Hiệp định TPP

Tiến trình Việt Nam đàm phán gia nhập Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một nội dung đáng chú trong cuộc trao đổi của VnEconomy với Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh, bên ...

Tiến trình Việt Nam đàm phán gia nhập Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một nội dung đáng chú trong cuộc trao đổi của VnEconomy với Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh, bên hành lang Quốc hội.

* Hiệp định TPP và rào cản thương mại không lối thoát

* Hiệp định TPP: “Lợi ích thì xa, thách thức thì gần!”

Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh

Mới đây, Phó thủ tướng đã có chuyến thăm Mỹ để thảo luận về việc gia nhập TPP. Xin ông cho biết những thông tin cập nhật về tiến trình này của Việt Nam?

Đối với TPP, vì công việc đàm phán vẫn đang diễn ra nên cá nhân tôi chưa thể nói nhiều.

Tuy nhiên, điều mà ai cũng thấy là hội nhập nói chung, TPP nói riêng đã và đang đưa tới những áp lực cải cách từ bên trong của Việt Nam.

Tham gia hiệp định TPP cũng vậy, yêu cầu rất cao và trình độ giữa các nước tham gia đàm phán TPP cách nhau rất xa, đơn cử như so với Mỹ thì chúng ta kém quá xa về trình độ khoa học kỹ thuật, phát triển kinh tế…

Với riêng Mỹ, hiện nay quá trình đàm phán đang diễn ra thế nào và đâu là những vướng mắc chủ yếu nhất?

Khi đàm phán các hiệp định thương mại, cái khó nhất là làm sao bảo vệ được lợi ích quốc gia trong khi phải mở cửa cho hàng hóa, dịch vụ các nước.

Đúng là hiện nay trong đàm phán đang có những trở ngại nhất định và do đó các bên phải tiếp tục đàm phán để có thể đạt được các thỏa thuận cho từng lĩnh vực cụ thể.

Như với lĩnh vực dệt may chẳng hạn, các bên cũng đã có những "bước lùi".

Nhưng về tổng thể, tiến trình đàm phán đang diễn ra tích cực.

Trong phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội thứ 8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Chính phủ đã “tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh”. Cho đến nay, ông đánh giá thế nào về các kết quả cổ phần hoá đã đạt được?

Có thể nói rằng tiến trình cổ phần hóa đã và đang được thúc đẩy mạnh mẽ vì hiện nay về cơ bản chủ trương đã rõ ràng, về chính sách thì cơ bản Chính phủ đã tháo gỡ hết về mặt chính sách rồi, không còn vướng mắc gì cả.

Lâu nay phức tạp nhất là khâu định giá doanh nghiệp, đó là khâu khó nhất, đặc biệt là những tồn tại về mặt tài chính nhưng cơ bản hiện nay cũng có hướng khắc phục cho nên lộ trình cổ phần hóa hết cho đến hết năm 2015 là khả thi.

Sắp tới, có nhiều tập đoàn, tổng công ty lớn hơn sẽ thực hiện bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng, và vì đây là những doanh nghiệp có quy mô lớn nên quá trình định giá, xử lý tồn tại về tài chính... sẽ mất nhiều thời gian hơn chứ cũng không phải là do có nhiều khó khăn, vướng mắc gì về chính sách cả.

Một điểm thuận lợi là nền kinh tế cũng đã có sự khởi sắc và các nhà đầu tư nói chung cũng đã quan tâm đến mua, bán cổ phiếu các doanh nghiệp này. Hầu hết các doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng làm ăn hiệu quả lên.

Như bạn thấy trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội cũng đã đề cập, năm 2013, tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã tăng hơn 10% so với năm 2012, các chỉ số kinh tế khác cũng tăng trưởng tích cực. Báo cáo các bộ gửi về cũng đã cho thấy những tín hiệu tích cực trong công tác này.

Trong các cuộc gặp và làm việc của lãnh đạo Chính phủ với các nhà đầu tư nước ngoài, sự quan tâm của họ đối với tiến trình cổ phần hóa là khá rõ ràng. Ông đánh giá thế nào về điều này?

Phải nói rằng nhà đầu tư nước ngoài họ rất quan tâm đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay. Tất nhiên cũng tùy từng lĩnh vực, mức độ quan tâm khác nhau.

Nhưng điều họ quan tâm nhất vẫn là vấn đề "mở room" trong từng lĩnh vực cụ thể để họ tham gia.

Về chủ trương "mở room", Chính phủ đã thống nhất là có lĩnh vực nhà nước khi cần có sự can thiệp thì mở có mức độ nhưng cơ bản là chúng ta sẽ đi theo hướng mở rộng, có lĩnh vực mở tối đa.

Ngay cả lĩnh vực ngân hàng, mình cũng đã cho thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Tùy tính chất ngành nghề, nếu thấy mở được thì mở tối đa, không nhất thiết nhà nước phải nắm giữ.

Hoàng Anh Minh

vneconomy

Cả bộ trưởng phụ trách kinh tế Nhật Bản là ông Akira Amari và Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman đã không đạt được bất kỳ tiến bộ nào trong cuộc đàm phán song phương về Hiệp định Đối tác xuyên ...

Cả bộ trưởng phụ trách kinh tế Nhật Bản là ông Akira Amari và Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman đã không đạt được bất kỳ tiến bộ nào trong cuộc đàm phán song phương về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (T.P.P), dù trước đó, hai người cấp phó đoàn đàm phán đã điện đàm hai tiếng rưỡi đồng hồ cho công tác chuẩn bị. Hy vọng về một T.P.P kết thúc cuối năm 2014 liệu đã chấm dứt?

Đàm phán mở cửa thị trường nông sản, trong đó có thịt bò, sản phẩm sữa... giữa Mỹ và Nhật đang bế tắc, khiến mục tiêu kết thúc TPP cuối năm 2014 có thể bị lỗi hẹn.

Cuộc giằng co giữa hai “ông lớn”

T.P.P với 12 thành viên đang đàm phán chiếm đến 40% GDP của toàn cầu, nhưng chỉ riêng hai “ông lớn” là Mỹ và Nhật đã chiếm đến 80% GDP của toàn khối. Vì thế mọi con mắt đang đổ dồn về cuộc giằng co trên bàn đàm phán của hai thành viên chủ chốt này.

Hai vấn đề lớn nhất trong mở cửa thị trường, một là ô tô, hai là nông sản, vẫn đang ở thế dùng dằng. Đành rằng cả hai phía đều nhất trí về một “sự linh hoạt” trong đàm phán, tuy nhiên, xem chừng mọi sự vẫn chưa khả quan. Chẳng hạn, về ô tô, người Mỹ yêu cầu Nhật cắt giảm các quy định về độ an toàn và tiêu chuẩn khí thải của xe hơi nhập khẩu từ Mỹ, nhưng e là đòi người Nhật hạ tiêu chuẩn xuống chẳng phải dễ dàng.

Gay go hơn là mở cửa thị trường nông sản. Năm mặt hàng giới chính trị của đảng cầm quyền Dân chủ Tự do nước này, vốn có quan hệ mật thiết với ngành nông nghiệp, quyết giữ là gạo, lúa mì, thịt bò, thịt heo, sản phẩm sữa và đường, coi đó là các “đền thiêng” không thể đụng đến. Dù vậy, có tin Nhật đồng ý cắt giảm thuế thịt bò xuống một nửa, từ 38,5% xuống còn 19,5%. Mức thuế này cũng bằng với mức mà Nhật cam kết với Úc trong hiệp định mậu dịch tự do (FTA) song phương mới ký hồi tháng 7. Ấy thế mà, trong khi người Mỹ vẫn cho là còn cao quá thì người Nhật đã vội đáp lại là họ sẽ hạn chế nhập một khi thịt bò Mỹ tràn vào nhiều quá. Giới quan sát ngán ngẩm vì tinh thần của T.P.P về cắt giảm thuế quan coi như bị phá bỏ.

Kể ra, tuyên bố kết thúc đàm phán T.P.P tại Trung Quốc cũng là một điều thú vị khi không ít người cho rằng hiệp định này là để đối phó với Bắc Kinh. 

Ba năm trước, Thủ tướng Nhật quyết định tham gia đàm phán T.P.P để mong đưa đất nước này thoát khỏi tình trạng trì trệ kéo dài. Nhưng mục tiêu đó của người Nhật vẫn chưa thực hiện được. Kinh tế nước này trong quí 3 vẫn cứ trì trệ. “Điều đó cho thấy Tokyo cần T.P.P”, theo ông Froman. Vậy nhưng các bên vẫn chưa thôi vờn nhau. Mỹ một mặt bóng gió về chuyện “một T.P.P không Nhật Bản”, mặt khác lại tỏ ý sẽ mời Thủ tướng Shinzo Abe đến Washington vào tháng 1 năm tới để cùng bàn về các vấn đề thương mại và an ninh. Kể cũng đã lâu rồi ông Abe không đến Mỹ. Chuyến thăm lần trước cách đây cũng đã gần một năm, vào hồi tháng 2, hai tháng sau khi ông nhậm chức thủ tướng. Trước mắt thì hai bên đang thu xếp cho hai nguyên thủ này gặp nhau bên lề hội nghị APEC tại Bắc Kinh vào tháng 11 tới.

Lộ trình tiếp theo?

Sau 10 ngày đàm phán vào tháng 9 tại Hà Nội, thông cáo báo chí của các thành viên đàm phán T.P.P nói rằng các bên đạt được nhiều bước tiến về những vấn đề còn vướng mắc. Nhưng có hai điều quan trọng mà thông cáo báo chí không đề cập, trước hết là vạch ra được một lộ trình cho các cuộc đàm phán tiếp theo. Ban đầu các thông tin cho thấy thời gian cho cuộc gặp kế tiếp sẽ là giữa tháng 10 tại Úc. Đó là cuộc gặp gỡ cấp trưởng đoàn ở Canberra vào ngày 19. Sau đó, giới thạo tin cho biết các bên đã nhất trí gặp nhau một phiên cấp bộ trưởng vào cuối tháng, cụ thể là từ 25-27 tại Sydney cũng ở Úc. Còn chuyện T.P.P cuối năm nay có kết thúc đàm phán được hay không thì còn lắm hoài nghi.

Người Mỹ đã tỏ ra sốt ruột khi nhìn ra xung quanh. Liên hiệp châu Âu (EU) vừa kết thúc đàm phán FTA với Canada, và các cuộc đàm phán FTA với Việt Nam và Nhật Bản đang có tiến triển tốt. Trung Quốc cũng đang thương thảo FTA với Hàn Quốc và Úc, bên cạnh một RCEP, còn gọi là ASEAN+6. Hai thành viên lớn của T.P.P là Nhật Bản và Úc thì cũng đã ký FTA với nhau rồi. Vậy mà người Mỹ thì đang mắc kẹt giữa hai hiệp định thế kỷ là T.P.P và T-TIP - hiệp định mậu dịch tự do giữa Mỹ và EU. Tuần trước, ông Froman khá bận rộn cho TPP, còn tuần này thì ông lại dành thời gian nhiều hơn cho T-TIP.

Thời gian này, Mỹ đang cuốn vào cuộc đua bầu cử Quốc hội, dẫn đến chuyện trao quyền đàm phán nhanh (TPA) cho chính quyền ông Obama. Các nhà đàm phán Mỹ rất cần có TPA để dễ dàng quyết định hơn. Có TPA thì khi trình ra Quốc hội phê chuẩn các nghị sĩ chỉ có quyền thông qua hoặc bác bỏ. Không có TPA thì các nghị sĩ có quyền can thiệp vào nội dung, khi đó mọi thứ lại phải đi đàm phán lại.

Về phần Việt Nam, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, cũng có chuyến thăm đáng chú ý đến Washington. Dù ở phiên đàm phán Hà Nội, Việt Nam và Mỹ đã đạt được nhiều tiến bộ quan trọng cho những vấn đề gai góc như sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp nhà nước, quy tắc xuất xứ… nhưng hai bên phải ngồi lại với nhau để tháo gỡ những vướng mắc về các vấn đề kỹ thuật, chi tiết vốn dĩ ảnh hưởng đến lợi ích của mỗi bên. Dệt may chẳng hạn, đành rằng là xóa bỏ gần như tất cả các dòng thuế, nhưng nếu phía Mỹ yêu cầu giữ lại 5%, lại là những dòng chính của giới doanh nghiệp Việt Nam xuất vào thị trường này, thì lại là chuyện khác. Vấn đề về sở hữu trí tuệ có vẻ như đã thống nhất ở cách tiếp cận mềm dẻo: không áp dụng ngay mà cho phép một giai đoạn chuyển đổi khi trình độ phát triển của các bên còn chênh lệch rất nhiều.

Hy vọng đặt vào năm 2015

Gạt qua những bất đồng, các bên đang tỏ rõ quyết tâm về một T.P.P đã gần đến đích. Nói gì thì nói, các cuộc đàm phán đã kéo dài đến 10 năm rồi, cũng đã đủ dài để kết thúc. Cho dù giới quan sát chính trị tại Mỹ cũng cho rằng cơ hội để nước này giải quyết được bất đồng với Nhật và kết thúc T.P.P trước tháng 11 là rất khó xảy ra, thì niềm tin và quyết tâm của các bên về một hạn chót vẫn được đặt ra, và mong muốn trong cuộc gặp gỡ tại Bắc Kinh tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC vào ngày 10 và 11-11 tới, các lãnh đạo thành viên T.P.P cũng có điều gì đó để nói với nhau. Ít nhất họ cũng tuyên bố với cả thế giới là T.P.P đã hoàn tất về mặt cơ bản.

Kể ra, tuyên bố kết thúc đàm phán TPP tại Trung Quốc cũng là một điều thú vị khi không ít người cho rằng hiệp định này là để đối phó với Bắc Kinh. Có nhiều ý kiến xoay quanh câu chuyện này, người thì cho rằng không khéo thì Trung Quốc lại coi đó là một cú tát vào họ. Những người ủng hộ lại lập luận rằng tuyên bố tại đây là chứng tỏ điều ngược lại: T.P.P đâu phải chống lại Trung Quốc.

Và nếu tại Bắc Kinh có được tuyên bố hoàn tất một thỏa thuận khung, thì mục tiêu kết thúc T.P.P năm 2014 một lần nữa lại bị lỗi hẹn vì có chuyển đến Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Myanmar thì cũng chẳng kịp. TS. Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng sớm nhất để T.P.P hoàn tất thì cũng phải nửa đầu năm 2015.

Tiểu Minh

tbktsg

Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman ngày 2/10 đã hối thúc Nhật Bản nhượng bộ nhiều hơn trong các vấn đề gay góc mà hai bên còn bất đồng nhằm khơi thông bế tắc trong các cuộc đàm phán về Hiệp định ...

Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman ngày 2/10 đã hối thúc Nhật Bản nhượng bộ nhiều hơn trong các vấn đề gay góc mà hai bên còn bất đồng nhằm khơi thông bế tắc trong các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Ông Froman phát biểu như trên sau khi cuộc đàm phán giữa ông và Bộ trưởng phụ trách đàm phán TPP của Nhật Bản Akira Amani tại Mỹ hồi tháng 9 đã không đạt kết quả, chủ yếu do những khác biệt lớn trong quan điểm của mỗi bên trong các vấn đề về tiếp cận thị trường hàng nông sản và ôtô.

Ông Froman cũng nói đến việc TPP là một phần quan trọng trong các cải cách cơ cấu nằm trong "mũi tên thứ ba" của chính sách chấn hưng kinh tế gồm "ba mũi tên" của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe, cùng với việc nới lỏng chính sách tiền tệ và tăng cường đầu tư công. Ông Amari cũng là người chịu trách nhiệm trong nỗ lực cải cách nền kinh tế Nhật Bản.

Tuy nhiên, trong một phát biểu cuối tuần trước, ông Amari nói các nước tham gia đàm phán TPP cần từ bỏ ở một mức độ nhất định những mục tiêu tham vọng để có thể kết thúc đàm phán. Ông nói các cuộc thương lượng về những vấn đề còn lại đang gặp khó khăn, kêu gọi Mỹ và một số nước khác nỗ lực hơn nữa để thu hẹp những bất đồng.

Theo một quan chức Nhật Bản, ông Abe và Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden tại cuộc gặp trong tuần trước đã nhất trí hướng tới việc đạt thỏa thuận với một sự linh hoạt.

Nhật Bản, Mỹ và 10 nước khác đang tham gia đàm phán dự kiến sẽ tổ chức một cuộc gặp cấp bộ trưởng về TPP tại Australia trong các ngày 25-27/10 nhằm mục tiêu nhanh chóng đạt được thỏa thuận.

Những bất đồng quan điểm về thuế đối với hàng nông sản và kêu gọi của Mỹ đối với Nhật Bản về việc tăng cường tiếp cận ngành công nghiệp ôtô được xem là trở ngại đối với các cuộc đàm phán đa phương.

Lê Minh

Vietnam+

Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình dương (TPP) đã trải qua 19 vòng đàm phán chính thức, đang đi vào chặng nước rút cuối cùng. Ngày 19-9 tới đây, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo liên ...

Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình dương (TPP) đã trải qua 19 vòng đàm phán chính thức, đang đi vào chặng nước rút cuối cùng. Ngày 19-9 tới đây, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế sẽ tiếp tục thảo luận với các đối tác Hoa Kỳ về phương hướng giải quyết các vấn đề quan tâm trong đàm phán TPP.

Trong 10 ngày qua, các trưởng đoàn đàm phán Hiệp định TPP đã làm việc tích cực tại Hà Nội. Các vấn đề quan trọng đưa ra thảo luận là vai trò của doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, đầu tư, xuất xứ hàng hóa, tính minh bạch và chống tham nhũng, lao động... đã có những bước tiến nhất định. Các thành viên TPP cũng đã đàm phán xây dựng các gói đầy tham vọng cho tiếp cận ưu đãi các thị trường của nhau đối với hàng hóa, dịch vụ/đầu tư, dịch vụ tài chính và mua sắm chính phủ.

Theo đánh giá, khi gia nhập là thành viên của TPP, Việt Nam có nhiều lợi thế được hưởng. Trong đó các DN dệt may nằm trong top đầu các ngành được hưởng lợi vì 60% kim ngạch xuất khẩu của ngành này được xuất vào các nước thành viên TPP. Thuế suất xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam được đưa về 0% khi vào Mỹ - thị trường lớn nhất của Việt Nam trong các nước tham gia TPP.

Nhưng quả ngọt TPP cũng không dễ hái, khi mà TPP yêu cầu rất chính xác về tiêu chuẩn, nguyên liệu xuất xứ… chưa kể khi phần lớn các DN dệt may xuất khẩu của Việt Nam là DN FDI, chỉ có một số DN lớn trong nước như Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) có cơ hội, số đông còn lại là DN dệt may vừa và nhỏ trong nước sẽ khó tham gia vào TPP. Điều này đồng nghĩa với việc ưu đãi về thuế khi tham gia TPP sẽ thuộc về DN FDI.

Vì thế, giới chuyên gia cho rằng, võ đài TPP sẽ có những sóng gió lớn, và Việt Nam cần phải có những cải cách triệt để, và đây là công cuộc khó khăn.

Theo thông tin chính thức từ cuộc làm việc của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đang diễn ra tại Hoa Kỳ, Việt Nam mong muốn phía Mỹ chú trọng hơn nữa tới vấn đề cắt giảm thuế cho ngành dệt may và giày dép trong đàm phán Hiệp định Thương mại Thái Bình dương, đồng thời đề nghị Mỹ xem xét công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam sau khi đàm phán Hiệp định này kết thúc.

Về quyền sở hữu trí tuệ, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhấn mạnh, Việt Nam hiểu tầm quan trọng của vấn đề này đối với Mỹ nhưng để có thể kết thúc sớm đàm phán, Mỹ nên có cách tiếp cận mềm dẻo hơn. Việt Nam sẽ tích cực phối hợp với Mỹ và các nước liên quan để tìm ra giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên. Phó Thủ tướng đặc biệt đề nghị Mỹ bắt tay xây dựng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật để thực thi cam kết Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình dương ngay từ bây giờ.

Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế nói với Đại Đoàn Kết, về lĩnh vực dệt may, Hiệp định dành hẳn một chương để quy định cụ thể. Trong đó, yêu cầu rất quan trọng đó là yếu tố nội địa hóa. Đây là một tiêu chí được thị trường Mỹ đặt ra rất khắt khe. Trong khi sản phẩm dệt may của Việt Nam lâu nay chủ yếu là gia công với 80% là nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc. Nếu tiếp tục như vậy thì chắc chắn sẽ không đáp ứng được yêu cầu. Việt Nam phải bằng mọi cách đáp ứng được về thời điểm, nếu không khi những nội dung này được khép lại thì sẽ rất khó có cơ hội tiếp cận nữa.

Hồ Hương

Đại đoàn kết

Từ 15-19/9, đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu đã thăm và làm việc tại Mỹ nhằm thúc đẩy quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) ...

Từ 15-19/9, đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu đã thăm và làm việc tại Mỹ nhằm thúc đẩy quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng như quan hệ kinh tế song phương giữa hai nước.

* TPP với kinh tế Việt Nam: Lợi ích nhiều và thách thức lớn

Trong ngày làm việc đầu tiên, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã có các cuộc tiếp xúc, làm việc với Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman, Bộ trưởng Tài chính Jack Lew, Bộ trưởng Thương mại Penny Prizker, giáo sư Jeffrey Schott - chuyên gia về TPP của Viện Kinh tế quốc tế Peterson, đồng thời gặp gỡ thân mật với toàn thể cán bộ Đại sứ quán và các cơ quan đại diện Việt Nam ở thủ đô Washington.

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh với Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jack Lew (trái)

Tại buổi tiếp Đại diện Thương mại Mỹ Froman, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã bày tỏ mong muốn phía Mỹ cần chú trọng hơn nữa tới vấn đề cắt giảm thuế cho hàng dệt may và da giày trong đàm phán TPP, đề nghị Mỹ xem xét công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam sau khi kết thúc đàm phán TPP.

Về quyền sở hữu trí tuệ, Việt Nam chia sẻ nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề này đối với phía Mỹ và cho rằng để có thể sớm kết thúc đàm phán, Mỹ nên có cách tiếp cận mềm dẻo hơn.

Việt Nam sẽ tích cực phối hợp với Mỹ và các nước khác để tìm ra giải pháp chấp nhận được cho tất cả các bên. Phó Thủ tướng đề nghị phía Mỹ cần "bắt tay" ngay vào xây dựng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật để thực thi cam kết TPP. Đại diện Thương mại Mỹ, ông Froman cam kết sẽ tạo điều kiện đưa ra cách tiếp cận thích hợp nhất đối với mặt hàng dệt may và giày dép cho Việt Nam.

Ông đề nghị Việt Nam cần tạo điều kiện cho mặt hàng thịt lợn và gia cầm của Mỹ tiếp cận thị trường Việt Nam, đồng thời hứa phía Mỹ sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để triển khai TPP ngay sau khi ký kết.

Kết thúc buổi gặp, hai bên nhấn mạnh việc hai đoàn đàm phán cần nỗ lực nhiều hơn nữa trong giai đoạn cuối của đàm phán TPP để hoàn tất các vấn đề còn lại. Tiếp Bộ trưởng Tài chính Jack Lew, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã đề nghị Mỹ tăng cường hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực tài chính cho Việt Nam và có các giải pháp mở lại kênh cho vay viện trợ phát triển chính thức (ODA) và vay ưu đãi cho Việt Nam, tăng cường các chương trình viện trợ nhân đạo và hỗ trợ phát triển tại Việt Nam.

Phó Thủ tướng đánh giá cao những hoạt động hỗ trợ mà phía Mỹ dành cho Việt Nam trong lĩnh vực phòng chống rửa tiền thời gian qua và cho rằng cần phải có thêm hỗ trợ kỹ thuật cho các cán bộ trực tiếp thực thi công tác này để phát huy hiệu quả hơn nữa.

Bộ trưởng Lew nhất trí với đánh giá và đề nghị của Phó Thủ tướng và mong muốn Việt Nam quan tâm hơn tới đề xuất của các doanh nghiệp Mỹ đang có các hoạt động hợp tác, kinh doanh tại Việt Nam. Trong buổi tiếp Bộ trưởng Thương mại Mỹ, bà Penny Pritzker, hai bên đã trao đổi tình hình quan hệ thương mại song phương hai nước, việc triển khai các dự án thương mại lớn của Mỹ tại Việt Nam, khẳng định quyết tâm thực hiện đúng kế hoạch mở đường bay thẳng Việt-Mỹ trong năm 2015.

Hai bên nhất trí đẩy mạnh hơn nữa quan hệ thương mại song phương bên cạnh việc đẩy nhanh tiến trình đàm phán TPP.

Tiếp giáo sư Jeffrey Schott, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã đánh giá cao vai trò của Viện Kinh tế quốc tế Peterson và cá nhân giáo sư trong các nghiên cứu về vấn đề kinh tế quốc tế, hoan nghênh việc hợp tác gần đây giữa viện với một số cơ quan của Việt Nam.

Theo Phó Thủ tướng, các thông tin và tư vấn của các chuyên gia Viện Kinh tế quốc tế Peterson đã và đang giúp cho các cơ quan của Việt Nam có cách tiếp cận rõ ràng hơn trong nhiều vấn đề kinh tế quốc tế đặt ra hiện nay.

vietnam+

Trong khuôn khổ chuyến thăm, làm việc của đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu tới Mỹ, phóng viên TTXVN đã thực hiện cuộc phỏng vấn giáo sư Jeffrey Schott, ...

Trong khuôn khổ chuyến thăm, làm việc của đoàn đại biểu cấp cao chính phủ Việt Nam do Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu tới Mỹ, phóng viên TTXVN đã thực hiện cuộc phỏng vấn giáo sư Jeffrey Schott, chuyên gia hàng đầu về Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), nhân dịp ông vừa có cuộc tiếp xúc, làm việc với Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh.

Jeffrey Schott, thành viên cao cấp của Viện Kinh tế quốc tế Peterson có trụ sở tại thủ đô Washington (Mỹ) cho biết, Việt Nam là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ TPP vì nó mang lại cơ hội lớn cho tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cũng như xuất khẩu tới các quốc gia đối tác của TPP.

Giáo sư Jeffrey Schott (trái) trình bày về vấn đề TPP với các thành viên đoàn Việt Nam

Tuy nhiên, theo ông, Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức lớn, đòi hỏi theo thời gian phải thực hiện các cải cách quan trọng về chính sách.

Giáo sư nhấn mạnh các nhà đàm phán đang tìm cách đạt tới một "sự cân bằng chuẩn xác" giữa mức độ sâu của tự do hóa mà Việt Nam cam kết thực hiện với tốc độ thực hiện các cam kết tự do hóa này.

Theo quan điểm của ông, điều quan trọng là Việt Nam cần có một chiến lược cải cách kinh tế trong giai đoạn 10-15 năm tới, đồng thời đảm bảo tiến trình thực hiện để TPP mang lại lợi ích và hiệu quả lớn nhất.

Ông cũng cho rằng để làm được việc này, cần một chiến lược cải cách rõ ràng, trong đó có lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ. Ông nhấn mạnh, với một chiến lược như vậy, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mở rộng và gia tăng đầu tư vào Việt Nam.

Cũng trong cuộc phỏng vấn này, giáo sư Schott đã đưa ra một số nhận định, đánh giá về các khó khăn, thách thức và triển vọng đàm phán TPP, trong đó dự báo hiệp định này có thể kết thúc đàm phán và ký kết vào nửa đầu năm 2015.

Giáo sư Schott cho biết các nhà đàm phán hiện đang tích cực làm việc để thu hẹp các khác biệt về quan điểm và khi đàm phán càng gần đến giai đoạn kết thúc thì thông thường nó phải đối mặt và giải quyết nhiều vấn đề nhạy cảm chính trị, đòi hỏi nỗ lực lớn của tất cả các bên.

Theo ông, thách thức lớn nhất hiện nay là việc đàm phán liên quan đến tiếp cận thị trường nông nghiệp, dịch vụ. Điều này đòi hỏi các nhà đàm phán phải tiến hành thêm các vòng thương lượng trong đầu năm tới. Vấn đề nông nghiệp sẽ nổi lên vào cuối đàm phán giữa Mỹ-Nhật Bản và hiện hai nước đang tích cực xử lý vấn đề này.

Bên cạnh đó, ông cho rằng còn một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực đầu tư, môi trường và doanh nghiệp nhà nước. Ông cho rằng đây là các vấn đề có thể giải quyết được giữa 12 quốc gia đang tham gia đàm phán TPP. Hiện các nước này đang tích cực đàm phán và sẽ có những điều chỉnh về lập trường trong những tháng tới trước khi các nhà lãnh đạo chính trị có quyết định cuối cùng.

Theo Giáo sư Schott, một trong các vấn đề gây trở ngại hiện nay là quyền đàm phán nhanh Hiệp định Thương mại (TPA). Hiện Quốc hội Mỹ vẫn chưa thông qua dự luật về TPA cho phép Tổng thống Barack Obama thực hiện quyền đàm phán nhanh. Ông cho rằng điều này sẽ ảnh hưởng lên tiến trình đàm phán TPP khi các quốc gia tham gia đàm phán đều muốn đảm bảo rằng Mỹ sẽ nhanh chóng phê chuẩn và thực hiện hiệp định.

Giáo sư Schott mong muốn Tổng thống Obama và Đại diện Thương mại Mỹ Michael Froman phối hợp chặt chẽ với Quốc hội nhằm đảm bảo rằng TPA có thể được thông qua vào đầu năm 2015 trong khóa Quốc hội mới.

Ông cho rằng đây là kịch bản nhiều khả năng xảy ra. Khi Quốc hội Mỹ thực hiện bước đi này sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc kết thúc đàm phán và ký kết TPP trong nửa đầu năm sau.

vietnam+

Các trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã hoàn tất 10 ngày đàm phán căng thẳng tại Hà Nội vào hôm qua 10.9, qua đó đạt được những tiến triển quan trọng về nhiều vấn đề ...

Các trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã hoàn tất 10 ngày đàm phán căng thẳng tại Hà Nội vào hôm qua 10.9, qua đó đạt được những tiến triển quan trọng về nhiều vấn đề để tiến tới một thỏa thuận toàn diện, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội thông báo.

“Chúng tôi đã cam kết một kế hoạch làm việc tập trung để cho phép chúng tôi thúc đẩy tiến độ", bà Barbara Weisel, Trưởng đoàn đàm phán TPP của Mỹ, cho biết.

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh tại vòng đàm phán TPP ở Singapore hồi tháng 12.2013

“Tất cả các nước tham gia đều muốn hoàn tất đàm phán để mở ra các cơ hội to lớn mà TPP sẽ mang lại”, bà Weisel nói.

Thông qua TPP, Mỹ đang xúc tiến để thiết lập một khuôn khổ thương mại và đầu tư trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương năng động nhằm hỗ trợ Washington tạo việc làm thông qua mở rộng thương mại, lĩnh vực chiếm khoảng 1/3 tăng trưởng kinh tế của nước này trong 5 năm qua, Đại sứ quán Mỹ cho biết.

Trong vòng đàm phán tại Hà Nội, Việt Nam, Mỹ, Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru và Singapore đã giải quyết thành công nhiều vấn đề và thu hẹp khoảng cách trong nhiều lĩnh vực khác.

Các đoàn đàm phán đã đạt được tiến bộ quan trọng về doanh nghiệp nhà nước, sở hữu trí tuệ, đầu tư, quy tắc xuất xứ, tính minh bạch và chống tham nhũng, lao động.

Các đoàn cũng tiếp tục xây dựng các gói tiếp cận đầy tham vọng nhằm đưa hàng hóa, dịch vụ/đầu tư, dịch vụ tài chính và mua sắm chính phủ vào thị trường của nhau với thuế suất ưu đãi, theo thông cáo báo chí từ Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội.

Sau khi giảm số lượng các vấn đề còn tồn đọng, Mỹ và 11 quốc gia TPP khác cùng cam kết sẽ giải quyết các vấn đề còn lại trong thời gian ngắn nhất có thể, bao gồm văn bản và các gói tiếp cận thị trường.

Để thúc đẩy việc này, đại diện thương mại Mỹ Michael Froman sẽ làm việc song phương với các đối tác TPP trong những tuần sắp tới.

Ông Froman cũng sẽ gặp Phó thủ tướng Việt Nam Vũ Văn Ninh tại Washington vào tuần sau và dự kiến cũng sẽ có các cuộc gặp với các bộ trưởng TPP khác.

Hoàng Uy

thanh niên

Phần lớn các DN XK dệt may của VN đều hiểu rằng, khi Hiệp định TPP được ký kết, các nước tham gia hiệp định sẽ dành cho nhau những ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu (hầu hết bằng 0%). Tuy nhiên, ít ...

Phần lớn các DN XK dệt may của VN đều hiểu rằng, khi Hiệp định TPP được ký kết, các nước tham gia hiệp định sẽ dành cho nhau những ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu (hầu hết bằng 0%). Tuy nhiên, ít ai đặt câu hỏi liệu “sức khỏe” của các DNVN thế nào khi tham gia TPP, liệu có đủ năng lực để tiếp nhận các lợi ích từ TPP?

Thực tế là DNVN đang yếu hơn DN của các đối tác TPP không chỉ là vấn đề về vốn, công nghệ, nhân lực… mà ngay chính từ các chính sách, cơ chế nội tại trong nước như: lao động, tỉ giá, giá thuê đất… đang là những “thách thức gần” khiến DNVN chưa chắc đã đủ năng lực để tiếp nhận các ưu đãi từ TPP.

Năng suất lao động quá thấp

Theo thống kê của tổ chức lao động quốc tế ILO, năng suất lao động bình quân chung tại VN chỉ bằng 30% của Malaisia và bằng 40% của Thái Lan. Thống kê của Công đoàn ngành dệt may cho thấy, thu nhập của công nhân may năm 2013 bình quân cả nước đạt khoảng 3,2 triệu đồng/ người/ tháng. Nếu trừ các khoản bảo hiểm, ăn ca, công đoàn phí … hàng tháng người công nhân ở nhiều khu công nghiệp tại Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội chỉ thu về chưa được 2,5 triệu đồng/tháng.

Điều đáng nói, mức lương thấp không phải do chủ DN đã bóc lột người lao động, mà do năng suất lao động còn quá thấp. Thực tế, đã có nhiều DN đóng cửa, chuyển sản xuất sang Myanmar, Campuchia… Số khác phải vận động người lao động làm thêm giờ (tăng hơn so với luật cho phép) để tồn tại DN và cải thiện thu nhập cho người lao động. Có những DN phải làm thêm bình quân 2 giờ/ngày nhưng đổi lại mức tiền lương của người lao động đã được trên 5 triệu đồng/ người/tháng.

Trong nhiều hội nghị bàn về năng suất Lao động, về mức tăng lương tối thiểu hàng năm, các hiệp hội dệt may, da giầy… đều kiến nghị cần sửa đổi ngay Bộ luật lao động về thời gian làm thêm giờ được phép tăng lên là 60 giờ/ tháng (như Nhật Bản) để thời gian làm thêm giờ có thể bù cho năng suất lao động đang còn qúa thấp, bù cho những chi phí liên tục tăng và cải thiện thu nhập cho người lao động.

Việc sửa luật kịp thời cũng nhằm giúp DN tăng khả năng cạnh tranh, để tồn tại và phát triển, để DN không trở thành đơn vị vi phạm Bộ luật lao động. Trong nhiều năm qua khách hàng đã căn cứ Bộ luật lao động của VN (quy định về thời gian làm thêm giờ quá ít) để loại nhiều DN vi phạm ra khỏi danh sách những đơn vị được phép làm hàng XK cho những thương hiệu lớn trên thế giới, đẩy họ vào nguy cơ bị đóng cửa nhà máy.

Tỷ giá ngoại tệ “neo” quá lâu

Thử nhìn lại 3 năm qua, do tình hình lạm phát cao (2011 – 2013 trên 32%) nhưng tỷ giá ngoại tệ vẫn bị “neo” lại đã làm cho dịch vụ và hàng hóa XK của VN trở lên “đắt đỏ” hơn các nước khác trong khu vực. Các hàng hóa dịch vụ trong nước đều tăng gía, tiền lương liên tục tăng. Điều đáng nói là giá hàng XK vẫn… giữ nguyên, thậm chí còn bị giảm. Nếu nhà nước lấy cơ chế thị trường để điều tiết tỷ giá theo mức độ lạm phát hàng năm, nhiều DN XK đã có thể trụ vững. Người nông dân sản xuất nông sản, hải sản XK sẽ đỡ khó khăn hơn vì cũng được hưởng lợi một phần khi tỷ giá đồng nội tệ/USD tăng. Việc điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ tăng so với USD (từ bài học kinh nghiệm đầu năm 2011) không những làm tăng kim ngạch XK, mà còn góp phần làm giảm kim ngạch nhập khẩu và kích thích sản xuất trong nước thay thế cho nhập khẩu, đồng thời cũng tăng thu ngân sách.

Trong khi nhìn ra các nước khác trong khu vực, hiện nay đều duy trì chính sách “đồng nội tệ yếu” để phát triển kinh tế. Điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản 2 nền kinh tế đứng thứ 2 và thứ 3 thế giới nhưng vẫn thường xuyên duy trì chính sách “đồng nội tệ yếu”. Nhờ chính sách đó mà hàng hóa, dịch vụ vốn đã rẻ do năng suất cao, lại càng rẻ hơn khi quy đổi về USD, tạo điều kiện gia tăng XK và dự trữ ngoại tệ.

Tăng tiền thuê đất bất hợp lý

Lấy ví dụ việc tăng tiền thuê đất hàng năm, có thể nói đây là khoản tăng bất hợp lý nhất. Hầu hết các DN sản xuất công nghiệp trong những năm qua đều được cấp đất nông nghiêp, lâm nghiệp để san lấp xây dựng nhà xưởng, tạo việc làm cho hàng trăm, hàng ngàn lao động.

Từ xuất xứ đó của đất nên việc định giá thuê ban đầu từ 2.000 – 3.000 đồng/m2/năm (tương ứng 20 -30 triệu/ha/ năm) đã là cao. Vì thu nhập của người nông dân từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp lúc đó bình quân toàn quốc chỉ đạt 20 – 30 triệu đồng/năm.

Câu hỏi đặt ra là tại sao thời gian qua lại có mức tăng hàng chục lần so với mức cũ? DN phải nộp tiền thuê cho 1 ha đất nông nghiệp lên tới 400 – 500 triệu/năm. Với một DN dệt may sử dụng từ 5 - 10 ha đất thì việc tăng giá thuê đất đâu phải là chuyện nhỏ?

Thay lời kết

Để DN có thể tồn tại được và đón nhận những ưu đãi khi tham gia TPP, thiết nghĩ, trước hết cần giải quyết những vấn đề trước mắt đó là: Điều chỉnh thời gian làm thêm giờ trong bộ luật lao động (bằng thời gian làm thêm của Nhật Bản – 60 giờ/ tuần). Cần linh hoạt điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ lên theo tỷ lệ lạm phát để giúp các DNVN hạ giá thành (tính theo USD) tăng khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực. Giúp người lao động làm việc trong các khâu cung cấp nguyên liệu XK tăng thu nhập, làm cho hàng nhập khẩu “đắt” (tính theo VNĐ) sẽ hạn chế được việc nhập khẩu hàng tiêu dùng không cần thiết. Đồng thời, tạo điều kiện để DN trong nước đầu tư sản xuất những mặt hàng thay thế nhập khẩu.

Cần rà soát lại các quy định không phù hợp để giúp DN giảm bớt các chi phí bất hợp lý, hạ chuẩn xả nước thải ra môi trường, định giá tiền thuê đất hàng năm cần căn cứ xuất xứ loại đất trước khi giao cho DN thực hiện dự án…

Thậm chí ngay cả những thách thức mà các nước tham gia TPP đặt ra như: Quy tắc xuất xứ đối với sản phẩm dệt may phải qua đủ 4 công đoạn: kéo sợi, dệt, nhuộm, may trong các nước thành viên tham gia TPP; cải cách DN nhà nước, đầu tư công tại VN… cũng không phải đáng ngại nếu chúng ta có sự chuẩn bị tốt, nhất là từ chính những chính sách trong nước đối với DN.

Vì thế cộng đồng DN nói chung và các DN dệt may nói riêng luôn mong chờ những thay đổi, điều chỉnh kịp thời từ các cơ quan chức năng nhằm giúp DN tận dụng tối đa cơ hội khi tham gia TPP để cạnh tranh, hội nhập và phát triển bền vững.

Nguyễn Xuân Dương - Chủ tịch HĐQT Tổng Cty may Hưng Yên

dđdn

Doanh nghiệp săm lốp Việt có lợi thế am hiểu thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm vượt trội.

Doanh nghiệp săm lốp Việt có lợi thế am hiểu thị trường và hệ thống phân phối sản phẩm vượt trội.

Lốp Radial là cơ hội phát triển cho ngành săm lốp tại Việt Nam.

Với lợi thế nguồn nguyên liệu cao su tự nhiên dồi dào và nhân công giá rẻ, Việt Nam đang thu hút một số thương hiệu săm lốp hàng đầu thế giới tham gia đầu tư. Các nhà máy tỉ đô của Kumho (Hàn Quốc) và Bridgestone (Nhật) lần lượt ra đời và đưa vào hoạt động trong thời gian qua là ví dụ. Bước đầu, sản phẩm của các nhà máy này được xuất khẩu để phục vụ cho thị trường toàn cầu.

Tuy nhiên, cũng chính sự xuất hiện của các nhà máy với quy mô sản xuất lớn, thương hiệu lâu đời cộng thêm việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết WTO, AFTA và sắp tới có thể là TPP lại tạo ra những thách thức sống còn cho ngành săm lốp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt đang đứng trước lựa chọn hoặc lao vào sân chơi mới để tồn tại và phát triển, hoặc đứng yên để bị đào thải theo thời gian.

Ba chân kiềng săm lốp Việt

Có thể hình dung, ngành săm lốp Việt Nam đang được dẫn dắt bởi 3 doanh nghiệp tiêu biểu đều thuộc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (Vinachem), bao gồm Công ty Cổ phần Cao su Sao Vàng, Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng và Công ty Cổ phần Công nghiệp Cao su miền Nam (Casumina - CSM).

3 công ty này cũng có sự phân chia về phân khúc sản phẩm và khu vực thị trường. Cao su Sao vàng có lợi thế về lốp xe đạp và xe máy; thị trường chủ yếu tập trung ở miền Bắc. Trong khi đó, Cao su Đà Nẵng có thế mạnh về lốp ôtô tải và lốp đặc chủng; thị trường chủ yếu là khu vực miền Trung và khách hàng doanh nghiệp đặc thù. Cuối cùng, Casumina, doanh nghiệp có hệ thống sản phẩm đa dạng nhất, bao gồm lốp xe máy, ôtô du lịch và xe tải nhẹ; chủ yếu khai thác thị trường miền Nam.

Về sản phẩm, doanh nghiệp săm lốp Việt gần như chiếm lĩnh 100% thị trường ở mảng săm lốp xe đạp, khi cạnh tranh chủ yếu chỉ đến từ một số sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc với số lượng không đáng kể và chất lượng cũng không so sánh được với hàng nội địa. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu thụ của phân khúc sản phẩm này gần như bão hòa và khó tiếp tục tăng trưởng do xe máy ngày càng thay thế xe đạp. Thế nên, dù một mình một chợ ở phân khúc này nhưng đây không phải là điều đáng mừng đối với các doanh nghiệp săm Việt. Bởi vì triển vọng tăng trưởng quy mô doanh thu hầu như không có, xu hướng tiêu dùng thay đổi có thể khiến cho hoạt động ở mảng săm lốp xe đạp tiếp tục thu hẹp.

Trong khi đó, ở mảng săm lốp xe máy, cuộc chơi đã có sự xuất hiện của doanh nghiệp ChengShin (Ðài Loan). Dù vậy, thị phần của khối nội vẫn ước đạt khoảng 70%. Phân khúc săm lốp xe máy cũng tiếp tục có sự cạnh tranh từ săm lốp giá rẻ của Trung Quốc, nhưng nhờ hình ảnh thương hiệu vững chắc trong lòng người tiêu dùng nên các doanh nghiệp Việt vẫn chiếm ưu thế.

Cuối cùng, săm lốp ôtô chính là mảnh đất màu mỡ nhiều tiềm năng phát triển trong dài hạn; và cũng là phân khúc cạnh tranh nhất giữa nhà sản xuất trong nước lẫn nước ngoài.

Tiềm năng ở mảng này đến từ sự phát triển cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Hiện tại, lốp Bias (lốp bố nylon) vẫn chiếm gần 90% nhu cầu do hạ tầng giao thông Việt Nam chưa phát triển, dẫn đến nhu cầu sử dụng lốp Radial (lốp bố thép) chưa nhiều. Nhưng trong dài hạn, lốp Radial chắc chắn sẽ thay thế lốp Bias nhờ độ bền cao hơn, giảm tiêu hao nhiên liệu và đặc biệt phù hợp với ôtô chạy cao trên đường cao tốc. Tại các nước phát triển, tỉ lệ sử dụng lốp Radial chiếm 90% số lượng lốp tiêu thụ. Đây cũng chính là cơ hội phát triển cho ngành săm lốp tại Việt Nam trong bối cảnh cơ sở hạ tầng và hệ thống đường cao tốc ngày càng phát triển.

Thách thức của TPP

Khi xu hướng tiêu dùng chuyển từ lốp Bias sang lốp Radial và hàng rào thuế quan được gỡ bỏ theo cam kết WTO, AFTA và sắp tới có thể là TPP, sản phẩm lốp Radial của nước ngoài sẽ tràn vào Việt Nam với giá ngày càng hấp dẫn. So với doanh nghiệp nội, các nhà sản xuất nước ngoài có lợi thế hơn hẳn về thương hiệu, chất lượng sản phẩm và chi phí giá thành thấp nhờ quy mô sản xuất lớn. Đặc biệt, cạnh tranh sẽ còn gay gắt hơn ở dòng lốp xe con và xe tải nhẹ do các nhà máy của các thương hiệu ngoại đặt tại Việt Nam đang chủ yếu sản xuất sản phẩm này.

Cụ thể, nhà máy Kumho Tires (thuộc Tập đoàn Kumho Asiana) đặt tại Bình Dương có công suất 3,15 triệu sản phẩm/năm, chuyên sản xuất lốp Radial dành cho xe con và xe tải nhẹ.

Ngoài Kumho, một trong những ông lớn của ngành săm lốp thế giới là Bridgestone cũng đã đặt chân vào thị trường Việt Nam. Nhà máy lốp xe của Bridgestone tại Khu Công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng) có tổng vốn đầu tư 1,2 tỉ USD, công suất 24.700 sản phẩm/ngày. Quy mô sản xuất đến cuối năm 2017 dự kiến đạt 49.000 lốp xe khách Radial/ngày.

Trước mắt, sản phẩm của cả Kumho lẫn Bridgestone tại Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu phục vụ cho hoạt động của các tập đoàn này tại nước ngoài. Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, Kumho và Bridgestone hoàn toàn có thể dễ dàng xâm nhập thị trường Việt Nam.

Một điểm đáng chú ý khác là ngay trong phân khúc săm lốp ôtô cũng có sự phân hóa về dòng sản phẩm dành cho xe du lịch, xe tải hay xe đặc chủng... Hiện các doanh nghiệp Việt hầu như nhường sân chơi lốp xe du lịch cho các đại gia nước ngoài. Chỉ có Casumina là đang cạnh tranh ở phân khúc này, nhưng công suất dây chuyền sản xuất khá khiêm tốn chỉ khoảng 300.000 sản phẩm/năm.

Gần đây, tín hiệu đáng mừng là 2 công ty săm lốp Cao su Đà Nẵng và Casumina nhờ nắm được sự thay đổi tất yếu của xu hướng tiêu dùng nên đã có sự chuẩn bị để tham gia vào sân chơi mới. Cụ thể, 2 nhà máy lốp Radial mới của 2 doanh nghiệp này với tổng công suất 1,6 triệu lốp/năm đều tập trung vào lốp xe tải, phân khúc được đánh giá là mức độ cạnh tranh chưa quá gay gắt.

Trước mắt, cơ hội cho các doanh nghiệp nội sẽ nằm trong dải hẹp giữa lốp Trung Quốc giá rẻ nhưng chất lượng chưa cao; các thương hiệu lớn với chất lượng hàng đầu mà giá cả cũng cao tương ứng. Ðiều mà cả Casumina và Cao su Đà Nẵng đang hướng tới là cạnh tranh về chất lượng với hàng Trung Quốc, nhưng đồng thời vẫn có chiến lược cạnh tranh về giá.

Cạnh tranh về chất lượng có thể đạt được, tuy nhiên để cạnh tranh về giá lại là một vấn đề khác.

Chi phí đầu tư cho một nhà máy Radial là khá lớn, nên để đạt hiệu quả kinh tế cao thì quy mô sản xuất cũng phải lớn. Các nhà máy Radial ở nước ngoài thường có công suất vài triệu lốp/năm và chỉ sản xuất một vài quy cách nhất định cho từng nhà máy. Trong khi đó, các doanh nghiệp săm lốp Việt do hạn chế vốn nên quy mô nhà máy cũng nhỏ hơn, số lượng quy cách sản xuất lại phải nhiều hơn nhằm đa dạng hóa sản phẩm để tăng tính cạnh tranh cho thương hiệu. Chính vì thế, giá thành sản xuất và giá bán sẽ là bài toán đau đầu cho các công ty nội.

Dù sao, doanh nghiệp nội vẫn có những lợi thế là sự am hiểu thị trường Việt Nam và hệ thống kênh phân phối sản phẩm vượt trội. Đặc thù của việc tiêu thụ sản phẩm lốp ôtô ở Việt Nam là 80% nhu cầu tiêu thụ từ các khách hàng tổ chức như các công ty lắp ráp ôtô, công ty vận tải hay kho vận. Chỉ có khoảng 20% nhu cầu đến từ người tiêu dùng lẻ. Các thương hiệu nội đã có vị trí nhất định trong lòng người tiêu dùng Việt Nam, đó sẽ là lợi thế lớn khi khách hàng tổ chức cân nhắc bài toán chi phí để lựa chọn nhà cung cấp.

Hoàng Phương

Nhịp cầu đầu tư

400 đại biểu sẽ tham gia phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tổ chức tại Hà Nội từ ngày 1-10/9 tới.

400 đại biểu sẽ tham gia phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tổ chức tại Hà Nội từ ngày 1-10/9 tới.

Văn phòng UBQG về hợp tác kinh tế quốc tế ngày 18/8 cho hay đại biểu của 11 nước thành viên tham gia đàm phán Hiệp định TPP (Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ) và chủ nhà Việt Nam sẽ tham gia phiên đàm phán quan trọng này.

Đoàn đàm phán Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế làm Trưởng đoàn sẽ tham gia phiên đàm phán.

Đến nay, quá trình đàm phán TPP đã bước sang năm thứ 5 với 19 phiên đàm phán chính thức và rất nhiều phiên đàm phán, trao đổi cấp kỹ thuật ở phạm vi hẹp.

Trên cơ sở những tiến bộ đạt được tại phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn tại Ottawa, Canada tháng 7 vừa qua, để tiếp tục nỗ lực thúc đẩy đàm phán trong giai đoạn cuối cùng, các nước tham gia đàm phán đã thống nhất tổ chức thêm 1 phiên đàm phán cấp Trưởng đoàn vào đầu tháng 9 năm nay và Việt Nam đăng cai tổ chức phiên đàm phán này tại Hà Nội.

Tại phiên đàm phán sắp tới, các đoàn sẽ tập trung thảo luận những vấn đề còn tồn tại liên quan tới các lĩnh vực: Tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ; quyền sở hữu trí tuệ; đầu tư; môi trường; doanh nghiệp Nhà nước; các vấn đề pháp lý,và tiến hành các cuộc trao đổi song phương.

Phiên đàm phán được kỳ vọng sẽ đạt được nhiều đột phá để tạo đà cho việc sớm kết thúc đàm phán.

Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế của Việt Nam đang cùng các nước nỗ lực chuẩn bị để phiên đàm phán đạt được kết quả theo định hướng này.

Thùy Linh

chính phủ

Quy tắc xuất xứ, biện pháp tự vệ, mô hình giảm thuế vẫn đang là những ẩn số trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù kết quả cuối cùng thế nào, tất cả đều ...

Quy tắc xuất xứ, biện pháp tự vệ, mô hình giảm thuế vẫn đang là những ẩn số trong quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP). Dù kết quả cuối cùng thế nào, tất cả đều phải hướng tới lợi ích cốt lõi cho DN dệt may và cả nền kinh tế Việt Nam.

Muốn phát triển bền vững, ngành dệt may phải nâng cao giá trị gia tăng

Từ quy tắc xuất xứ…

Trong đàm phán TPP, các thành viên đã đề nghị quy tắc xuất xứ rất chặt chẽ với ngành dệt may, tức là tất cả các khâu từ sợi cho đến vải, cắt, may đều phải được thực hiện trong các nước TPP, khi đó sản phẩm dệt may mới hưởng ưu đãi về thuế nhâp khẩu.

Cho tới thời điểm này, tỷ lệ vải nhập khẩu dùng cho hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu tương đối nhiều (khoảng hơn 70% từ Trung Quốc). Vậy với quy tắc xuất xứ đó, dệt may Việt Nam có thể có lợi ích khi tham gia TPP?

Phía Hoa Kỳ đã đưa ra sáng kiến giúp Việt Nam, như: Chấp nhận về hình thức và linh hoạt về mặt nội dung. Nghĩa là đề nghị Việt Nam chấp nhận quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi; đối với loại vải mà các nước TPP không có, Việt Nam cần có một danh mục vải nhập khẩu để làm ra sản phẩm may và sản phẩm vẫn được coi là có xuất xứ Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh - Trưởng đoàn đàm phán TPP:

Để bảo đảm sự phát triển bền vững cho ngành dệt may, không còn cách nào khác là phải nâng cao giá trị gia tăng và chủ động được cả về sợi, dệt, nhuộm và vải.

Dù vậy, các chuyên gia nhận định, nếu một quy tắc xuất xứ đơn giản được chấp nhận, các DN Việt Nam sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện đầu tư thêm vốn và công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm, tạo thêm khả năng cạnh tranh cho hàng hóa. “Sẽ không DN nào chịu đầu tư vào sợi, dệt và vải để gia tăng hàm lượng công nghệ cao cho sản phẩm, nếu như chỉ dựng lên một xưởng may, nhập vải về, cắt, may là có thể kiếm được lợi nhuận từ xuất khẩu. Do vậy, chừng nào còn chấp nhận quy tắc xuất xứ đơn giản, chúng ta chỉ có thể tiếp tục đi làm gia công”- chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định.

Quy tắc xuất xứ từ sợi mới nghe có vẻ rất khó và chặt chẽ, nhưng để hưởng được ưu đãi trong TPP, các DN phải đầu tư vào làm vải. Nếu các DN đầu tư được vào vải thì chẳng những tăng lợi nhuận hàng xuất khẩu mà còn giúp Việt Nam nâng cao kỹ năng tay nghề người lao động, tạo thêm giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

Đến biện pháp tự vệ

Bên cạnh quy tắc xuất xứ khắt khe, các nước thành viên TPP đang đề xuất biện pháp tự vệ riêng với hàng dệt may nhập khẩu.

Khi đàm phán để giảm thuế nhập khẩu với hàng dệt may, các nước cũng đàm phán một điều khoản tự vệ, tức là một quốc gia đồng ý giảm thuế cho các thành viên khác nhưng nếu hàng hóa của quốc gia đó sau khi được giảm thuế sẽ tăng lên một mức đột biến (khoảng 20- 30%), khiến cho sản xuất tại các nước khác gặp khó khăn, thì các quốc gia có quyền đưa thuế trở lại mức cũ nhưng sẽ đền bù bằng một mặt hàng khác.

Mấu chốt ở đây là các quốc gia có thể “bóp cò” biện pháp tự vệ đó vào thời điểm nào với mức độ gia tăng hàng nhập như thế nào? Ở một khía cạnh nào đó, biện pháp này cũng gây bất lợi cho Việt Nam bởi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới và việc gia tăng xuất khẩu nằm trong mục tiêu phát triển dài hạn của các DN.

Hùng Cường

Công thương

Ngày 8/8, tại Hà Nội, Thượng nghị sỹ John McCain, thành viên Ủy ban Đối ngoại và Quân vụ cùng Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse, thành viên các Ủy ban Tư pháp, Ngân sách, Kinh tế, Lao động-Tiền ...

Ngày 8/8, tại Hà Nội, Thượng nghị sỹ John McCain, thành viên Ủy ban Đối ngoại và Quân vụ cùng Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse, thành viên các Ủy ban Tư pháp, Ngân sách, Kinh tế, Lao động-Tiền lương, Môi trường và Công chính, Thượng viện Hoa Kỳ, đã họp báo trong nước và quốc tế nhân chuyến thăm làm việc tại Việt Nam.

Tại cuộc họp báo, Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse cho biết chuyến thăm làm việc lần này tại Việt Nam, hai thượng nghị sỹ đã có những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan hữu quan Việt Nam.

Bày tỏ cảm ơn về những tình cảm nồng ấm thể hiện trong những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc, Thượng nghị sỹ cho biết hai bên bày tỏ mong muốn sẽ tiếp tục tăng cường quan hệ trong lĩnh vực an ninh, tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường.

Thượng nghị sỹ John McCain cho biết chuyến thăm Việt Nam lần này của ông đúng vào thời điểm quan trọng khi Hoa Kỳ và Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ vào năm 2015.

Bày tỏ vui mừng về những tiến bộ đã đạt được giữa hai nước trong thời gian qua, Thượng nghị sỹ cho rằng hiện nay hai nước còn nhiều việc phải làm với tư cách là đối tác của nhau. Quan hệ hai nước cần có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới.

Nói về Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Thượng nghị sỹ Sheldon Whitehouse cho biết với tư cách là đối tác toàn diện, Hoa Kỳ sẵn sàng cùng Việt Nam đi đến hoàn tất Hiệp định này.

Đây là Hiệp định có tiêu chuẩn rất cao. Hoa Kỳ sẵn sàng làm việc với Việt Nam trong khuôn khổ TPP để Việt Nam đáp ứng được những tiêu chuẩn của Hoa Kỳ và được công nhận là nền kinh tế thị trường.

Nhân dịp này, hai thượng nghị sỹ cũng đã chia sẻ về đề xuất Quốc hội Hoa Kỳ sớm bãi bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Hoàng Thị Hoa

Vietnam+

Ngay sau khi hai doanh nghiệp Việt Nam là Công ty thép SeAH Vina và Hot Rolling Pipe bị Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ ra quyết định sơ bộ áp thuế Chống trợ cấp và Chống bán phá giá ...

Ngay sau khi hai doanh nghiệp Việt Nam là Công ty thép SeAH Vina và Hot Rolling Pipe bị Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ và Bộ Thương mại Mỹ ra quyết định sơ bộ áp thuế Chống trợ cấp và Chống bán phá giá ở mức 24,22% và 111,47%, thì Cơ quan Biên phòng Canada (CBSA) cũng thông báo khởi xướng điều tra Chống bán phá giá và Chống trợ cấp đối với một số sản phẩm ống thép dẫn dầu nhập khẩu từ 8 nước, trong đó có Việt Nam. Đây là vụ kiện thứ năm liên quan đến ngành thép trong nước.

Thời gian gần đây, các vụ kiện thương mại từ nước khác áp lên Việt Nam ngày càng tăng, không chỉ trong ngành thép mà còn nhiều ngành khác như thủy sản, sơ, lốp xe, giày dép, túi nhựa, giấy… Liệu rằng đã vào Hiệp định Đối tác TPP nhưng với những rào cản thương mại ngày càng dày đặc thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ còn được hưởng lợi?

Xuất khẩu tăng, vụ kiện cũng tăng

Thông thường một sản phẩm bất kỳ có tỉ lệ xuất khẩu vào một nước nào đó tăng cao và có giá rẻ hơn sản phẩm của nước sở tại rất hay bị vướng phải những vụ kiện thương mại như Chống bán phá giá và Chống trợ cấp.

Vụ kiện Chống bán phá giá đầu tiên xảy ra năm 2002 với sản phẩm cá tra và basa. Theo số liệu từ Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam, tính đến 31.3.2013, Việt Nam mới chỉ có 52 vụ. Tuy nhiên, tính đến tháng 3.2014, có 73 vụ.

Tính riêng tại thị trường Mỹ, trong 10 năm đã có tới 8 vụ điều tra chống phá giá và trợ cấp với các sản phẩm xuất xứ từ Việt Nam, nhất là thủy sản. Cá tra và tôm là hai mặt hàng chủ lực của Việt Nam xuất vào Mỹ nhưng thường xuyên bị khởi kiện, có thể được xét như một sự kiện hằng năm vậy. Giữa năm 2013, Bộ Thương mại Mỹ có quyết định khởi kiện con tôm của Việt Nam với mức thuế rất cao, từ 1,15% đến 7,88%. Cá tra cũng thường xuyên phải chịu cảnh tương tự như tôm, đợt áp thuế lần 9 vào tháng 9.2013 đã tăng lên gấp 3 lần. Đầu tháng 7 vừa qua Mỹ tiếp tục áp thuế lần 10 với cá tra.

Không chỉ có cá tra, Mỹ đang tiếp tục áp thuế lên nhiều sản phẩm xuất khẩu khác của Việt Nam như, vụ kiện kép với đinh thép, thép hàn chịu lực không gỉ, cá tra và gần đây nhất là thông tin điều tra năng lực cạnh tranh ngành gạo đối với một số nước trong đó có Việt Nam.

Mặc dù sau đó các doanh nghiệp Việt Nam có giành được chiến thắng cho tôm cá nhưng những vụ kiện như vậy đã ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và sự đầu tư của doanh nghiệp. Một lý do khác khiến một số doanh nghiệp thủy sản ngừng xuất khẩu vì lo sợ mức thuế tăng cao do Bộ Thương mại Mỹ liên tục thay đổi nước thứ ba được dùng để tính thuế. Đây là những khó khăn, gây thiệt thòi, giảm tỉ lệ xuất khẩu của doanh nghiệp.

Ngoài Mỹ, nhiều nước khác cũng đang áp đơn kiện lên các sản phẩm của Việt Nam như Úc kiện thép mạ kẽm, Indonesia kiện về thép cán nguội, Cananda kiện thép ống dẫn dầu…

Đứng trước sản lượng xuất khẩu các nước tăng nhanh, biện pháp phòng vệ thương mại thường được dùng như “cứu cánh” để bảo hộ các doanh nghiệp trong nước. Đối với Việt Nam, một nước chưa được thừa nhận là nước kinh tế thị trường, thường dễ gặp phải tình trạng này.

TPP có giúp doanh nghiệp thoát kiện?

Câu chuyện của WTO là một tấm gương để TPP rút ra bài học. Tham gia WTO nhiều năm, nhưng đến nay các doanh nghiệp Việt Nam vẫn không hưởng được những ưu đãi như kỳ vọng. Trong khi đó, ở những nước có tiềm năng để sản phẩm Việt Nam xuất khẩu thì doanh nghiệp liên tục phải chịu các vụ kiện thương mại.

Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia Kinh tế Cao cấp, cho biết Việt Nam mở cửa thị trường nhưng lại không có biện pháp phòng vệ thương mại (hạn chế nhập khẩu đối với một số loại hàng hóa khi việc đó đe dọa ngành sản xuất địa phương) nên các doanh nghiệp trong nước rất khó cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Trong khi đó, nước ngoài tuy mở cửa nhưng lại đưa ra chính sách phòng vệ khắt khe khiến doanh nghiệp Việt khó thâm nhập.

Ở một khía cạnh khác, sau khi tham gia TPP, Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế. Chẳng hạn, có nhiều mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào các nước trong nhóm này sẽ giảm thuế về 0%. Tuy nhiên, ngoài một số mặt hàng như dệt may, da giày thì không phải mặt hàng nào cũng được hưởng những ưu đãi về thuế.

Ngoài ra, nhiều sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam ở một số thị trường cũng đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi nên TPP cũng chưa mang lại lợi ích gì mới. Ví dụ ở thị trường Mỹ, hàng thủy sản chưa chế biến hay đồ gỗ (hai lĩnh vực xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này) thực tế đang được hưởng mức thuế suất gần bằng 0%. Còn ba nước khác là Úc, New Zealand và Peru đã áp dụng mức thuế 0% cho các sản phẩm thủy sản như cá hay tôm của Việt Nam.

Thật ra, nhiều doanh nghiệp hy vọng rằng đàm phán TPP đã khiến Mỹ có những nhượng bộ tích cực trong các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với thủy sản và nhiều ngành khác của Việt Nam. Tuy nhiên, dường như đàm phán TPP hoàn toàn không tác động đến kết quả các vụ kiện Chống bán phá giá, Chống trợ cấp của Mỹ đối với thủy sản Việt Nam.

Theo phân tích từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đàm phán TPP không có nội dung nào hạn chế quyền của các quốc gia nhập khẩu trong việc sử dụng các công cụ phòng vệ này. Dù TPP có Chương về phòng vệ thương mại, nhưng nội dung của các Chương này rất ngắn và chủ yếu nhấn mạnh yếu tố hợp tác trong việc xử lý nhanh các khiếu nại, nếu có.

Nói cách khác, sẽ không có chuyện TPP sẽ khiến các nhà nhập khẩu giảm bớt những biện pháp phòng vệ thương mại đối với Việt Nam. Cũng sẽ không có chuyện cơ quan điều tra bớt sử dụng những phương pháp tính toán bất lợi cho doanh nghiệp Việt. Càng không có khả năng nào để những yêu cầu hay tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm được hạ thấp, hoặc ít ra là không phát sinh thêm.

Thực tế, hiện nay các hàng thuế quan vẫn rất khó được gỡ bỏ. Hàng rào này đổ thì hàng rào khác lại dựng lên với mục tiêu bảo vệ bằng một giá cho hoạt động sản xuất của các nước. TPP có được ký kết, nhưng các quốc gia lại tăng cường biện pháp phòng vệ thương mại như áp thuế Chống bán phá giá và Chống trợ cấp thì doanh nghiệp Việt sẽ vẫn khó xuất khẩu.

Mai Hân

Nhịp cầu đầu tư

Trong bối cảnh quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt khi các nước tham gia bỏ lỡ lần lượt ba thời hạn kết thúc đàm phán, nhiều chuyên ...

Trong bối cảnh quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vẫn còn gặp nhiều trở ngại, đặc biệt khi các nước tham gia bỏ lỡ lần lượt ba thời hạn kết thúc đàm phán, nhiều chuyên gia đã bày tỏ hoài nghi về triển vọng các nước tiến tới ký kết nhằm đưa TPP trở thành một hiệp định toàn diện của thế kỷ 21.

Phóng viên TTXVN tại Canda dẫn mạng tin "Diễn đàn Đông Á" ngày 15/7 cho biết một nguyên nhân giải thích cho sự chậm trễ trong việc hoàn thành TPP là thành phần tham gia đàm phán quá đa dạng.

Không giống với các hiệp định hợp tác đa phương, TPP trải rộng về địa lý, với độ phủ sóng gồm hai nền kinh tế đứng đầu và đứng thứ ba thế giới (Mỹ và Nhật Bản) cùng các nước phát triển năng động của châu Á, Bắc và Nam Mỹ. Bên cạnh đó, các nước này còn đa dạng về kinh tế.

Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người của Australia đang gấp khoảng 40 lần thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam. Nền kinh tế Mỹ có quy mô lớn gấp 1.000 lần so với của Brunei. Các chuyên gia cho rằng chính những sự đa dạng này khiến cho các bên khó tìm được cơ sở và nguyên tắc chung khi thương lượng.

Nguyên nhân thứ hai là các nước tham gia đàm phán TPP đưa ra một chương trình nghị sự quá lớn, khiến việc tìm được tiếng nói chung là hết sức khó khăn. Ngoài ra, giữa các thành viên tham gia đàm phán cũng tồn tại bất đồng về các chính sách của mỗi nước.

Trước thực tế này, các chuyên gia đã bày tỏ lo ngại tinh thần ban đầu của TPP đang suy yếu và có nguy cơ trở thành một loạt các thỏa thuận song phương, với thỏa thuận Mỹ-Nhật là cốt lõi.

Theo họ, nếu TPP bị hoãn lại vô thời hạn, hoặc nếu được hoàn thành với vô số ngoại lệ, hiệp định này sẽ cần có các điều khoản phục vụ lợi ích của các thành viên.

Đàm phán TPP được khởi động từ năm 2005, hiện nay có sự tham gia của 12 nước gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Một khi được ký kết, hiệp định này sẽ thiết lập một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

vietnam+

Vòng đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham dự của 12 nước tham gia đàm phán TPP khép lại cuối tuần qua tại Ottawa, Canada mà không đạt được thỏa thuận nào, thậm chí cả về ...

Vòng đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với sự tham dự của 12 nước tham gia đàm phán TPP khép lại cuối tuần qua tại Ottawa, Canada mà không đạt được thỏa thuận nào, thậm chí cả về thời gian tổ chức cuộc họp sắp tới, do những khác biệt cơ bản liên quan đến các vấn đề dễ gây bất đồng như sở hữu trí tuệ, các công ty quốc doanh hay môi trường.

Như vậy, sáu tháng sau khi bỏ lỡ thời hạn ban đầu cho việc đạt được thỏa thuận này vào cuối năm 2013, các nước tham gia đàm phán TPP vẫn chưa thể vạch ra được con đường rõ ràng nào hơn để tiến tới việc đạt được thỏa thuận này.

Giới quan sát cho rằng một số nhà đàm phán có thể bắt đầu đặt câu hỏi rằng liệu các cuộc đàm phán TPP có thể duy trì tiến độ hiện nay, trong bối cảnh Mỹ - nước khởi xướng thỏa thuận thương mại này và là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại trong việc đạt được TPP - có thể sẽ không đưa ra được bất kỳ quyết định làm thay đổi cục diện trong những tháng tới.

Nguyên nhân là do ảnh hưởng của cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ dự kiến diễn ra tại Mỹ vào tháng 11/2014.

Tại cuộc gặp ở Ottawa lần này, trưởng đoàn đàm phán và các quan chức thương mại của các nước tham gia tiến trình đàm phán TPP cũng không đả động gì đến đề xuất của Tổng thống Mỹ Barack Obama hồi tháng trước rằng ông sẽ đưa ra một bản dự thảo TPP vào tháng Mười Một tới.

Mặc dù hứa hẹn sẽ tiếp tục nhóm họp để giải quyết những vẫn đề còn tồn đọng, nhưng các nước tham gia đàm phán đã không thể đi tới quyết định thời điểm diễn ra cuộc họp sắp tới.

Các cuộc đàm phán TPP được bắt đầu từ năm 2010 với sự tham gia của chín nước và hiện nay con số này đã được nâng lên 12 nước, bao gồm Mỹ, Australia, Brunei , Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Singapore, Peru, Nhật Bản và Việt Nam.

Một khi được ký kết, hiệp định này sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

vietnam+

Các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bước vào "giai đoạn tăng tốc" cuối tuần qua, với các nhà đàm phán chủ chốt của 12 nước tiến hành thảo luận cấp chuyên viên.

Các cuộc đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) bước vào "giai đoạn tăng tốc" cuối tuần qua, với các nhà đàm phán chủ chốt của 12 nước tiến hành thảo luận cấp chuyên viên.

Tham gia đàm phán TPP có Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam.

Các đại biểu tham dự Hội nghị Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) diễn ra ở Singapore, hồi tháng Năm vừa qua

Phát biểu trước cuộc thảo luận trên, Koji Tsuruoka, trưởng đoàn đàm phán của Nhật Bản về TPP nhận định đây là cuộc họp quan trọng để hướng tới một thỏa thuận vào cuối năm nay. Các cuộc đàm phán trên là một phần trong hội nghị bất thường kéo dài 10 ngày kể từ ngày 3/7, đề cập đến vấn đề luật pháp, thể chế, cũng như thị trường lao động.

Trước đó, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã lên tiếng kêu gọi các bên tiến tới một thỏa thuận khung TPP vào tháng 11/2014.

Các cuộc đàm phán TPP đã bị trì hoãn một phần do bất đồng giữa Nhật Bản và Mỹ liên quan đến vấn đề thuế quan. Nếu được thực thi, TPP sẽ tạo ra một khu vực thương mại tự do rộng lớn, chiếm gần 40% GDP toàn cầu và 1/3 tổng thương mại của thế giới.

Ngày 7/7, trong chuyến thăm New Zealand, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Thủ tướng nước chủ nhà John Key đã nhất trí sẽ nỗ lực hướng tới hoàn tất việc ký kết TPP song phương trong một ngày gần nhất.

Thủ tướng John Key khẳng định để hoàn tất TPP, còn có rất nhiều việc phải làm đối với cả hai nước cũng như tất cả các bên tham gia đàm phán TPP, song cả Tokyo và Wellington sẽ nỗ lực tối đa để đạt được thỏa thuận đa quốc gia toàn diện này.

Theo ông, khó có khả năng đạt được một thỏa thuận trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ ở Mỹ, nhưng cũng có "cánh cửa cơ hội" sau tháng 11 tới.

Hương Giang

vietnam+

Các quan chức từ 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã bắt đầu cuộc họp bất thường kéo dài 10 ngày tại Ottawa, Canada vào ngày 3/7, khi Mỹ muốn sớm đạt thỏa ...

Các quan chức từ 12 nước tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã bắt đầu cuộc họp bất thường kéo dài 10 ngày tại Ottawa, Canada vào ngày 3/7, khi Mỹ muốn sớm đạt thỏa thuận, cụ thể là trong thời gian Tổng thống Barack Obama có chuyến công du châu Á vào tháng 11 tới.

Các quan chức tham dự cuộc họp sẽ tập trung thảo luận các vấn đề như quyền sở hữu trí tuệ, với lo ngại về bản quyền phim và bằng sáng chế các loại thuốc mới và việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước, nhằm đảm bảo sự cạnh tranh công bằng.

Từ ngày 5/7, trưởng các phái đoàn đàm phán của các nước sẽ ngồi vào bàn thương lượng và cũng sẽ có các cuộc họp song phương bên lề phiên họp toàn thể. Tuy nhiên, một cuộc họp giữa các bộ trưởng thương mại, thường diễn ra sau các cuộc đàm phán giữa các nhóm làm việc, chưa được lên kế hoạch, trong khi các quyết định cuối cùng cho việc ký kết thỏa thuận có thể được đưa ra tại cuộc họp này.

Ông Koji Tsuruoka, Trưởng phái đoàn đàm phán của Nhật Bản, cho rằng cuộc họp tại Ottawa là dịp rất quan trọng để đưa đàm phán TPP đến giai đoạn cuối cùng, bày tỏ hy vọng về những tiến triển để các quan chức các nước có thể ấn định thời điểm cho cuộc họp cấp bộ trưởng.

Nhật Bản và Mỹ là hai nền kinh tế lớn nhất trong số 12 nước hiện tham gia đàm phán TPP, gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam. Bất đồng giữa hai nền kinh tế lớn nhất này là một trở ngại cho việc sớm đi đến ký kết sáng kiến trên.

Đàm phán về TPP bắt đầu từ năm 2005, ban đầu chỉ có sự tham dự của bốn nước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore. Nay với sự góp mặt của 12 nước, một khi được ký kết, TPP sẽ thiết lập một khu vực thương mại tự do với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới.

Lê Minh

Vietnam+

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng.

Theo lãnh đạo Bộ Công Thương, nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng.

Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh cho biết, dệt may là một trong những lợi ích cốt lõi của Việt Nam khi tham gia Hiệp đinh kinh tế đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Mỹ là thị trường lớn đối với dệt may Việt Nam. Do vậy, đoàn đàm phán Việt Nam sẽ tiếp tục đàm phán để đạt được kết quả tốt nhất có thể. Trước mắt, với những quy định khắt khe của Mỹ và một số nước, hai bên vẫn đang đưa ra bàn luận để tìm tiếng nói chung.

Hiện Việt Nam vẫn phải nhập khẩu vải, mặc dù vải Việt Nam có thể sản xuất được nhưng chất lượng không đáp ứng được xuất khẩu. Với thực tế này, sau nhiều vòng đám phán, Mỹ đưa ra sáng kiến “nguồn cung thiếu hụt”, tức là có thể cho Việt Nam nhập khẩu vải từ đối tác thứ ba nhưng dựa trên những danh mục sản phẩm theo chuẩn phía họ cung cấp vào thị trường Việt Nam, xem đó là loại vải có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam.

Phương án này này có thể tạo ra “nguyên tắc xuất xứ lỏng” - Việt Nam chỉ cần nhập vải về và cắt may rồi được hưởng ưu đãi thuế quan. Nhưng Thứ trưởng Trần Quốc Khánh lo ngại rằng, chính điều này sẽ khiến doanh nghiệp Việt Nam chỉ dừng lại ở việc làm gia công mà không có động lực để đầu từ mạnh mẽ vào dệt may. “Nếu chấp nhận “quy tắc xuất xứ lỏng” thì Việt Nam vẫn chỉ làm gia công, không bao giờ nghĩ đến việc đầu tư thêm để nâng cao giá trị gia tăng”, Thứ trưởng khẳng định.

Thêm vào đó, dệt may là ngành thu hút lực lượng lao động đông đảo và nhân công rẻ, nếu cứ mãi chỉ làm gia công thì dệt may Việt Nam sẽ dần dần chịu sức ép cạnh tranh từ các nước trong khu vực, cụ thể là Myanmar.

Vì vậy, để phát triển toàn diện ngành dệt may, không còn cách nào khác là nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, chủ động về nguồn nguyên liệu sợi, nhuộm; đầu tư cơ sở sản xuất, tránh sản xuất kiểu “mì ăn liền”.

Quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi” mới nghe qua có vẻ rất khắt khe nhưng để được hưởng ưu đãi thì chúng ta phải đầu tư. “Không người nào đầu tư và hầm lò nếu còn than lộ thiên và không ai sẽ đầu tư vào dệt, sợi, vải để nâng cao giá trị gia tăng tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động nếu còn “nguyên tắc xuất xứ lỏng””, vị lãnh đạo Bộ Công Thương ví von.

Trên thực tế, việc đầu tư vào dệt, nhuộm gặp khó khăn bởi cần vốn đầu tư lớn đồng thời các địa phương gần như không ủng hộ. Tuy nhiên, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh vẫn lạc quan khi cho rằng dệt, nhuộm vốn đầu tư đắt nhưng không phải chúng ta không có tiền. “Tôi tin rằng khi doanh nghiệp đã nhìn thấy đầu ra họ sẽ sẵn sàng đầu tư”, ông Khánh nói.

Việc ô nhiễm môi trường đối với các dự án dệt, nhuộm trước đây là do chúng ta chưa thực hiên quy chuẩn trong việc xử lý môi trường. Khi thực hiện quy định nghiêm ngặt về xử lý môi trường vẫn có thể thu hút đầu tư vào lĩnh vực dệt, nhuộm.

Phan Thu

hải quan

Không phải từ bây giờ khi ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may xuất khẩu đứng trước nguy cơ gặp khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, thì chúng ta mới đặt ra việc ...

Không phải từ bây giờ khi ngành công nghiệp dệt may Việt Nam, đặc biệt là ngành dệt may xuất khẩu đứng trước nguy cơ gặp khó khăn về nguồn nguyên phụ liệu từ Trung Quốc, thì chúng ta mới đặt ra việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, sau hơn hai thập niên phát triển mạnh mẽ với vào top đầu hàng xuất khẩu cả nước thì các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu vẫn chưa thể chủ động với nguồn cung cấp trong nước. Trong khi đó thì Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thị trường chung của Cộng đồng ASEAN năm 2015, ASEAN+1… đã đến gần.

Cho trứng vào một giỏ

Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam có hơn 4.000 doanh nghiệp thu dụng 2,5 triệu công nhân và tạo ra kim ngạch xuất khẩu hơn 20 tỉ USD theo số liệu thống kê năm 2013. Tuy vậy, do tính chất một nền công nghiệp gia công tỷ lệ nội địa hóa rất thấp, ngành dệt may phụ thuộc vào máy móc cũng như nguyên phụ liệu, bông, vải, xơ, sợi nhập khẩu từ nước ngoài.

Theo ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hội Dệt May Thêu Đan TP.HCM thì các doanh nghiệp nội địa, bao gồm cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài FDI chỉ mới cung ứng hơn 30% các loại nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, chủ yếu là phụ liệu và 67% phải nhập từ Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Brazil…

Trong đó, Trung Quốc chiếm tỷ lệ 26%. Nhưng nếu tính cả những vật tư như hóa chất cơ bản cho dệt, nhuộm hay phụ tùng thay thế thì hằng năm mức tổng nhập chính thức từ nước này là 40%. Do vậy, người ta dễ thấy hàng Trung Quốc có mặt ở hầu hết các khâu trong quá trình sản xuất của hàng dệt may.

Đó là lý do tại sao, bên cạnh việc đặt hàng gia công khách hàng thường chỉ định nguồn cung ứng hay thậm chí là cung cấp cả nguyên phụ liệu thì doanh nghiệp Việt Nam ít khi chủ động nhận hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm).

Ông Ngô Đức Hòa, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dệt May Thắng Lợi cho biết về tình hình này, nếu tự cung cấp đơn vị ông sẽ không thực hiện nổi đơn hàng, mua trong nước thì lượng vải chỉ đạt yêu cầu 20%, còn mua của các nước trong nhóm đang đàm phán Hiệp định TPP thì bị áp lực giá đầu vào cao hơn thị trường.

Không chủ động được nguyên, phụ liệu trong nước, phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài đã làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, khiến giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may còn thấp.

Sau nhiều năm phát triển thì tỷ lệ làm hàng gia công của Việt Nam vẫn chiếm 70%, và như thế, doanh nghiệp chỉ nhận được 15% giá trị từ đơn hàng, nếu làm hàng FOB thì cao hơn từ 25 đến 30%. Với các nước chủ động về nguồn nguyên phụ liệu hoặc đã tham gia được vào thị trường ODM (tự thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm) thì tỷ lệ này lên đến 40 – 50%.

Trong khi đó, theo đánh giá của các khách hàng, tay nghề lao động của ngành may xuất khẩu Việt Nam hiện đã hơn hẳn nhiều nước. Trình độ tổ chức sản xuất, đảm nhận những đơn hàng xuất khẩu có độ khó như đồ vest, jacket, đồ thể thao hay thậm chí là hàng thời trang sản xuất với số lượng ít nhưng chất lượng cao… tạo được sự tin cậy của đối tác, nên dù trong những năm suy giảm về kinh tế vừa qua, ngành may xuất khẩu vẫn duy trì được sự phát triển so với nhiều ngành nghề khác. Vì vậy, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành chuỗi cung ứng trong nước trở thành nhu cầu cấp thiết của ngành dệt may hiện nay.

Trước mắt, để tránh sự lệ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu từ nước ngoài, nhiều doanh nghiệp cho rằng giải pháp tốt nhất là ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam bớt dần các sản phẩm thuộc phân khúc thấp, áp lực cạnh tranh cao về giá và lệ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu Trung Quốc để chuyển dần vào phân khúc trung cao.

Khi đó, các doanh nghiệp có thể chọn lựa nhiều nguồn cung cấp hơn từ Hàn Quốc, Đài Loan, Ấn Độ… mà không ảnh hưởng nhiều đến giá thành. Có doanh nghiệp đã chủ động đặt chi nhánh tại thị trường Mỹ để nhận được đơn hàng trực tiếp, có doanh nghiệp thuyết phục được khách hàng dùng vải nội địa thay thế cho vải nhập khẩu… hay đã có doanh nghiệp chuẩn bị những bước cần thiết để đặt chân vào thị trường ODM.

Hướng đến TPP

Mục tiêu hiện nay của ngành dệt may Việt Nam là hướng về TPP. Theo ông Lê Tiến Trường, Phó chủ tịch Hiệp hội dệt may Việt Nam, kiêm Phó tổng giám đốc thường trực Vinatex, do có đến 60% thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam tập trung vào các nước thuộc khối đàm phán TPP, nên khi tham gia Việt Nam sẽ được hưởng những ưu đãi đáng kể về thuế quan. Như thị trường Hoa Kỳ, hàng dệt may Việt Nam hiện chịu thuế suất khoảng 17 – 18%, khi Hiệp định TPP được ký kết thuế suất này sẽ giảm dần xuống 0%.

Với các quy tắc xuất xứ có khuyến khích sử dụng nhiều nguyên liệu nội khối TPP và hàng trong nước, nên trong dài hạn điều này sẽ thúc đẩy Việt Nam đầu tư vào khâu sản xuất nguyên liệu, cụ thể là sản xuất sợi, dệt và nhuộm. Và điều quan trọng là dệt may Việt Nam sẽ có thêm cơ hội xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ.

Dự kiến, ngành dệt may Việt Nam sẽ đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 60% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Khi đó, việc hưởng lợi từ thuế suất mới thực sự phát huy tác dụng.

Mong muốn là như vậy và cũng đã có nhiều nhà đầu tư nhanh chân đến Việt Nam tìm cơ hội đón đầu TPP tạo nên một làn sóng đầu tư từ hơn một năm nay trong lĩnh vực sản xuất nguyên phụ liệu dệt may, gồm Hongkong, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Họ không chỉ đầu tư các dự án mới mà tiếp tục rót vốn để tăng vốn lũy kế các dự án còn hiệu lực, theo Bộ Công thương tính đến ngày 20/5 đã đạt là 7,8 tỉ USD (cuối năm 2012 mới chỉ là 4,58 tỉ USD).

Các doanh nghiệp trong nước như Thắng Lợi, Phong Phú, Dệt May Gia Định, các nhà máy thuộc Vinatex như Nhà máy sợi Hồng Lĩnh, Phú Bài, Dệt Yên Mỹ… cũng đang tích cực đầu tư mới cũng như đổi mới công nghệ và thiết bị nhằm thay đổi tình trạng nghịch lý hiện nay của Việt Nam là xuất sợi thô nhưng nhập vải thành phẩm cũng như yếu kém về mặt hàng phụ liệu như phụ liệu trang trí, các loại nút có xi, mạ…

Có một nút thắt vẫn chưa gỡ được dù nhiều lần các doanh nghiệp đã lên tiếng, thậm chí có doanh nghiệp cho rằng nếu Việt Nam không có chính sách hỗ trợ đầu tư thì ngành công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn mãi ở kiếp làm thuê, đó là chúng ta quá yếu trong khâu nhuộm, hoàn tất vải. Đây là công đoạn gây ô nhiễm nặng cho môi trường nên hầu hết các địa phương đã từ chối cho đặt nhà máy khi doanh nghiệp chưa có phương án rạch ròi.

Tuy nhiên, nguyên nhân chính để doanh nghiệp không mặn mà là chi phí đầu tư, vận hành nhà máy quá lớn. Đầu tư một doanh nghiệp may chỉ vài mươi tỉ đồng, nhà máy dệt có thể lên đến vài trăm tỉ nhưng khâu nhuộm và hoàn tất thì phải đầu tư hàng nghìn tỉ đồng để xử lý ô nhiễm.

Nếu không có các chính sách miễn giảm tiền thuê đất, thuế, phí hay thu nhập doanh nghiệp thì khó có nhà đầu tư nào dám mạo hiểm và các cơ quan chức năng cứ phải tiếp tục đi “rình” doanh nghiệp xả nước thải ra môi trường.

Ai cũng biết Trung Quốc mạnh về vải vóc, những họ phải trả giá bằng sự ô nhiễm nặng nề của con sông Dương Tử. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đề nghị nên quy hoạch đầu tư lĩnh vực dệt may tại các khu công nghiệp tập trung và có chính sách khuyến khích cho đầu tư dệt nhuộm.

Các doanh nghiệp có nguồn nước thải ô nhiễm mà không có điều kiện đầu tư thì phải trả phí tương tự như thu phí cầu đường dạng BOT mới có thể đẩy nhanh hơn các dự án phát triển nguyên phụ liệu, dệt, nhuộm mà hiện vẫn đang bế tắc.

Bởi vì, nếu chuẩn bị không kịp chúng ta sẽ gặp một thách thức lớn khác như ông Lê Tiến Trường đã nêu là, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam làm thế nào tiếp cận thị trường khối các nước đang đàm phán TPP, trong khi nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam lại chủ yếu nhập khẩu từ các nước ngoài khối này. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng sẽ phải đối mặt với việc mở cửa thị trường trong nước cho các nước thành viên TPP vào Việt Nam khi hiệp định được ký kết.

Phải mở cửa nhưng nội tại của ngành chưa thật sự bền vững và sẽ dẫn đến những điểm yếu khác. Ðó là tỷ trọng tích lũy của ngành chưa cao; các doanh nghiệp dệt may chủ yếu mới đáp ứng nhu cầu về khâu may (là khâu đầu tư thấp, dễ dịch chuyển).

Doanh nghiệp dệt may Việt Nam muốn tận dụng hiệu quả cao nhất TPP thì phải hình thành chuỗi cung ứng bên trong, có sự liên kết hữu cơ giữa các khâu để đi đến một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ thiết kế – nguyên, phụ liệu – may – phân phối hình thành trong cộng đồng các thành viên tham gia ký kết Hiệp định TPP.

• Hàng xuất khẩu dệt may của Việt Nam đã có mặt ở khoảng 50 thị trường đạt kim ngạch trên 10 triệu USD, trong đó, 16 thị trường đạt trên 100 triệu USD gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Canada, Trung Quốc, Hà Lan và Đài Loan. Bốn tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng 20% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng chung của tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (16,9%). Dự kiến năm 2014, con số xuất khẩu tiếp tục vượt qua con số 20 tỉ USD.

• Đối với 11 nước trong khối đàm phán Hiệp định TPP, xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2013 đạt 11.684 triệu USD, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tỷ trọng xuất khẩu dệt may trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào một số thị trường TPP đạt khá cao, như Hoa Kỳ 36%, Canada 25,2%, Nhật Bản 17,4%, Chile 14%, Mexico 9,8%…

Kim Phi

Doanh nhân sài gòn

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang tiến đến giai đoạn đàm phán then chốt với gần 20 lĩnh vực xếp vào loại phức tạp về mặt kỹ thuật và nhạy cảm trong việc mở cửa thị trường.

Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang tiến đến giai đoạn đàm phán then chốt với gần 20 lĩnh vực xếp vào loại phức tạp về mặt kỹ thuật và nhạy cảm trong việc mở cửa thị trường.

Tuy nhiên, các nước tham gia TPP đều có chung quan điểm không hoán đổi chất lượng của Hiệp định TPP để lấy thời hạn kết thúc đàm phán.

Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên thuộc Bộ Công Thương Việt Nam, đến nay TPP đã thực hiện được 19 phiên đàm phán chính thức cùng nhiều phiên đàm phán nhóm.

12 quốc gia tham gia TPP đã đạt được thỏa thuận sơ bộ về một số lĩnh vực mang tính kỹ thuật, không quá nhạy cảm như hợp tác và xây dựng năng lực, doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách cạnh tranh thuần túy…. Mục tiêu ban đầu mà các nước đặt ra là quyết tâm kết thúc đàm phán vào cuối năm 2013 nhưng thực tế, khối lượng các vấn đề còn lại rất nhiều và phức tạp.

Bản thân các Bộ trưởng đã vào cuộc (qua 5 phiên đàm phán) nhưng vẫn chưa tìm được giải pháp ổn thỏa mà tất cả các bên đồng thuận. Kỳ vọng kết thúc đàm phán trong 6 tháng đầu năm nay cũng không còn cơ hội và được xác định ngay sau Hội nghị Bộ trưởng các nước TPP tại Singapore vào tháng Năm vừa qua.

Cũng theo Vụ Chính sách thương mại đa biên, Việt Nam cũng như các nước đã đặt ra các lợi ích và nghĩa vụ của từng quốc gia và đều thống nhất, chỉ khi nào các bên đều có được sự cân đối giữa quyền lợi và nghĩa vụ, lúc đó TPP mới có thể kết thúc đàm phán. Việt Nam cũng như các nước không sẵn sàng hy sinh quyền lợi chỉ để đáp ứng một thời hạn nào đó. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể vẫn đang băn khoăn về lợi ích và thách thức khi Hiệp định TPP được ký kết nhưng có thể khẳng định, chắc chắn sẽ có những lợi ích cốt lõi đối với nền kinh tế nói chung, các doanh nghiệp nói riêng.

Liên quan đến thuế quan, Việt Nam sẽ đáp ứng quy tắc chung của TPP về việc xóa bỏ 100% thuế nhập khẩu (trong đó 90% là xóa bỏ ngay khi hiệp định có hiệu lực), nhưng Việt Nam yêu cầu phải có được lộ trình giảm thuế cụ thể nhất là với các mặt hàng nhạy cảm.

Lý giải cho vấn đề này, các chuyên gia cho rằng, thuế nhập khẩu bình quân của Việt Nam hiện nay là 13%, trong khi thuế bình quân của Hoa Kỳ khoảng 4%, Nhật Bản là 3% và Australia chỉ hơn 2%. Do vậy, rõ ràng thời gian mức thuế đi từ 1-4% về 0% ngắn hơn nhiều so với mức 13%.

Uyên Hương

vietnam+

Đang tải dữ liệu...

Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán