợp đồng.

Để nâng cao trình độ, kiến thức trong sản xuất nông nghiệp, các đại biểu đề nghị Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cần tổ chức thêm nhiều chương trình tập huấn tại các địa phương, đưa nông dân sản xuất giỏi đi học tập, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp ở các nước tiên tiến. Từ đó phát hiện, nhân rộng những mô hình làm kinh tế tiêu biểu, khuyến khích hộ sản xuất, kinh doanh giỏi giúp đỡ các hộ nghèo cùng vươn lên, vượt qua khó khăn trong sản xuất…

Ông JongHa Bae, Trưởng đại diện Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp quốc (FAO) tại Việt Nam cho biết, những nghiên cứu trước đây cho thấy, Việt Nam sẽ là quốc gia được hưởng lợi lớn nhất so với 11 thành viên khác khi gia nhập TPP.

Tuy nhiên, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các nhà sản xuất nước ngoài khi hàng rào thuế quan và phi thuế quan được giảm bớt và loại bỏ. Để xác định những giải pháp hữu hiệu cho người nông dân Việt Nam, đại diện FAO khẳng định đầu tiên cần phải thiết lập cơ chế ưu tiên để thu hút tư nhân đầu tư vào phát triển nông nghiệp nhằm cải thiện việc phát triển nguồn vốn, xã hội và con người.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần trao quyền và tự chịu trách nhiệm của các cấp chính quyền, từ đó nâng cao chất lượng an toàn thực phẩm thông qua tăng cường các khung, khuôn khổ về thể chế, xây dựng năng lực cạnh tranh cho người nông dân trong quá trình hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế./.

Đỗ Bình

Vietnam+

Hàng hóa thông qua các cảng biển có thể cầu vượt cung trong những năm tới từ tác động của TPP và các hiệp định thương mại tự do. Đây là thời cơ để doanh nghiệp (DN) Việt Nam có tiềm lực mạnh rót vốn ...

Hàng hóa thông qua các cảng biển có thể cầu vượt cung trong những năm tới từ tác động của TPP và các hiệp định thương mại tự do. Đây là thời cơ để doanh nghiệp (DN) Việt Nam có tiềm lực mạnh rót vốn đầu tư vào khai thác cảng biển và logistics.

Hàng hóa thông qua các cảng biển của Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng từ 8 - 9% và nhu cầu có thể vượt cung vào năm 2018 tại các cảng ở khu vực phía Bắc. Ảnh Internet

Tối ưu hạ tầng logistics

Ông Nestor Sherbey, chuyên gia tư vấn của Liên minh Tạo thuận lợi thương mại Việt Nam (VTFA) cho biết, hoạt động của logistics đang đóng một vai trò quan trọng trong việc thuận lợi hoá thương mại ở Việt Nam. Tuy nhiên, do chi phí logictics ở Việt Nam đang ở mức cao nhất trên thế giới, bằng 35% GDP, nên tính cạnh tranh về chi phí của các DN hoạt động trong lĩnh vực bị giảm đi đáng kể. Tỷ lệ này ở Mỹ, châu Âu và phần còn lại của thế giới chỉ lần lượt tương ứng là 9%, 13% và 15%.

Thống kê năm 2015 cho thấy, tổng chi phí vận chuyển, lưu kho bãi, thủ tục hải quan và các công việc giấy tờ khác ở Việt Nam lên tới 37 - 40 tỷ USD. Con số này vượt quá cả tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2014.

Chính vì vậy, theo ông Nestor Sherbey, việc xác định các đầu tư tối ưu về hạ tầng logistics là rất cần thiết để tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế đối với cả hàng hoá xuất khẩu cũng như nhập khẩu. Các chuỗi cung ứng toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng và đòi hỏi hàng hoá luôn “sẵn sàng trong kho”. Điều này mang đến cơ hội mới để ưu tiên đầu tư vào các trung tâm logistics tích hợp.

Theo báo cáo vĩ mô của Công ty CP Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), ngành logistics và dịch vụ cảng biển được dự đoán là sẽ hưởng lợi từ TPP nhờ nhu cầu xuất nhập khẩu tăng cao giữa khu vực châu Á và Bắc Mỹ khi TPP được thông qua.

Báo cáo này cho biết, hàng hóa thông qua các cảng biển của Việt Nam có thể duy trì tốc độ tăng trưởng từ 8 - 9% và nhu cầu có thể vượt cung vào năm 2018 tại các cảng ở khu vực phía Bắc. 

Đầu tư đón đầu cơ hội

Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (TCSG), hiện đang chiếm 50% thị phần khai thác cảng container trong nước, cho biết, đang có những sự đầu tư cần thiết thời gian gần đây để đón đầu cơ hội mà TPP mang lại.

Ngành logistics và dịch vụ cảng biển được dự đoán là sẽ hưởng lợi từ TPP nhờ nhu cầu xuất nhập khẩu tăng cao giữa khu vực châu Á và Bắc Mỹ khi TPP được thông qua.

Theo ông Trần Khánh Hoàng, Phó Tổng giám đốc TCSG, trong tháng 5/2016, TCSG sẽ khởi công xây dựng Dự án xây dựng Cảng container quốc tế Hải Phòng. Đây là dự án cảng container nước sâu đầu tiên tại khu vực miền Bắc nhằm phục vụ tối ưu cho hoạt động xuất nhập khẩu.

Còn tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, dù không phải là DN chuyên về khai thác cảng biển, nhưng mới đây Công ty CP Ô tô Trường Hải (Thaco) và các đối tác đã quyết định rót số vốn lớn để đầu tư mở rộng cảng Chu Lai - Trường Hải (tỉnh Quảng Nam). Mục đích chính là nhằm lập tuyến vận tải biển trực tiếp từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc về Chu Lai để Thaco giảm giá thành vận chuyển, tiết kiệm thời gian, nâng cao năng lực logistics cho miền Trung.

Theo giới chuyên gia, khu vực miền Trung đã được định hướng sẽ phát triển thành một trung tâm kinh tế biển mạnh và là cầu nối quan trọng để trung chuyển hàng hóa cho các tỉnh Tây Nguyên, vùng Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và Đông Bắc Thái Lan thông qua Hành lang kinh tế Đông Tây.

Vào tháng 3/2016 vừa qua, cũng chính TCSG đã đầu tư, hoàn thành giai đoạn 1 Cảng nước sâu Tân Cảng - Petro Cam Ranh và đưa vào hoạt động nhằm kết nối chặt chẽ với chuỗi cung ứng dịch vụ cảng biển, logistics và vận tải biển nội địa ở khu vực Nam Trung Bộ.

Riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, gần đây, phía TCSG đã tiên phong phát triển hệ thống 8 cảng trực thuộc và liên kết trong khu vực. Các cảng này đều nằm ở các vị trí kế cận các khu công nghiệp trọng điểm và tạo thuận lợi tối đa cho khách hàng trong quá trình xuất, nhập hàng hóa.

Ông Trần Khánh Hoàng nhận định, cốt lõi của logistics là vấn đề tối ưu hóa để kết nối đầu cuối với chi phí thấp nhất. Vì vậy, phía TCSG đang triển khai các phương án kết nối hệ thống 16 cảng, 6 ICD và depot với gần 5.000m cầu tàu, 190 ha bãi container và 550.000m2 kho hàng trên khắp các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Thông qua đó tạo dựng những gói giải pháp logistics nhằm hỗ trợ DN Việt Nam tận dụng được những lợi ích mà TPP mang lại.

Thế Vinh

Báo đấu thầu

Chính phủ Thái Lan dường như sẽ quyết định có tham gia vào hiệp định TPP trong tháng tới hay không, nhưng những người nông dân Thái Lan đe dọa biểu tình chống lại ý định trên của Chính phủ.

Chính phủ Thái Lan dường như sẽ quyết định có tham gia vào hiệp định TPP trong tháng tới hay không, nhưng những người nông dân Thái Lan đe dọa biểu tình chống lại ý định trên của Chính phủ.

Một cuộc biểu tình chống lại hiệp định TPP ở Thái Lan

Thứ trưởng Thương mại Thái Lan Winichai Chaemchaeng cho biết rằng bộ này đã sẵn sàng đề xuất một bản nghiên cứu về tác động của TPP, cả về mặt lợi và hại, lên Ủy ban Chính sách Kinh tế Quốc tế do Thủ tướng Prayut Chan-o-cha đứng đầu.

Bộ này cũng đã đề xuất một ủy ban nghiên cứu về TPP gồm các cơ quan đại diện cho cả phía nhà nước và phía tư nhân như Bộ Nông nghiệp, Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Liên đoàn Công nghiệp Thái Lan và Phòng Thương mại Thái Lan.

“Nếu như Ủy ban Chính sách Kinh tế Quốc tế quyết định Thái Lan nên gia nhập hiệp định này, bước tiếp theo sẽ là thành lập các kênh làm việc để nghiên cứu về các biện pháp ứng phó với tác động trong từng lĩnh vực,” ông Winichai nói. “Sau đó các cơ quan chính quyền sẽ bắt đầu đàm phán với 12 quốc gia thành viên TPP để tìm kiếm sự ủng hộ của họ.”

Mười hai nước thành viên TPP chiếm khoảng 40% kim ngạch thương mại quốc tế của Thái Lan và 45% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Theo ông Winichai, nhiều nước TPP như Mỹ, Nhật Bản và Việt Nam ủng hộ Thái Lan gia nhập hiệp định bởi vì quốc gia này là một trong những chuỗi cung ứng quan trọng nhất trên thế giới.

Mặc dù vậy, ông nói: “Ngay cả khi Chính phủ quyết định tham gia vào TPP, cũng không có nghĩa rằng Thái Lan sẽ tự động chấp nhận.”

Sự phản ứng mạnh nhất sẽ đến từ ngành nông nghiệp. Tổ chức Nông dân Thái Lan đe dọa xuống đường biểu tình vào tháng Sáu nếu chính phủ quyết định gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ khởi xướng.

Theo Hội đồng Nông dân Quốc gia Thái Lan, việc tham gia TPP sẽ gây thiệt hại cho các trang trại. Tổ chức này tuyên bố khả năng chuyển từ chỉ trích TPP đến biểu tình đường phố. Chủ tịch Praphat Panyachatrak nói rằng nông nghiệp là khu vực đầu tiên chịu tác động tiêu cực khi gia nhập vào TPP do Hoa Kỳ lập ra.

“Khi tham gia vào TPP, an ninh lương thực và chủ quyền của đất nước sẽ bị ảnh hưởng,” ông Praphat Panyachatrak nói.

Dòng nông sản nước ngoài giá rẻ, không chịu thuế nhập khẩu ngay lập tức ảnh hưởng đến giá của sản phẩm tại thị trường trong nước và sẽ khiến các trang trại quy mô vừa và nhỏ phá sản, ông Panyachatrak nhận định.

Bảo Trâm

Diễn đàn doanh nghiệp

Một phần cam kết của Việt Nam trong TPP sẽ được áp dụng đối với các nước khác ngoài 11 thành viên TPP như với Nga, 28 nước thuộc Liên minh châu Âu và các nước thành viên ASEAN.

Một phần cam kết của Việt Nam trong TPP sẽ được áp dụng đối với các nước khác ngoài 11 thành viên TPP như với Nga, 28 nước thuộc Liên minh châu Âu và các nước thành viên ASEAN.

Ảnh minh họa

Đây là “điểm lưu ý” được lãnh đạo Bộ Tư pháp nêu rõ khi báo cáo Chính phủ tại Phiên họp thường kỳ tháng 4/2016 đang diễn ra về kết quả rà soát pháp luật và đánh giá tác động của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tới hệ thống pháp luật Việt Nam.

Cũng tại phiên họp này, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã trình bày tờ trình phê chuẩn Hiệp định TPP, trong đó đánh giá toàn diện tác động của TPP tới Việt Nam, nêu rõ những cơ hội và thách thức.

Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tư pháp và các bộ, ngành liên quan rà soát, đánh giá tác động của Hiệp định TPP đến hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam.

Ngay trong báo cáo, Bộ Tư pháp cho biết nhiều cam kết trong một số lĩnh vực của Hiệp định TPP đã đủ rõ, chi tiết, có thể áp dụng trực tiếp, bao gồm: Các biểu thuế, cam kết mở cửa thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư cụ thể.

Về mặt pháp lý, việc điều chỉnh pháp luật chỉ cần ở mức độ tương ứng để áp dụng cho 11 nước thành viên TPP. Tuy nhiên, bên cạnh phần lời văn và các phụ lục, Việt Nam đã có 35 thư song phương với các quốc gia thành viên TPP, trong đó ngoài việc làm rõ nội dung một số cam kết trong TPP thì cũng bổ sung thêm nghĩa vụ với Việt Nam ngoài các nghĩa vụ trong Hiệp định.

Đặc biệt, Bộ Tư pháp lưu ý rằng một số hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) và hiệp định thương mại khác mà Việt Nam đã hoặc sẽ ký kết có quy định nguyên tắc tối huệ quốc (MFN) tự động. Theo đó, một phần cam kết của Việt Nam trong TPP sẽ được áp dụng đối với các nước khác ngoài 11 thành viên TPP như với Nga, 28 nước thuộc Liên minh châu Âu và các nước thành viên ASEAN.

“Đây là cách tiếp cận có thể có tác động lớn vì các cam kết của Việt Nam tại TPP được nhân rộng cho khoảng 40 nước ngoài TPP hưởng và ngược lại. Như vậy, hệ quả tác động pháp lý cũng lớn hơn với Việt Nam”, Bộ Tư pháp nhận định.

Đến nay, đã có tổng cộng 194 văn bản quy phạm pháp luật được rà soát, bao gồm 86 luật, 14 pháp lệnh, 84 nghị định, 3 nghị quyết của Chính phủ và 7 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Ngoài ra, Bộ Tư pháp và các bộ, ngành đã rà soát bước đầu nhiều văn bản do các bộ, ngành ban hành gồm 57 thông tư và 10 quyết định.

Cần sửa đổi 10 luật, 22 nghị định

Tổng số văn bản được kiến nghị sửa đổi, bổ sung là 34 văn bản, gồm 10 luật, 22 nghị định, 2 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Chín văn bản được kiến nghị ban hành mới, gồm 1 luật, 7 nghị định và 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Một pháp lệnh được đề nghị bãi bỏ.

Ngoài ra, một số bộ, ngành có kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng Bộ Tư pháp cho rằng đây là những nội dung mà TPP chỉ quy định mang tính khuyến nghị hoặc có thể thực hiện được trên cơ sở giải thích, áp dụng linh hoạt pháp luật hiện hành hoặc có thể sử dụng các ngoại lệ quy định tại TPP. Do đó, Bộ Tư pháp không đưa các kiến nghị này vào danh mục.

Theo Bộ Tư pháp, số lượng văn bản được đề xuất sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành mới không nhiều, chủ yếu là các văn bản dưới luật. Trong đó, lĩnh vực sở hữu trí tuệ và lĩnh vực lao động đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật nhiều nhất.

Bộ Tư pháp khẳng định 44 văn bản quy phạm pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành mới để thực thi TPP là nằm trong tính toán của Chính phủ, tương đương với số lượng văn bản từ lần rà soát sơ bộ trước đây. Một số văn bản được kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới cũng đã được dự kiến trong Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ trong các năm 2016, 2017.

Bộ này nhận xét, TPP đề cao yếu tố bảo đảm thực thi và có quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp ở mức độ mạnh mẽ, toàn diện hơn các FTA mà Việt Nam đã ký kết với mục tiêu đề cao việc thực thi cam kết của các nước thành viên. Do vậy, việc tổ chức thực thi TPP trên thực tế sẽ là một thách thức lớn với Việt Nam, đặt ra các yêu cầu cao cho Việt Nam trong việc xử lý.

Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, khi Việt Nam tham gia TPP, “mặt thuận lợi là chủ yếu, còn mặt thách thức có thể kiểm soát được với những giải pháp chủ động, quyết liệt, phù hợp”. Bộ trưởng cho biết hiện các nước thành viên đang khẩn trương thực hiện các thủ tục phê chuẩn TPP. Chẳng hạn, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã tỏ rõ quyết tâm thúc đẩy Quốc hội nước này phê chuẩn TPP trước kỳ bầu cử.

Tại phiên họp, Chính phủ đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuẩn bị sớm trình Chính phủ, trình Chủ tịch nước, trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP theo đúng quy định của pháp luật.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu các bộ, ngành khẩn trương, nghiêm túc thực hiện các nội dung Việt Nam đã cam kết. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố tiếp tục rà soát, nghiên cứu đề xuất phương án điều chỉnh pháp luật, có tính đến phương án một văn bản sửa đổi nhiều văn bản. Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan xây dựng kế hoạch chuẩn bị triển khai Hiệp định, trình Chính phủ.

Việc sớm phê chuẩn Hiệp định TPP có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định quyết tâm chính trị cao của Việt Nam, thể hiện vai trò thành viên chủ động, tích cực trong TPP; góp phần thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hệ thống pháp luật trong nước để sẵn sàng thực thi hiệu quả các cam kết; đồng thời có đủ thời gian để các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội chuẩn bị, chủ động tham gia khi Hiệp định có hiệu lực.

Hà Chính

chính phủ

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 2-5 nói rằng các thỏa thuận thương mại trong khu vực do Trung Quốc dẫn đầu cho thấy sự cấp thiết của việc quốc hội phải phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình ...

Tổng thống Mỹ Barack Obama ngày 2-5 nói rằng các thỏa thuận thương mại trong khu vực do Trung Quốc dẫn đầu cho thấy sự cấp thiết của việc quốc hội phải phê chuẩn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tổng thống Mỹ Barack Obama - Ảnh: Reuters

Reuters cho biết ông Obama đang thúc đẩy để hoàn thành TPP trước khi ông rời nhiệm sở vào 20-1-2017 nhưng ông cần phải vượt qua những ý kiến phản đối hiệp định từ cả hai đảng Dân chủ của chính ông lẫn đảng Cộng hòa.

Nhiều cử tri lo lắng tác động của hiệp định thương mại đối với việc làm và môi trường vốn được nhấn mạnh trong chiến dịch tranh cử của ứng cử viên đảng Cộng hòa Donald Trump cũng như ứng cử viên đảng Dân chủ - thượng nghị sĩ Bernie Sanders.

Trong bài xã luận đăng trên trang mạng của Washington Post, ông Obama cho biết ông hiểu những điều mà cử tri hoài nghi nhưng "xây dựng những bức tường để cô lập chúng ta với nền kinh tế toàn cầu" sẽ phản công lại nền kinh tế Mỹ.

"Trung Quốc đang đàm phán một thỏa thuận thương mại mà sẽ chia phần với chúng ta tại một số thị trường phát triển nhanh trên thế giới, khiến hàng hóa, doanh nghiệp và việc làm tại Mỹ đối mặt với các rủi ro cao" - ông Obama nhận định.

Ông Obama cũng đã đề cập đến Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực gồm 16 thành viên (RCEP) và lưu ý rằng Trung Quốc đang tìm cách hoàn tất thỏa thuận này vào cuối năm nay.

"Thỏa thuận thương mại đó sẽ không ngăn cản sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp do chính phủ tài trợ" - ông Obama nói. Ngoài ra tổng thống Mỹ cũng cho rằng thỏa thuận RCEP thiếu sự bảo vệ sở hữu trí tuệ, quy định lao động và môi trường.

Ông Obama đã lên kế hoạch cho một chuyến thăm đến các đối tác TPP cuối tháng này là Nhật và Việt Nam. Ông Obama lập luận rằng TPP sẽ cho phép Mỹ thể hiện vai trò đối với thương mại tại châu Á.

Anh Thư

Tuổi trẻ

Sau 10 năm thực hiện Luật sở hữu trí tuệ từ 2006 đến hết năm 2015, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tiến hành thanh tra và xử phạt các doanh nghiệp tổng cộng hơn 8,6 tỉ đồng vì dùng phần mềm ...

Sau 10 năm thực hiện Luật sở hữu trí tuệ từ 2006 đến hết năm 2015, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tiến hành thanh tra và xử phạt các doanh nghiệp tổng cộng hơn 8,6 tỉ đồng vì dùng phần mềm không có bản quyền. Tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm còn lớn, chiếm 81%, đang là một trong những rào cản, gây khó khăn và bất lợi cho doanh nghiệp khi Việt Nam tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP.

Quang cảnh buổi tọa đàm ngày 20-4. Ảnh: Vân Ly

Thông tin trên được ghi nhận tại tọa đàm “Doanh nghiệp Việt Nam và một số vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong TPP” diễn ra vào ngày 20-4 do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh Phần mềm BSA tổ chức.

Phát biểu tại tọa đàm, ông Trần Văn Minh, Phó Chánh thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, cho biết từ năm 2006 đến 2015, các cơ quan chức năng đã tiến hành thanh tra đột xuất gần 550 doanh nghiệp trên cả nước và kiểm tra hơn 27.600 máy tính. Khi phát hiện hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền, thanh tra Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đã lập biên bản và ban hành gần 500 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền nộp vào ngân sách nhà nước hơn là 8,6 tỉ đồng, chuyển một hồ sơ sang cơ quan điều tra.

Ông Minh cho biết, sau khi được kiểm tra, các công ty đã chấm dứt hành vi sử dụng phần mềm không có bản quyền, bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu phần mềm, mua bản quyền phần mềm máy tính hợp pháp phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

“Hiện giá trị mua bản quyền phần mềm máy tính của các doanh nghiệp Việt mỗi năm lên tới hàng chục triệu đô la Mỹ và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao,” ông Minh nói.

Theo đánh giá của Liên minh Phần mềm BSA, năm 2004 tỉ lệ vi phạm bản quyền phần mềm máy tính tại Việt Nam là 92% thì đến năm 2014 đã giảm còn 81%.

Vi phạm bản quyền sẽ gây khó cho DN khi tham gia TPP

Vẫn theo ông Minh, ngày 4-2-2016, Việt Nam đã ký tham gia hiệp định TPP, theo đó, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực được đặc biệt quan tâm. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt hơn các điều luật về sở hữu trí tuệ. Trong lĩnh vực phần mềm máy tính, những năm gần đây, mặc dù đã có nhiều cải thiện đáng kể, nhưng tình trạng xâm phạm bản quyền phần mềm vẫn còn tương đối phổ biến.

Ông Minh nói: “Doanh nghiệp cần quan tâm hơn tới vấn đề sở hữu trí tuệ, có những bước chuẩn bị về tài chính, về nhân lực và về kỹ thuật để khi hội nhập TPP, tránh được các rắc rối khiếu kiện có thể xảy ra.”

Phát biểu tại cuộc tọa đàm nêu trên, ông John Hill, Tham tán Kinh tế từ Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam sẽ có lợi lớn khi gia nhập TPP song cũng có những bất lợi. TPP đề ra những tiêu chuẩn rất cao về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Những tiêu chuẩn này còn chặt chẽ hơn cả quy định của WTO, mà nếu không tuân thủ thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

Ông Hill cho rằng tỉ lệ cài đặt phần mềm không có bản quyền của Việt Nam hiện 81% là một trong những mức cao nhất trên thế giới, cao nhất trong 12 nước thành viên TPP. Đây là vấn đề khó khăn lớn đối với doanh nghiệp trong nước vì không những họ không tận dụng được lợi thế từ TPP mà còn vướng vào các vấn đề pháp lý.

Số vụ kiện vi phạm bản quyền có thể tăng cao khi TPP có hiệu lực. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam dường như còn chưa nhận thức được đầy đủ hoặc còn chưa quan tâm đến vấn đề quyền sở hữu trí tuệ, ông nói. Ông John Hill cho biết ông đồng tình với cảnh báo của Bộ Khoa học-Công nghệ rằng doanh nghiệp Việt Nam có thể đi đến phá sản, giải thể nếu không chuẩn bị kỹ lưỡng để đáp ứng các quy định về quyền sở hữu trí tuệ của TPP.

Ông Hill cho rằng các nền kinh tế hiện đại được xây dựng trên nền tảng đổi mới, sáng tạo. Đổi mới, sáng tạo lại được xây dựng trên nền tảng quyền sở hữu trí tuệ. Theo thống kê trong Báo cáo Năng lực cạnh tranh Toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới: Thụy Sỹ đứng thứ 3 về bảo hộ sở hữu trí tuệ - nước này xếp hạng 1 về Chỉ số Năng lực cạnh tranh Toàn cầu. Hai tỉ lệ tương tự này của Phần Lan là 1 và 8 còn Singapore là 4 và 2. Đây là những quốc gia không chỉ thu hút được đầu tư FDI nhờ có cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ mạnh mà còn vươn lên trở thành những trung tâm đổi mới, sáng tạo.

“Chúng tôi hiểu được những khó khăn phía trước, hoan nghênh Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu lớn cũng như cam kết vượt qua những khó khăn đó. Việt Nam cần biết rằng Hoa Kỳ cũng như cộng đồng quốc tế luôn mong muốn hợp tác và luôn sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ,” ông John Hill nói.

Vân Ly

TBKTSG

Theo tính toán, sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD/năm.

Theo tính toán, sau khi Hiệp định TPP có hiệu lực, hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ có thể tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD/năm.

Theo ông Lê Tiến Trường - Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) - hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ hiện đang chịu thuế suất 17,5%, nhưng khi TPP có hiệu lực, 73% dòng thuế sẽ về 0%. Nếu tính theo kim ngạch hiện nay, hàng dệt may xuất khẩu sang nước này có khả năng tiết kiệm được 64% tiền thuế, tương đương 1-1,1 tỷ USD.

Bên cạnh những con số hấp dẫn từ thị trường Mỹ, DN dệt may trong nước cũng kỳ vọng không kém vào các thị trường mới như: Canada, Autralia, Peru… Riêng với Canada, ngay từ năm đầu tiên TPP có hiệu lực, 42% thuế xuất khẩu vào thị trường này sẽ về 0%, đến năm thứ 4 là 57,1%. Trong khi đó, hàng dệt may của Việt Nam hiện chỉ chiếm khoảng 2% thị phần tại Canada. Vì vậy, cơ hội mở rộng thị trường rất lớn.

Quy tắc xuất xứ từ sợi vẫn được coi là trở ngại lớn của ngành Dệt may trong việc tận dụng ưu đãi thuế quan. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia kinh tế, khi quy mô xuất khẩu chưa đủ lớn, việc đầu tư cho sản xuất nguyên phụ liệu khó khả thi. Thậm chí, với kim ngạch xuất khẩu đạt gần 30 tỷ USD, lượng vải sử dụng khoảng 15 tỷ USD hiện nay, vẫn chưa đủ sức tạo ra các nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu có khả năng cạnh tranh về giá với nguyên liệu từ Trung Quốc.

Ông Lê Tiến Trường cho rằng, bài toán kinh tế trong đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu mặc dù rất đáng cân nhắc, nhưng vẫn cần có tỷ lệ nguyên liệu nội địa nhất định để đảm sức cạnh tranh của sản phẩm. Bản thân Vinatex từ năm 2005 đến nay đã triển khai nhiều dự án đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu, nhờ đó tỷ lệ nội địa hóa đã tăng từ 20% lên 50% năm 2015. Tập đoàn cũng dự kiến, khi TPP có hiệu lực ngay những năm đầu có thể chủ động khoảng 60% nguyên phụ liệu.

Nguồn cung nguyên liệu thiếu hụt cho phép DN mua một số nguyên liệu khó sản xuất, nhu cầu sử dụng ít tại các quốc gia ngoài khối mà vẫn được hưởng ưu đãi. Trong 194 dòng nguyên liệu đã được quy định có 8 dòng tạm thời áp dụng 5 năm, còn lại 186 dòng là vĩnh viễn.  Việt Nam cũng có 3 mặt hàng áp dụng quy tắc xuất xứ cắt và may gồm balo, túi xách; quần áo trẻ em từ vải polyester; áo ngực nữ. Ngoài ra, với mặt hàng quần sản xuất từ vải cotton, cứ mua 1m vải từ các nước trong TPP may quần nam và quần nữ sẽ được mua 0,75m và 1,25m vải ở các nước ngoài khối. Đây cũng là chương trình hết sức thuận lợi cho các DN may hàng cơ bản và tạo đà tăng trưởng nhanh cho các mặt hàng như áo sơ mi, quần.

Hiện đang có làn sóng đầu tư của DN Hoa Kỳ vào Việt Nam trong các ngành sản xuất vải, dệt nhuộm. Đây là cơ hội tốt cho DN trong nước tranh thủ đầu tư nước ngoài mở rộng sản xuất, chuyển hướng kinh doanh.

Việt Nga

báo công thương

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ mở cửa cho các tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính nội địa dưới nhiều hình thức.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ mở cửa cho các tổ chức nước ngoài tham gia vào thị trường tài chính nội địa dưới nhiều hình thức.

Ảnh chỉ có tính minh họa. (Ảnh: Trần Việt/TTXVN)

Đây là thông tin được cho biết tại hội thảo "Hiệp định TPP: Cơ hội và Thách thức đối với lĩnh vực tài chính và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam," tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/4.

Ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ chính sách Thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cho biết thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), các tổ chức tài chính nước ngoài được tham gia thị trường Việt Nam dưới những hình thức đa dạng như văn phòng đại diện, chi nhánh; ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài.

Đồng thời, TPP cũng mở ra cơ hội cho các tổ chức tài chính nước ngoài tham gia cổ phần vào các ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam với mức giới hạn tỷ lệ %.

Cụ thể, tổng tỷ lệ cổ phần của nước ngoài tại một ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam không vượt quá 30%; còn giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược là 20%. Ngoài ra, các tổ chức tài chính nước ngoài được thành lập công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.

Mặt khác, để các tổ chức tài chính của các nước thành viên có thể tiếp cận và hoạt động hiệu quả tại thị trường của nhau, TPP đã đưa ra những biện pháp minh bạch và pháp lý về các chính sách quy định hoạt động của các tổ chức tài chính thông qua công bố công khai luật trước khi ban hành.

Cơ quan quản lý của các nước thành viên TPP phải cam kết khung thời gian nhất định để phúc đáp nhà đầu tư các vấn đề liên quan trong quá trình cấp phép. Trong TPP, có các quy định cốt lõi của lĩnh vực dịch vụ tài chính gồm: đối xử quốc gia, mở cửa thị trường, thương mại qua biên giới, nhân sự cấp cao và hội đồng quản trị.

Cụ thể, liên quan đến vấn đề chuyển tiền và bảo vệ cán cân thanh toán, bà Vũ Minh Châu, Vụ hợp tác Quốc tế Ngân hàng Nhà nước, nhấn mạnh các nước thành viên TPP cam kết cho phép việc chuyển tiền và thanh toán liên quan tới khoản đầu tư cũng như các dịch vụ qua biên giới ra hoặc vào lãnh thổ một cách tự do, không chậm trễ, không hạn chế loại tiền tệ, theo tỷ giá thị trường tại thời điểm chuyển tiền.

Riêng đối với dịch vụ thanh toán điện tử cho các giao dịch bằng thẻ, Việt Nam cam kết mở cửa thị trường thẻ có mã quốc tế, cho phép nhà cung cấp nước ngoài cung cấp qua biên giới các dịch vụ thanh toán bù trừ (không mở cửa thị trường thẻ nội địa). Bên cạnh đó, Việt Nam bảo lưu quyền yêu cầu chuyển mạch thẻ qua một cổng thống nhất tại đơn vị chuyển mạch thẻ quốc gia.

Theo bà Trần Thị Hồng Hạnh, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, TPP sẽ tạo ra triển vọng cho ngành thương mại Việt Nam mức tăng trưởng mạnh mẽ, mở ra cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam đồng hành hỗ trợ vốn, dịch vụ cho doanh nghiệp xuất khẩu trong tương lại.

Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng trưởng tích cực, tại thuận lợi cho hệ thống ngân hàng tăng cường thanh khoản và gia tăng cơ hội kinh doanh.

Ngoài ra, hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ có điều kiện tiếp cận với các nguồn vốn ủy thác trên thế giới với chi phí thấp hơn do vị thế của Việt Nam được cải thiện nhờ TPP. Theo đó, Việt Nam có cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ và năng lực quản lý điều hành cao vào ngành ngân hàng.

Đặc biệt, việc tham gia sâu rộng của các nhà đầu tư ngoại mang lại điều kiện mở rộng hợp tác, nâng cao năng lực quản trị và tài chính cho các ngân hàng nội địa và đây là cơ sở để phát triển ngành ngân hàng Việt Nam./.

Mỹ Phương

Vietnam+

Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt...

Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt...

Ảnh: Hữu Khoa

Phải tạo liên kết với doanh nghiệp có vốn nước ngoài. Ưu đãi nào cũng kèm theo điều kiện mà nếu không tuân thủ tốt và tìm hiểu kỹ, VN khó tận dụng được...

 Ông Trương Đình Tuyển, nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại, đã khẳng định như vậy tại hội nghị “TPP: cơ hội và thách thức trong kinh doanh tại VN” diễn ra tại TP.HCM ngày 8-4.

Ưu đãi nào cũng kèm theo điều kiện, mà nếu không tuân thủ tốt và tìm hiểu kỹ, VN khó tận dụng được"

Ông Trương Đình Tuyển (nguyên bộ trưởng Bộ Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ trong đàm phán TPP)

Theo ông Tuyển, hơn 80% mặt hàng giày dép VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế 0% ngay khi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực.

Trong lĩnh vực dệt may, TPP yêu cầu khắt khe các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ, nhưng cũng có những ngoại lệ cho VN chuẩn bị, cơ hội tăng trưởng mặt hàng thủy hải sản, đồ gỗ cũng rất lớn...

Ngoài ra, TPP và các hiệp định thương mại tự do (FTA) khác cũng đem lại cơ hội cho VN thu hút đầu tư, mở rộng xuất khẩu, tạo ra việc làm và thúc đẩy tăng trưởng. Theo tính toán, một khi TPP có hiệu lực, giá trị vốn đầu tư vào VN mỗi năm tăng 25-35%.

Tuy nhiên, nguồn vốn này chỉ thật sự phát huy hiệu quả khi VN tạo được kết nối, hợp tác giữa doanh nghiệp bản địa và doanh nghiệp nước ngoài.

Ông Phạm Xuân Hồng, chủ tịch Hội Dệt may thêu đan TP.HCM, thừa nhận nếu suôn sẻ, đến năm 2018 TPP chính thức có hiệu lực nhưng nhiều doanh nghiệp VN đang lo lắng với khoảng thời gian đó làm sao VN giải quyết được bài toán xuất xứ hàng hóa.

Những thay đổi của dệt may hiện chuyển động rất chậm, chỉ có hơn 20% nguyên phụ liệu xuất xứ từ VN. VN cần dòng vốn đầu tư FDI vào ngành dệt sợi để giải quyết một phần bài toán này bởi VN không thể khai thác được các lợi thế của TPP đem lại nếu vẫn tiếp tục nhập khẩu một lượng lớn nguyên phụ liệu từ nước ngoài, đặc biệt hơn 50% nhập từ Trung Quốc.

Theo bà Virginia Foote - chủ tịch và giám đốc điều hành Bay Global Strategies (Mỹ), sự thiếu hợp tác giữa doanh nghiệp VN và doanh nghiệp FDI là lý do làm khoảng cách doanh nghiệp hai bên ngày càng lớn, đặc biệt khi VN hội nhập sâu. VN cần đánh giá đúng vai trò vốn FDI để các khoản đầu tư này được rót nhiều vào doanh nghiệp trong nước, tạo sự lan tỏa trong công nghệ, sản xuất.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Thành, giám đốc Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho biết ưu thế của doanh nghiệp FDI ngày càng rõ, chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của VN, trong khi chưa có nhiều liên kết giữa hai khối doanh nghiệp bởi VN thiếu hẳn ngành công nghiệp hỗ trợ.

Đây là sự khác biệt lớn giữa VN với các nước trong khu vực ASEAN hay Trung Quốc. “Nếu không muốn nhảy từ bẫy thu nhập thấp sang bẫy thu nhập trung bình, VN cần có một nguồn lực tăng trưởng mới dựa vào sự trỗi dậy của các ngành nghề trong nước, có sự liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài” - ông Thành nhấn mạnh.

Tuy nhiên, ông Nestor Scherbey, cố vấn cấp cao Liên minh thuận lợi hóa thương mại VN (VTFA), cho rằng để tận dụng các ưu đãi thuế từ các FTA, trong đó có TPP mang lại, các công ty FDI sẽ phải xác định lại chuỗi cung ứng toàn cầu khi sản xuất hàng để xuất khẩu sang các thị trường TPP.

Điều này cũng mang đến cơ hội mới cho các doanh nghiệp VN để trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp FDI tại VN và các công ty toàn cầu khác trong chuỗi cung ứng toàn cầu của họ.

“Vấn đề là doanh nghiệp VN phải hành động từ bây giờ, không nên đợi đến thời điểm TPP có hiệu lực. Toàn văn TPP gồm 5.544 trang, khi in ra, tài liệu này cao gần 1m, nặng hơn 45kg. Do đó, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng không thể nhớ hết các nội dung của nó để tận dụng tốt” - ông Nestor Scherbey khuyến cáo./.

N.Bình

Tuổi trẻ

Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa chính thức thông báo cho Quốc hội Mỹ 6 điều luật dự kiến cần sửa đổi nhằm triển khai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) vừa chính thức thông báo cho Quốc hội Mỹ 6 điều luật dự kiến cần sửa đổi nhằm triển khai Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Đại diện thương mại Mỹ Michael Froman. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Trong số đó, chỉ có duy nhất một điều luật sửa đổi là mới so với các quy định được đặt ra trong các thỏa thuận thương mại tự do (FTA) mà Mỹ đã tham gia trước đó, liên quan tới cách tính phí đối với người sử dụng dịch vụ hải quan, với việc chuyển từ cách tính trên nguyên tắc theo giá hàng sang hệ thống bốn tầng, với các mức phí từ 30-500 USD tùy thuộc vào giá trị hàng hóa.

Theo thông cáo của USTR, bốn điều luật cần thay đổi khác liên quan tới thủ tục đối với nhà nhập khẩu về chất lượng hàng hóa theo tiêu chuẩn TPP và đây cũng chính là những thay đổi mà Mỹ cần thực hiện theo Thỏa thuận Tự do Thương mại (FTA) Mỹ-Chile ký kết hồi tháng 6/2003 và nằm trong danh sách các luật cần thay đổi mà Tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush đã đề nghị Quốc hội Mỹ vào ngày 3/7/2003.

Điều luật cần thay đổi còn lại để phù hợp với TPP là Mục 308 Đạo luật Hiệp định Thương mại 1979 sửa đổi, theo đó sẽ cho phép Tổng thống thực thi các cam kết của Mỹ về mua sắm công của chính phủ giúp cho các công ty của các nước thành viên TPP có cơ hội được đối xử như các công ty của Mỹ khi tham gia cạnh tranh các hợp đồng chính phủ liên bang.

Như vậy, để thực hiện điều này, Tổng thống có thể phải từ bỏ đặc quyền dành cho các công ty Mỹ theo Đạo luật về Mua sắm của Mỹ (Buy American Act). Sửa đổi này cũng có trong danh sách các luật Mỹ cần sửa đổi để triển khai FTA đã ký với Australia hồi tháng 5/2004 và đã được ông Bush trình lên Quốc hội ngày 2/7/2004.

Với danh sách đưa ra, USTR đã đáp ứng được thời hạn trước ngày 3/4 phải đệ trình Quốc hội Mỹ bản mô tả các Luật cần thay đổi để thực thi TPP và đây là một trong các bước thủ tục mà USTR phải thực hiện theo Luật về Quyền Đàm phán nhanh (TPA) thông qua năm 2015.

Các bước còn lại cần hoàn tất để chuẩn bị cho việc bỏ phiếu phê chuẩn về TPP tại Quốc hội Mỹ bao gồm:

Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ (USITC) ra báo cáo đánh giá tác động tổng thể của TPP tới nền kinh tế Mỹ, dự kiến vào ngày 18/5/2016.

Trong vòng 30 ngày tiếp đó, Tổng thống đệ trình Quốc hội bản sao văn bản thỏa thuận cuối cùng của TPP cùng dự thảo Tuyên bố về hành động của Chính quyền (SAA) nhằm triển khai TPP và kế hoạch thực thi TPP; trình Ủy ban Ngân sách và Tài chính Hạ viện và Ủy ban Tài chính Thượng viện báo cáo đánh giá tác động của TPP tới lao động Mỹ, báo cáo về quyền của người lao động tại Mỹ và các đối tác FTA và báo cáo về đánh giá tác động tới môi trường.

Ủy ban Ngân sách và Tài chính Hạ viện và Ủy ban Tài chính Thượng viện xem xét dự luật triển khai TPP mà Chính quyền trình Quốc hội.

Tổng thống đệ trình dự thảo cuối cùng Luật triển khai TPP cùng bản chụp thỏa thuận cuối cùng, SAA và các “thông tin hỗ trợ” (bao gồm tài liệu giải thích cách thức luật được triển khai, đề xuất các hành động của chính phủ và tài liệu viện dẫn các lý do mà tổng thống cho rằng cần thực thi TPP) tới Thượng viện và Hạ viện trong một ngày mà cả Thượng viện và Hạ viện đều nhóm họp.

Quốc hội Mỹ sẽ xem xét việc thông qua TPP trong vòng 90 ngày.

Chính quyền Tổng thống Barack Obama tuyên bố hợp tác chặt chẽ với Quốc hội trong việc lựa chọn thời điểm phù hợp để xem xét TPP và các thông tin cho đến thời điểm này cho thấy nhiều khả năng Quốc hội Mỹ chỉ xem xét TPP sau cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào tháng 11 tới./.

Đoàn Hùng

vietnam+

Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia Mustapa Mohamed nhận định Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể thất bại nếu ứng cử viên Đảng Cộng hòa Donald Trump trở thành Tổng ...

Bộ trưởng Thương mại quốc tế và Công nghiệp Malaysia Mustapa Mohamed nhận định Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có thể thất bại nếu ứng cử viên Đảng Cộng hòa Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ.

 

Ứng viên đảng Cộng hòa Donald Trump phát biểu trong cuộc họp báo ở West Palm Beach, Florida, Mỹ ngày 15/3. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Phát biểu tại Quốc hội Malaysia ngày 21/3, ông Mustapa cho biết ông Trump đã chỉ trích thỏa thuận thương mại này trong chiến dịch chạy đua vào Nhà Trắng, nói rằng TPP sẽ gây tổn hại cho nền kinh tế Mỹ.

Theo ông Mustapa, Malaysia không muốn đưa ra dự đoán về những gì sẽ xảy ra ở Mỹ, nhưng nếu điều này xảy ra (ông Trump trở thành Tổng thống Mỹ tiếp theo) và Quốc hội Mỹ không ủng hộ TPP thì hiệp định này nhiều khả năng sẽ không được thông qua.

Một điều khoản trong TPP nêu bật sự cần thiết của việc Washington tham gia vào thỏa thuận thương mại này vì Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 20% sản lượng toàn cầu.

Ông Mustapa nói: "Trong các cuộc đàm phán TPP, chúng tôi cảm thấy rằng nếu không có Mỹ nó sẽ ít có ý nghĩa và kém hiệu quả"./.

Vietnam+

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về công tác chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về công tác chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Theo kết luận của Thủ tướng, Hiệp định TPP có ý nghĩa rất quan trọng đối với nước ta, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, là kết quả của một quá trình công phu kéo dài 7 năm. Trong suốt quá trình đàm phán Hiệp định TPP, Bộ Chính trị đã nghe báo cáo nhiều lần, Ban Chấp hành Trung ương nghe báo cáo hai lần, và Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã thông qua Nghị quyết cho phép Chính phủ ký Hiệp định TPP và giao Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn theo quy định của pháp luật, thể hiện sự nhất trí cao của Đảng về vấn đề này.

Cho đến nay, dù Hiệp định chưa có hiệu lực nhưng đã bắt đầu mang lại những lợi ích thiết thực cho Việt Nam: vị thế của Việt Nam được khẳng định trên trường quốc tế, đầu tư nước ngoài tăng, dự báo tác động tích cực đến tất cả các mặt kinh tế, chính trị và xã hội.

Việc sớm phê chuẩn Hiệp định TPP có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định quyết tâm chính trị cao của Việt Nam, thể hiện vai trò thành viên chủ động, tích cực trong TPP; góp phần thúc đẩy hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và hệ thống pháp luật trong nước để sẵn sàng thực thi hiệu quả các cam kết; đồng thời có đủ thời gian để các doanh nghiệp, người dân và toàn bộ xã hội chuẩn bị, chủ động tham gia khi Hiệp định có hiệu lực. Căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị, quy định của pháp luật và công tác chuẩn bị của các Bộ, ngành, Chính phủ đặt mục tiêu trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP vào Kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa XIV (dự kiến tháng 7/2016).

Để kịp trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP theo kế hoạch đặt ra Thủ tướng Chính phủ giao Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện việc rà soát, đánh giá tác động Hiệp định TPP đến hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam.

Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ trực tiếp chi đạo, tập trung nguồn lực gồm đội ngũ cán bộ pháp chế, cán bộ trực tiếp tham gia đàm phán Hiệp định TPP để hoàn thành nhiệm vụ rà soát, đánh giá trong lĩnh vực mình phụ trách, kiến nghị danh mục và lộ trình cụ thể các văn bản quy phạm pháp luật cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, gửi Bộ Tư pháp tổng hợp trước ngày 10/4 tới.

Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện Danh mục các Luật, Pháp lệnh, Nghị định cần phải sửa đổi, bổ sung, ban hành mới để phù hợp với các cam kết trong TPP, kiến nghị lộ trình cụ thể, ưu tiên các văn bản phải ban hành ngay để đảm bảo việc thực thi Hiệp định, trình Chính phủ trước ngày 20/4/2016.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành liên quan hoàn thiện Tờ trình phê chuẩn Hiệp định TPP theo đúng quy định của Hiến pháp 2013 và Luật ký kết, gia nhập và thực hiện Điều ước quốc tế, trình Chính phủ trước ngàv 20/4/2016./.

Tất cả các cơ hội với TPP hiện nay đều được xây dựng trên các giả định và nếu giả định đó thay đổi thì cơ hội của chúng ta sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP, theo Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt ...

Tất cả các cơ hội với TPP hiện nay đều được xây dựng trên các giả định và nếu giả định đó thay đổi thì cơ hội của chúng ta sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP, theo Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt Nam, thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh.

 

Đại diện doanh nghiệp đặt câu hỏi với ông Trần Quốc Khánh và các nhà lãnh đạo. Ảnh: HP

Bên cạnh yếu tố giả định đó, yếu tố thứ hai là cơ hội tự nó không biến thành lợi ích; cơ hội chỉ đến với ai dậy sớm và nỗ lực. Thứ ba, cơ hội có thể bị phân chia không đồng đều. Và thứ tư, cơ hội luôn đi kèm với thách thức, chừng nào doanh nghiệp thay đổi tâm thế của mình, dám chấp nhận cạnh tranh, rời khỏi vòng tay vỗ về của nhà nước mới có thể tồn tại.

Và cuối cùng, để nắm bắt cơ hội đó không chỉ doanh nghiệp phải làm việc mà cả Chính phủ cũng phải đặt mình vào môi trường cạnh tranh với các chính phủ khác về chất lượng thể chế và chất lượng điều hành.

Đây là những thông điệp quan trọng được ông Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn đám phán TPP của Việt Nam, chia sẻ với gần 300 đại diện doanh nghiệp và nhà đầu tư tại TPHCM sáng nay, 17-3, tại hội thảo “Đối thoại TPP: Cơ hội nào cho Doanh nghiệp tại Việt Nam ?” do Sở giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Công ty KPMG phối hợp tổ chức.

Chúng tôi xin lược ghi lại bài phát biểu của ông Khánh dưới đây:

TPP là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới

Trên cuộc chơi toàn cầu, TPP giờ không còn là mối quan tâm riêng của 12 nước thành viên mà các nước khác cũng tìm thời điểm thích hợp để tham gia. Mặc dù TPP còn phải chờ Quốc hội Việt Nam, lưỡng viện Hoa Kỳ và các cơ quan lập pháp của các nước thành viên phê chuẩn mới được đưa vào cuộc sống, nhưng các doanh nghiệp thì không thể chờ đến khi nước đến chân. Bạn không thể quản lý những gì mà bạn không hiểu rõ.

TPP cũng như các hiệp định thương mại tự do khác mà Việt Nam đang tham gia là những yếu tố chủ chốt để có thể thay đổi cuộc chơi.

TPP như các bạn biết, sẽ tạo ra khu vực thương mại tự do lớn nhất từ trước tới nay với 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Vì sao gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới? Bởi vì nó đặt ra không chỉ các vấn đề thương mại truyền thống như thương mại hợp tác và dịch vụ, mà nó còn đặt ra các vấn đề mới với các yếu tố thương mại mới xuất hiện đầu thế kỷ 21, như các vấn đề của doanh nghiệp nhà nước, thương mại điện tử, tạo thuận lợi cho dây chuyền cung ứng… trong đó có những vấn đề Việt Nam lần đầu tiên tham gia đàm phán như mở cửa thị trường mua sắm chính phủ, thương mại lao động cũng như môi trường, các vấn đề xã hội… Đây thực sự là hiệp định có phạm vi điều chỉnh rất mạnh và cam kết sâu hơn rất nhiều so với các khu vực thương mại tự do Việt Nam đã tham gia nên ta gọi là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Với Việt Nam thì sao?

Đây không phải lần đầu tiên Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới. Từ năm 1995, ta đã trở thành thành viên ASEAN và biết đến xóa bỏ thuế nhập khẩu cho các nước ASEAN chính là xóa bỏ hàng rào thuế cho chính đối thủ cạnh tranh của mình.

Năm 2000 ta ký hiệp định thương mại song phương BTA với Mỹ và lần đầu tiên ta biết đến thế nào là mở cửa thị trường dịch vụ cho bên ngoài. Tất cả các thương hiệu lớn nước ngoài sau đó đã có mặt ở Việt Nam như hệ quả của việc mở cửa thị trường dịch vụ và BTA. Và lần đầu tiên với BTA ta biết thế nào là cam kết về các quy tắc quản lý đầu tư quốc tế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Năm 2007 Việt Nam bước vào WTO và lần đầu tiên chúng ta biết thế nào là xóa bỏ cái gọi là giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu cũng như toàn bộ các hình thức hạn chế số lượng, định lượng với hàng xuất nhập khẩu như hạn ngạch...

Liệt kê ra như vậy để cho thấy, Việt Nam đã hội nhập từ 20 năm nay nên việc tham gia TPP không phải lần đầu tiên ta hội nhập kinh tế quốc tế. Với một hành trang 20 năm tôi nghĩ chúng ta đủ tự tin để bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế và Việt Nam không chỉ đàm phán TPP mà cả các hiệp định thương mại tự do quan trọng khác.

Vị thế của Việt Nam đã khác

Vị thế của Việt Nam đã khác từ trước khi đàm phán TPP và sau khi đàm phán tôi xin khẳng định vị thế của Việt Nam còn  cao hơn. Việt Nam được mời tham gia đàm phán TPP ngay từ đầu với tám nước đầu tiên (khởi động đàm phán TPP vào tháng 3-2010).

Vì sao họ mời Việt Nam? Vì điều đầu tiên họ tin vào Việt Nam nghiêm túc trong thực thi các cam kết quốc tế. Thứ hai Việt Nam là đất nước có dân số lớn, thời điểm đó có hơn 80 triệu dân hứa hẹn một thị trường có sức mua lớn, đem lại giá trị gia tăng lớn cho các nước khác. Thứ ba Việt Nam là nước duy nhất hiện nay trên thế giới có quan hệ thương mại tự do với tất cả các thị trường lớn nhất thế giới từ thị trường ASEAN hơn 600 triệu dân, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật, Canada, Úc và đặc biệt là Cộng hòa Liên bang Nga. Việt Nam là nước duy nhất kết nối với tất cả thị trường lớn đó bằng quan hệ thương mại tự do. Nếu như có một người nào đó đầu tư vào Việt Nam người đó sẽ có cơ hội kết nối với tất cả các thị trường đó. Điều đó giải thích sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đặt Việt Nam vào vị thế rất khác sau khi kết thúc đàm phán TPP.

Tiếp đó Việt Nam sẽ có điều kiện thực thi đường lối đối ngoại độc lập và tự chủ đặc biệt trong bối cảnh khu vực đang diễn ra cạnh tranh gay gắt. Giữ vững ổn định chính trị xã hội là yếu tố rất cần cho làm ăn. Nhà đầu tư đến với ta trong đó lý do quan trọng là kinh tế chính trị ổn định.

Nhiều cơ hội...

Khác với các lần trước, ở lần đàm phán hiệp định này (TPP) các doanh nghiệp đã đi theo song hành với đoàn đàm phán và tham gia góp ý rất sâu. Sự chủ động của họ là khác hẳn và lớn hơn các lần trước và khi đàm phán kết thúc rất nhiều người trong số họ đã sơ bộ nhận định vấn đề và lên kế hoạch cho mình.

Tuy nhiên, bản thân TPP - như các bạn đã biết - nó tạo nên xung lực mới cho xuất khẩu, gần như tất cả các mặt hàng đều hưởng lợi, với cơ hội xuất hiện trên tất cả các thị trường.

Cơ hội cũng đến như xung lực mới cho các nhà đầu tư nước ngoài. Vì như tôi đã nói, Việt Nam trở thành điểm giao thoa duy nhất kết nối với tất cả các thị trường nên lần này chắc chắn sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài sẽ tăng thêm và họ sẽ nhìn vào Việt Nam như địa điểm để họ tiếp cận các thị trường lớn. Tôi tin rằng đó là lý do một thế hệ nhà đầu tư nước ngoài khác sẽ đem chuỗi sản xuất của họ đến với chúng ta và Việt Nam trở thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất đó.

Rất nhiều các nhà đầu tư lớn đã di chuyển chuỗi sản xuất sang Việt Nam trong thời gian qua. Chúng ta có cơ hội để tham gia và trở thành người cung ứng của chuỗi đó. Có thể bây giờ doanh nghiệp Việt chưa nắm bắt cơ hội đó nhưng nếu nỗ lực ta sẽ nắm bắt được. Khi kinh tế tăng trưởng, đầu tư nước ngoài nhộn nhịp sẽ tạo cơ hội cho tất cả các ngành kinh tế khác. Bất kể ngành nào cũng có cơ hội. Đó là đặc điểm của làn sóng đầu tư lần này.

Cơ hội lớn khác từ TPP là sự đúc rút kinh nghiệm quản lý trên thế giới thông qua các thành tựu tốt nhất, trong rất nhiều lĩnh vực, được tổng kết thành các bộ quy tắc của TPP. Nếu Việt Nam có thể tuân thủ các bộ quy tắc này thì ta sẽ có điều kiện cải thiện vị thế quản trị quốc gia và đặc biệt là môi trường chính sách. Với tất cả các quy tắc yêu cầu sự công khai minh bạch, không phân biệt đối xử, hành xử khách quan của bộ máy nhà nước sẽ đem lại rất nhiều thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

… nhưng chỉ là giả định

Tuy nhiên, ông Trần Quốc Khánh “xin nhấn mạnh”. Thứ nhất, cơ hội chỉ là dựa trên các giả định. Các chuyên gia, báo chí đã nói nhiều về các thuận lợi và cho rằng Việt Nam sẽ tăng tốc trong những năm sau TPP. Họ đưa ra những dự báo hết sức tốt. Và cũng như WTO ta đã có sự hào hứng rất lớn rồi sau WTO vốn đầu tư gián tiếp ồ ạt đổ vào rất mạnh năm 2007. Nhưng họ không lường trước được hai sự kiện: khủng hoảng tài chính nổ ra 2008 và khủng hoảng nợ công tiếp theo đó. Chúng đã làm điều kiện thay đổi vì thế tôi mới nói cơ hội Việt Nam cất cánh là giả định. Cần tỉnh táo nhận thức rằng cơ hội đó được giả định với điều kiện nền kinh tế ổn định, đồng tiền của các quốc gia ổn định, một số nền kinh tế lớn không chậm tốc. Nếu nó thay đổi đi thì cơ hội của ta vì thế sẽ thay đổi theo dù ta đã có TPP rồi.

Thứ hai, cơ hội tự thân nó không biến thành lợi ích. Cơ hội chỉ đến với ai dậy sớm, nỗ lực. Ngành dệt may được cho rằng có cơ hội lớn nhưng sẽ vẫn có doanh nghiệp dệt may thất bại. Cơ hội tự thân nó không chuyển hóa thành lợi ích và tùy thuộc vào nỗ lực của từng chủ thể, từng doanh nghiệp có nắm bắt được nó hay không và chính phủ có tạo điều kiện cho doanh nghiệp nắm bắt tốt nó hay không.

Thứ ba, cơ hội có thể bị phân chia không đồng đều. Báo chí đã nói các công ty nước ngoài nắm bắt hết cơ hội của TPP. Nhưng đó là cuộc sống, người nào chuẩn bị tốt hơn sẽ nắm bắt tốt hơn và tôi thấy dường như doanh nghiệp nước ngoài đang có sự chuẩn bị tốt hơn.

Và cuối cùng cơ hội luôn đi kèm với thách thức. Thách thức với doanh nghiệp là sức ép cạnh tranh, thay đổi tâm thế của chính mình, dám chấp nhận cạnh tranh và và chủ động đổi mới sáng tạo. Rất nhiều doanh nghiệp nhà nước từ xưa tới nay yên ổn trong vòng tay vỗ về của nhà nước nhưng theo TPP sự vỗ về đó sẽ hết, họ sẽ phải tự thân vận động theo đúng cơ chế  thị trường, chừng nào họ chấp nhận cạnh tranh họ mới có thể tồn tại.

Vậy các doanh nghiệp hỏi tôi làm thế nào để nắm bắt cơ hội của TPP? Tôi không biết. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc chung tôi xin chia sẻ.

Thứ nhất, hội nhập cũng như tham gia TPP không phải việc riêng của chính phủ mà là sự nghiệp của chính các doanh nghiệp. Vì sao tôi nói vậy? Vì ta phải gạt bỏ suy nghĩ và câu hỏi Nhà nước sẽ làm gì để hỗ trợ chúng tôi? Thật sự tôi chưa bao giờ nhận được câu hỏi đó từ Eurocham và Amcham, hoặc các doanh nghiệp nước ngoài, mà tôi chỉ nhận được các câu hỏi của doanh nghiệp Việt Nam: Làm gì để phổ biến thông tin về TPP cho chúng tôi? tài liệu tuyên truyền của anh đâu? Sách hướng dẫn dâu? Tài liệu, sách hướng dẫn TPP đã có rồi, Nhà nước đã và chắc chắn sẽ làm, và có doanh nghiệp cầm sách trên tay rồi vẫn hỏi… Đó là sự khác biệt, nên điều đầu tiên chắc chắn mỗi doanh nghiệp phải chủ động. Ta phải bước vào thị trường với tâm thế cạnh tranh chủ động chứ không phải chấp nhận và hỏi Nhà nước ở đâu.

Tiếp theo xin đừng cạnh tranh chỉ bằng giá, đó là ta đang tự cắt vào thịt của mình, cạnh tranh kiểu đó không bao giờ bền mà hãy cạnh tranh bằng chữ tín và chất lượng, hãy để họ thấy rằng ta biết giữ chữ tín.

Điều nữa, hãy chú ý đến quản trị hiện đại. Nhiều công ty vẫn quản trị gia đình theo kiểu "công ty của tôi nên điều hành theo cách của tôi."

Doanh nghiệp hãy đi nhiều hơn để thấy bên ngoài họ đang làm thế nào. Đặc biệt với doanh nghiệp miền Bắc, chỉ cần vào đến TPHCM thôi để thấy một quán ăn ở TPHCM đã khác so vơi quán ăn miền Bắc thế nào.

Cuối cùng tôi xin nhấn mạnh ta đang bước vào kỷ nguyên của kinh tế số và hãy đi xa bằng kinh tế số. Ví dụ câu chuyện niêu cá kho của lãng Vũ Đại khi làm ra không bán được, sau đó khi sử dụng Facebook thì làm không đủ bán. Khi tôi sang Mỹ thì Google coi đây là câu chuyện thành công của Việt Nam. Internet tạo ra cơ hội lớn cho tất cả mọi người, hãy phát huy tinh thần khởi nghiệp theo hướng đó.

Chính phủ cũng phải cạnh tranh

Chính phủ có thể làm gì? Tôi không thể đại diện cho chính phủ, cá nhân tôi chỉ là trưởng đoàn đàm phán. Thủ tướng mới đây thông qua bài viết của mình đã đưa ra thông điệp rõ ràng rằng Chính phủ và Quốc hội sẽ có chương trình hành động cụ thể, sẽ coi trọng ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, nợ công và ngân sách.

Việc thứ hai Chính phủ có thể làm là liên tục hoàn thiện thể chế quản trị quốc gia và có tư duy mới, tức là thực hiện vai trò của nhà nước kiến tạo. Điều đó có ý nghĩa rất lớn, thay vì suy nghĩ làm thế nào quản lý thật chặt, tư duy điều hành của Chính phủ chuyển sang hướng làm thế nào để kiến tạo. Thay vì đưa ra quy định đảm bảo an toàn nhất cho nhà quản lý thì đưa ra quy định làm sao để tạo thuận lợi nhiều nhất cho doanh nghiệp và từ tư duy đó sẽ thay đổi cách làm của Chính phủ. Đó là công khai minh bạch, hành xử vô tư khách quan không phân biệt doanh nghiệp quốc doanh và ngoài quốc doanh, doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài.

Công khai mới chỉ là một vế của phương trình và vế kia là khi người dân và doanh nghiệp phản hồi lại dứt khoát anh phải trả lời chứ không phải nhận câu hỏi đó là để yên trong ngăn bàn. Nên việc Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng đang làm là chứng minh tư duy mới của Chính phủ, là tăng cường tương tác giữa chính phủ với doanh nghiệp. Một Chính phủ đang thay đổi tư duy, vậy nếu họ sẵn sàng lắng nghe thì chúng ta hãy lên tiếng.

Tôi không thể trả lời câu hỏi tôi có thể làm gì để giúp các bạn. Các bạn hãy nói với bí thư Đinh La Thăng điều đó và nói với chính phủ rằng hãy làm a, b, c để giúp chúng tôi nắm bắt cơ hội của TPP.

Trong bài viết của Thủ tướng mới đây có một ý rất quan trọng lần đầu tiên được Chính phủ khẳng định, là nếu đặt hàng hóa dịch vụ, doanh nghiệp vào môi trường cạnh tranh thì từ đây trở đi cũng phải đặt Chính phủ vào môi trường cạnh tranh. Chính phủ Việt Nam phải cạnh tranh với chính phủ của các nước trong khu vực về chất lượng thể chế và chất lượng điều hành.

Hồng Phúc

tbktsg

Ngày 7/3, Quốc hội Chile đã hoãn xem xét thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi những bất đồng trong liên minh cầm quyền Đa số mới.

Ngày 7/3, Quốc hội Chile đã hoãn xem xét thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bởi những bất đồng trong liên minh cầm quyền Đa số mới.

 

Ngoại trưởng Chile Heraldo Muñoz. (Nguồn: publimetro.cl)

Thượng nghị sỹ Alejandro Navarro, lãnh tụ của Phong trào xã hội mở rộng (MAS) trong liên minh cầm quyền, đã bác bỏ TPP và cho biết việc xem xét thông qua thỏa thuận nói trên sẽ được hoãn tới tháng 4.

Theo ông Navarro, vấn đề này chưa được thảo luận chính thức với các nghị s​ỹ trong liên minh cầm quyền cũng như các đảng trong Đa số mới và không có sự đồng thuận trong việc thông qua TPP. Bên cạnh đó, ông Navarro cũng bày tỏ quan ngại trước khả năng TPP sẽ tác có những tác động tiêu cực tới các mối quan hệ thương mại của Chile.

Trong khi đó, Ngoại trưởng Chile Heraldo Muñoz khẳng định những điều khoản ký kết trong TPP liên quan tới bảo vệ bản quyền các sản phẩm sinh học sẽ tuân thủ luật pháp quốc gia, đồng thời cam kết giá thuốc sẽ không tăng do thỏa thuận đã ký.

Theo ông Muñoz, 1.600 sản phẩm sẽ được miễn thuế vào các thị trường các nước thành viên TPP, mà các thỏa thuận song phương không cho phép. Ngoài ra, 1.400 sản phẩm khác cũng có điều kiện thuận lợi để xuất khẩu.

Nhiều ý kiến ở Chile chỉ trích với việc ký kết TPP, Chile sẽ phải thông qua Công ước quốc tế về Bảo hộ giống cây trồng mới (1991) và Luật Monsanto, theo đó cho phép tư hữu hóa giống cây trồng, đồng thời khiến các tập quán nông nghiệp truyền thống trở thành bất hợp pháp, cũng như buộc Chile phải sửa đổi luật về môi trường và thuế quan, được sử dụng để kiểm soát hoạt động của các công ty đa quốc gia.

TPP là hiệp định thương mại tự do đa quốc gia, với sự tham gia của 12 nước, bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam./.

Vietnam+

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành ...

Theo bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành viên mới, cũng như cho phép thành viên hiện tại có thể rút khỏi Hiệp định. Thậm chí, cho phép cho phép sửa đổi các nội dụng của Hiệp định.

Nội dung của Hiệp định TPP có thể sửa đổi

Hiệp định TPP là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới giữa 12 nền kinh tế hai bờ Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Sau hơn 5 năm đàm phán, Hiệp định này đã hoàn tất đàm phán cuối năm 2015, được ký chính thức đầu năm 2016 và dự kiến sẽ có hiệu lực vào khoảng năm 2018.

Với phạm vi cam kết rộng, mức độ tự do hóa sâu, TPP chắc sẽ có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ thể chế kinh tế, cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam.

Chia sẻ về việc Hiệp định TPP có thể thay đổi trong tương lại hay không? bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO cho biết, Hiệp định TPP là một Hiệp định mở, cho phép kết nạp thêm thành viên mới, cũng như cho phép thành viên hiện tại có thể rút khỏi Hiệp định. Thậm chí, cho phép cho phép sửa đổi các nội dụng của Hiệp định.

Dệt may được nhận định sẽ hưởng lợi lớn từ Hiệp định TPP

Theo bà Trang, Hiệp định TPP cho phép kết nạp thêm thành viên mới là thành viên Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) hoặc bất kỳ nước/khu vực thuế quan độc lập nào nếu được các nước TPP đồng ý, với điều kiện là thành viên tương lai này chấp nhận tuân thủ tất cả các cam kết đã có trong TPP (bao gồm cả cam kết về thủ tục và điều kiện gia nhập) và được tất cả các thành viên TPP chấp nhận.

Riêng về việc rút khỏi Hiệp định, Giám đốc Trung tâm WTO cũng cho biết, nước thành viên nào nếu muốn rút khỏi Hiệp định thì chỉ cần thông báo bằng văn bản cho Cơ quan lưu chiểu (New Zealand), đồng thời thông báo cho tất cả các thành viên khác của Hiệp định về việc rút khỏi này. Việc rút khỏi sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày gửi thông báo đến New Zealand, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Và Hiệp định sẽ vẫn tiếp tục có hiệu lực với các thành viên còn lại.

Đối với việc sửa đổi, bổ sung nội dung Hiệp định TPP, đại diện Trung tâm WTO chia sẻ, các nội dung, cam kết trong TPP có thể được sửa đổi, nếu được sự đồng ý bằng văn bản của tất cả các thành viên. Nội dung sửa đổi sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày tất cả các thành viên thông báo đồng ý sửa đổi bằng văn bản cho New Zealand. Trong trường hợp một cam kết WTO mà TPP dẫn chiếu tới có sửa đổi thì, trừ khi có quy định khác trong Hiệp định, các thành viên sẽ tiến hành tham vấn xem có nên sửa đổi nội dung tương ứng trong Hiệp định hay không.

Trước những nội dụng này, bà Trang cũng lưu ý với doanh nghiệp, việc TPP có những thành viên nào có ý nghĩa đặc biệt trong quan trọng đối với các doanh nghiệp trong việc tận dụng các cơ hội của TPP, đặc biệt là liên quan tới thị trường và quy tắc xuất xứ. Cùng với đó, việc TPP thêm hoặc bớt thành viên, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp có cơ hội kinh doanh ưu tiên ở nhiều hơn hay ít hơn các thị trường. Số lượng các nước thành viên TPP cũng ảnh hưởng tới tình hình cạnh tranh của doanh nghiệp ở thị trường Việt Nam và các nước TPP.

“Do tính mở của mình, số lượng các thành viên TPP không cố định mà có thể thay đổi theo các thời điểm khác nhau. Vì vậy, doanh nghiệp cần chú ý theo dõi TPP có bao nhiêu thành viên, và đó là những nước nào để có kế hoạch kinh doanh phù hợp tận dụng TPP”, bà Trang lưu ý.

Doanh nghiệp cần quan tâm tới quy tắc xuất xứ hàng hóa trong TPP

Theo lãnh đạo Trung tâm WTO, trong thương mại quốc tế, quy tắc xuất xứ hàng hóa được sử dụng để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa. Trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA), quy tắc xuất xứ của hàng hóa được sử dụng để xác định xuất xứ của hàng hóa để cho hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA đó.

Thông tin của đại diện Trung tâm WTO cho biết, quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định TPP được sử dụng để xác định xem một sản phẩm hàng hóa nhất định có được coi là xuất xứ của TPP hay không, để được hưởng ưu đãi thuế quan theo TPP.

Cụ thể, quy tắc xuất xứ TPP yêu cầu các hàng hóa nhập khẩu để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định, thì phải được hình thành hoàn toàn từ các nước TPP hoặc được sản xuất từ các nguyên liệu và theo quy trình nhất định trong khu vực TPP. Hàng hóa không đáp ứng quy tắc xuất xứ TPP, sẽ không được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định này.

Quy tắc xuất xứ là điều kiện để hàng hóa có thể được hưởng ưu đãi thuế quan. Vì vậy, doanh nghiệp muốn hưởng ưu đãi thuế quan trong Hiệp định TPP, khi xuất hàng sang các thị trường TPP hay khi nhập khẩu hàng hóa về Việt Nam đều cần chú ý nghiên cứu và đáp ứng các quy tắc xuất xứ liên quan tới hàng hóa của mình.

Việc đáp ứng quy tắc xuất xứ phải thực hiện ngay từ đầu (ví dụ từ khâu tìm nguồn nguyên phụ liệu, thiết kế quy trình sản xuất…), nên doanh nghiệp phải quan tâm vấn đề này sớm để thu xếp đáp ứng, không nên để tới thời điểm xuất/nhập hàng hóa mới tìm hiểu”, Giám đốc Trung tâm WTO nêu lưu ý với doanh nghiệp.

Yến Nhi

vnmedia

Hãng thông tấn của Trung Quốc Tân Hoa Xã vừa có bài phân tích nhận định rằng thắng lợi vang dội của ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa và Bernie Sanders thuộc đảng Dân chủ trong cuộc bỏ ...

Hãng thông tấn của Trung Quốc Tân Hoa Xã vừa có bài phân tích nhận định rằng thắng lợi vang dội của ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa và Bernie Sanders thuộc đảng Dân chủ trong cuộc bỏ phiếu sơ bộ tại bang New Hampshire hôm 9/2 khiến con đường để Quốc hội Mỹ tiến tới phê chuẩn Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong năm nay “lắm chông gai hơn” với việc bùng nổ xu hướng bài thương mại tự do trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2016.

Ứng cử viên Donald Trump thuộc đảng Cộng hòa. (Nguồn: AP)

Một thời gian dài bị coi là các ứng cử viên đứng ngoài cuộc chơi của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, trong các cuộc bầu cử sơ bộ vừa qua, hai ông Trump và Sanders đã kịch liệt chỉ trích TPP giữa Mỹ và 11 nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Ông Sanders, Thượng nghị sỹ độc lập đến từ bang Vermont, một người kiên trì phản đối tự do thương mại quốc tế, đã tuyên bố sẽ không ký, đưa "thỏa thuận thương mại tự do thảm họa" này thành luật nếu được bầu làm Tổng thống của nước Mỹ.

Phát biểu trong cuộc vận động tranh cử tại tòa thị chính ở New Hampshire hôm 3/2, ông Sanders nói: "Tôi cho rằng đây là một sự tiếp nối các chính sách thương mại tồi. Tổng thống ủng hộ nó, nhưng tôi nhất quyết không ủng hộ."

Theo ông, TPP chủ yếu có lợi cho các tập đoàn và có thể "đẩy người lao động Mỹ ra ngoài đường."

Trong khi đó, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, đối thủ của ông Sanders trong cuộc đua giành quyền đề cử của đảng Dân chủ ra tranh cử tổng thống, cũng tái khẳng định hồi tuần trước rằng bà sẽ không ủng hộ TPP và sẽ tìm cách thay đổi hiệp định thương mại này nếu đắc cử.

Trong cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình hôm 4/2, bà Clinton nêu rõ: "Tôi không ủng hộ hiệp định (với các điều khoản như hiện nay). Có những thay đổi mà nếu làm được, tôi tin rằng sẽ tạo ra sự khác biệt thực sự."

Trước đó, bà Clinton đã bày tỏ sự không tin tưởng rằng TPP (vừa đạt được) sẽ đáp ứng được "tiêu chuẩn cao" của bà trong việc tạo công ăn việc làm tốt cho người Mỹ, cũng như cải thiện tiền lương và thúc đẩy an ninh quốc gia. Bà cũng cho rằng hiệp định thương mại này không thể giải quyết được tình trạng thao túng tiền tệ cũng như việc phân phối dược phẩm.

Bên phía đảng Cộng hòa, cả tỷ phú bất động sản Donald Trump và ông Ted Cruz, Thượng nghị sỹ bảo thủ đến từ bang Texas và là người giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ tại bang Iowa, đều công khai phản đối hiệp định TPP.

Còn Thượng nghị sỹ Marco Rubio, đại diện cho bang Florida, người được dư luận rộng rãi trong nội bộ đảng Cộng hòa coi là ứng cử viên thay thế tiềm năng cho các ông Trump và Cruz, đã tuyên bố chỉ tiết lộ sẽ bỏ phiếu cho thỏa thuận thương mại này theo hướng nào sau ngày 18/5 tới hoặc thậm chí muộn hơn. Việc ông Rubio từ chối đưa ra lập trường vững chắc về TPP phản ánh thực tế rằng cử tri Mỹ không hào hứng với thương mại tự do trong mùa bầu cử sơ bộ.

Trong cuộc họp kín tại Nhà Trắng vào tuần trước, Tổng thống Barack Obama đã thảo luận với Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan và thủ lĩnh phe đa số tại Thượng viện Mitch McConnell về TPP, nhưng không đạt được thỏa thuận về thời điểm chính xác Quốc hội Mỹ sẽ bỏ phiếu về hiệp định thương mại này.

Trong khi chính quyền Obama hối thúc Quốc hội phê chuẩn TPP càng sớm càng tốt, thì ông McConnell đã nhắc lại rằng chính quyền không nên đệ trình thỏa thuận thương mại này lên Quốc hội để bỏ phiếu trước cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 tới.

Phát biểu với các phóng viên sau cuộc họp, ông McConnell nhấn mạnh: "Với việc cả hai ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ và một số ứng cử viên tổng thống trong đảng chúng tôi (Cộng hòa) phản đối thỏa thuận này, lời khuyên của tôi là chúng ta không nên cố gắng đưa thỏa thuận này ra bỏ phiếu tại Quốc hội, chắc chắn là trước cuộc bầu cử," đồng thời chỉ rõ thỏa thuận này có một số khiếm khuyết cần được giải quyết. Chủ tịch Hạ viện Paul Ryan cũng dự đoán rằng hiệp định TPP sẽ không thu được đủ số phiếu ủng hộ tại Quốc hội để được thông qua.

Đa số các tổ chức kinh tế có ảnh hưởng tại Mỹ, trong đó có Phòng Thương mại Mỹ (USCC), Hiệp hội Các nhà chế tạo Mỹ và Hội Bàn tròn Doanh nghiệp Mỹ, đã bày tỏ sự thất vọng về một số điều khoản trong lĩnh vực thuốc lá, dược phẩm và các thể chế tài chính được quy định trong hiệp định đã được các bộ trưởng của 12 nước thành viên chính thức ký kết tại Auckland (New Zealand) hôm 4/2 sau hơn 5 năm đàm phán.

Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ Orrin Hatch, người đặc biệt quan ngại về các điều khoản liên quan đến thời hạn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm sinh dược, đã đánh tín hiệu rằng TPP có thể sẽ phải đối mặt với sự trì hoãn lâu dài từ khi ký kết đến lúc được Quốc hội nước này phê chuẩn.

Ông Hath cũng lưu ý rằng các hiệp định thương mại tự do của Mỹ với Colombia, Panama và Hàn Quốc chỉ được Quốc hội Mỹ phê chuẩn sau hơn 4 năm kể từ khi ký kết./.

Việc nước ta ký Hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây ...

Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Việc nước ta ký Hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây là thành quả của tiến trình 30 năm đổi mới, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng, ngày càng được khẳng định mạnh mẽ và kiến giải sâu sắc qua các Nghị quyết của Đảng. Đây còn là những trải nghiệm rút ra từ thực tiễn hội nhập của nước ta sau khi ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN, các Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Hội nhập kinh tế quốc tế còn là một nội hàm quan trọng trong thể chế kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

I

Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, trong các nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của Chính phủ về đàm phán tham gia một số Hiệp định Thương mại tự do mới. Đây là những Hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường cao hơn cam kết trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký trước đây. Đặc biệt, TPP và FTA với EU là những Hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích, với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng. Các Hiệp định này còn bao gồm các nội dung tuy không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại như môi trường và lao động. Với những nội hàm chủ yếu nêu trên, TPP cùng với FTA Việt Nam-EU được gọi là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

TPP là Hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức độ cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất khẩu, nhập khẩu và rào cản phi quan thuế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh, người lao động cũng như người tiêu dùng.

TPP sẽ thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên; tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại nội khối; nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân; góp phần giải quyết những thách thức trong nền kinh tế đương đại, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển nền kinh tế số, xây dựng chính sách cạnh tranh và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động và bảo vệ môi trường. Hiệp định còn có các quy định bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển. TPP cũng bao gồm các cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực và có sự linh hoạt về lộ trình thực thi, phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển để các bên có khả năng đáp ứng cam kết và tận dụng đầy đủ lợi ích của Hiệp định. Đồng thời, quy định cơ chế giám sát thực thi và chế tài xử lý các vi phạm.

TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước; thừa nhận yêu cầu phải tuân thủ đầy đủ pháp luật quốc gia, phù hợp với các cam kết quốc tế và không bao gồm các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh. Hiệp định cũng được kỳ vọng là tạo ra một nền tảng mới cho hội nhập kinh tế khu vực và tạo cơ hội cho các quốc gia khác trên vành đai châu Á-Thái Bình Dương tham gia.

Trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp và còn nhiều khó khăn, việc chủ động quyết định tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là TPP với tinh thần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, nỗ lực vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội để vươn lên phát triển nhanh và bền vững, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén và tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Đây còn là sự khẳng định niềm tin vào ý chí, khả năng và sức mạnh của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

II

TPP cùng FTA với EU sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức đối với nước ta.

Các Hiệp định này sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong đó EU gồm 28 thành viên với GDP trên 18 nghìn tỷ USD và TPP hiện có 12 thành viên với GDP trên 20 nghìn tỷ USD. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua. Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20.

Xuất khẩu và đầu tư có vai trò quyết định cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống dân cư, nhất là trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người và tiêu dùng nội địa của nước ta còn thấp. Tăng tỷ trọng xuất nhập khẩu với các thị trường này cũng làm cho quan hệ thương mại với các nước cân bằng hơn. Những cam kết trong các Hiệp định là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tham gia các Hiệp định này còn là một bước tiến mới trong thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là tại một khu vực đang diễn ra cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Cùng với những cơ hội thuận lợi, các Hiệp định này cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ. Đó là, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Trước sức ép cạnh tranh, một số doanh nghiệp sau thời gian chuyển đổi, tái cơ cấu nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương; khoảng cách giàu nghèo sẽ bị doãng ra nếu chúng ta không thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng thành quả của tăng trưởng. Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý. Nội dung về lao động-công đoàn cũng đặt ra những thách thức và yêu cầu mới trong hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cả hệ thống chính trị của nước ta.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội thuận lợi tự nó không chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải thông qua sự nỗ lực và hiệu quả hoạt động hướng đích của các chủ thể – Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của từng chủ thể. Nếu tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, chúng ta sẽ bị thua thiệt và rất khó khắc phục. Điều cần nhấn mạnh là, trong các Hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.

III

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia các Hiệp định FTA mới, nhất là các Hiệp định thế hệ mới – TPP và FTA với EU; và trong điều kiện công nghệ thông tin, Internet phát triển bùng nổ, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thương mại, dịch vụ toàn cầu; cùng với những tiến bộ trong vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics, ranh giới giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như bị san phẳng. Hệ quả là, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Nhiều quốc gia chuyển sang mô hình công nghiệp hóa dựa trên sức cạnh tranh, khai thác và tạo lập lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phấn đấu chiếm lĩnh các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị đó.

Để tận dụng cơ hội thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Trong đó, cần xác định rõ vai trò và hành động của các chủ thể trong thực thi nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định này.

Doanh nghiệp là chủ thể quyết định sức cạnh tranh vi mô, phản ảnh sức mạnh và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp phải dũng cảm chấp nhận cạnh tranh và phải chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng, với tư duy không chỉ giới hạn tại thị trường trong nước mà còn vươn ra khu vực và thế giới. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tự mình quyết định được tất cả. Doanh nghiệp phải hành động trong khung khổ thể chế và môi trường kinh doanh xác định. Điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước.

Nhiều nghiên cứu và từ thực tiễn các nước đều khẳng định rằng, thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển của một nền kinh tế. Phát triển nhanh và bền vững hay trì trệ, tụt hậu chủ yếu là do chất lượng thể chế. Thể chế tốt, bảo đảm nhà nước pháp quyền, quyền dân chủ của người dân và phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại sẽ khơi dậy được cao nhất sức mạnh tổng hợp và các nguồn lực cho sự phát triển. Và như vậy, thể chế có vai trò quyết định đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để có một thể chế tốt, chất lượng cao, phải xác định đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và tổ chức bộ máy quản lý để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng; sử dụng nguồn lực của Nhà nước, các chính sách và công cụ điều tiết để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống người dân; bảo vệ môi trường; bảo đảm các dịch vụ công thiết yếu, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thị trường quyết định việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Doanh nghiệp được tự quyết định kinh doanh trên các lĩnh vực mà luật pháp không cấm đồng thời phải đề cao trách nhiệm xã hội và văn hóa kinh doanh. Xã hội – thông qua người dân và các Tổ chức, các Hội nghề nghiệp đại diện cho mình và các chuyên gia, các nhà nghiên cứu độc lập để đóng góp xây dựng, phản biện và giám sát thực thi chính sách, nhằm hạn chế các khiếm khuyết của thị trường và Nhà nước.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các mối quan hệ trên đây, chúng ta phải khẩn trương tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các Hiệp định FTA, nhất là các FTA thế hệ mới với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị. Tập trung mọi nỗ lực xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thượng tôn pháp luật. Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Cán bộ công chức chỉ được làm và phải làm những việc theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục cải cách bảo đảm sự tương thích, đồng bộ giữa luật pháp, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức. Tổ chức trùng lắp, chồng chéo sẽ gây lãng phí nguồn lực và cản trở sự phát triển. Phải dám chấp nhận đổi mới, vượt qua sức ỳ, sự bảo thủ để hoàn thiện hệ thống tổ chức lãnh đạo quản lý, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

Đặt việc cải thiện môi trường kinh doanh trong yêu cầu cải cách thể chế. Thể chế tạo ra khung khổ, định ra giới hạn cho cải thiện môi trường kinh doanh. Không thể có môi trường kinh doanh tốt nếu không có thể chế phù hợp. Những tiến bộ trong cải cách thể chế phải được chuyển hóa đầy đủ sang cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ liên quan đến tổ chức bộ máy mà còn gắn chặt với chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đặc biệt quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý, các nhà quản trị doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập, cạnh tranh và phát triển.

Chỉ trên nền tảng đổi mới thể chế quản trị quốc gia phù hợp mới có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả của tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh áp dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Cũng chỉ trên cơ sở đổi mới thể chế phù hợp mới tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn và một nền nông nghiệp sạch, có giá trị gia tăng cao, ổn định nguồn cung để có thể tăng nhanh thị phần trên thị trường thế giới. Nếu không, sẽ không tận dụng được cơ hội thuận lợi do TPP, FTA với EU và các FTA mới mang lại.

TPP cũng như FTA với EU yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động và cạnh tranh công bằng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Phải đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước đồng thời khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.

Để bảo đảm thành công trong hội nhập quốc tế và thực hiện hiệu quả các FTA, đặc biệt là TPP và FTA Việt Nam - EU, trước hết phải có Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các cấp các ngành và của cộng đồng doanh nghiệp.  Phải làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo sự đồng thuận trong nhận thức, thống nhất trong hành động, nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững. 

                                                                     *  *  *

Chúng ta đang sống trong một thời đại vận động và phát triển rất nhanh, thế giới đang bước vào làn sóng công nghiệp lần thứ tư, tiến trình công nghiệp hóa ngày càng được rút ngắn. Nếu có quyết tâm cao và ý chí vươn lên mạnh mẽ, tinh thần sáng tạo và chiến lược tăng trưởng đúng đắn, nước đi sau có thể đuổi kịp và vượt quốc gia đã có trình độ phát triển cao hơn và những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ có thể nhanh chóng trở thành những doanh nghiệp lớn.

Tham gia các Hiệp định này, Việt Nam còn có thêm cơ hội nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ tăng quy mô, tạo điều kiện hình thành những doanh nghiệp lớn đồng thời với xu thế cá thể hóa doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội để nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, sáng tạo, khuyến khích phong trào khởi nghiệp của mọi người dân và nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp chúng ta hãy nêu cao niềm tự hào dân tộc, chung sức đồng lòng, chủ động khai thác và phát huy tốt nhất cơ hội thuận lợi, nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức trong hội nhập, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn./.

Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng Chính phủ

Đang tải dữ liệu...

Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng