Từ chính sách của Fed nhìn lại 'mục tiêu kép' của Việt Nam

21-09-2020 09:28:00+07:00
21/09/2020 09:28 3
  •  

Từ chính sách của Fed nhìn lại 'mục tiêu kép' của Việt Nam

Có một yếu tố luôn hiện hữu trong các chính sách của Fed: lạm phát. Xu hướng can thiệp sâu để kiềm chế lạm phát càng xuất hiện rõ hơn khi bộ sậu của Fed được bổ nhiệm dưới thời Tổng thống Donald Trump, bao gồm cả Chủ tịch Jerome Powell, theo trường phái New Keynesian.

* Fed báo hiệu không nâng lãi suất cho đến năm 2023, cam kết hỗ trợ thêm

Ngay từ năm 2018, Boesler, nhà phân tích kinh tế của Bloomberg, đã đặt dấu hỏi về việc liệu các chính sách của Fed tuân theo trường phái đó có thực sự phù hợp với tình hình kinh tế Mỹ lúc bấy giờ, đồng thời so sánh với đường lối của Fed dưới thời ông Paul Volcker vào những năm 1980.

Chính sách “diều hâu”

Vào thời Volcker, nước Mỹ phải đối mặt với lạm phát phi mã 2 chữ số, và vấn đề được giải quyết sau khi các chính sách thắt chặt tiền tệ có phần hà khắc được áp dụng. Các quan chức cấp cao của Fed hiện tại có điểm chung thú vị là cùng sống quãng đời thanh xuân của mình trong bối cảnh đó.

Dường như điều này có thể giải thích một phần vì sao các vị chóp bu Fed dưới thời Trump theo chủ thuyết New Keynesian luôn nhấn mạnh trọng trách chính yếu của ngân hàng trung ương, là kiềm chế lạm phát.

Còn hiện nay, liệu chính sách ưu tiên “dập lạm phát từ trong trứng nước” có thật sự đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, khi tình hình kinh tế Mỹ trong những năm gần đây đã khác xa mấy thập niên trước. Nổi bật là lạm phát vẫn bình chân như vại bất chấp việc cắt giảm lãi suất, còn tỷ lệ thất nghiệp lại xuống thấp kỷ lục trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra?

Theo kết quả khảo sát về tài chính của người tiêu dùng được Fed công bố năm 2017, tỷ lệ của cải các hộ gia đình Mỹ có thu nhập dưới “top 10%” nắm giữ, gần như giảm liên tục trong suốt 25 năm, từ 33,2% năm 1989 xuống còn 22,8% năm 2016.

Cũng trong báo cáo nói trên, có đến 80,2% số hộ trong “top 10%” có tiền để dành, trong khi tỷ lệ này ở nhóm 0-49,9% dưới cùng chỉ khoảng 42,9%, còn so với tổng số hộ gia đình được khảo sát là 55,4%. Điều này nói lên rằng phần lớn giai cấp trung lưu và người lao động Mỹ hiện có rất ít thu nhập dư thừa.

Do những đối tượng gửi tiền tiết kiệm và đầu tư lấy lãi sẽ chịu thiệt hại khi lạm phát gia tăng, có thể thấy đường lối can thiệp sâu để kiềm chế lạm phát trong bối cảnh những năm gần đây dường như chỉ làm lợi cho nhóm thiểu số có nhiều tiền.

Một chính sách như thế đã góp phần làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập và khoảng cách giàu nghèo. Đây cũng là những câu hỏi các phóng viên và nhà kinh tế đặt ra cho Chủ tịch Fed Jerome Powell.

Chính sách của Fed đang thúc đẩy cuộc đua giá cực mạnh của vàng bạc và Bitcoin

Tác động lên việc làm

Theo quy luật của đường cong Phillips truyền thống, lạm phát sẽ tăng khi tỷ lệ thất nghiệp giảm và ngược lại. Dựa theo nguyên tắc này, vào giữa năm 2018, Fed đã tuyên bố tỷ lệ thất nghiệp 4,5% là mức tối thiểu để ngăn lạm phát gia tăng.

Tuy nhiên trên thực tế, mối quan hệ này đang bị đặt dấu hỏi. Khi thất nghiệp gia tăng do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá cả lại không giảm như kỳ vọng, và khi kinh tế phục hồi, tỷ lệ thất nghiệp giảm, lạm phát lại không tăng. Hiện tượng này được gọi là “phẳng hóa đường cong Phillips”.

Đã có nhiều lý do giải thích nguyên nhân của hiện tượng “phẳng hóa” này. Trong đó có ý kiến cho rằng, việc Fed quá chủ động trong việc điều tiết lạm phát, đã góp phần làm biến dạng mối quan hệ truyền thống nói trên. Khi lạm phát có nguy cơ gia tăng, Fed “đón đầu” bằng cách nâng lãi suất ngay tức thì, giữ lạm phát không đổi nhưng lại gây ra tác dụng phụ là tăng tỷ lệ thất nghiệp.

Tương tự, khi lạm phát có chiều hướng giảm, việc giảm lãi suất tức thì của Fed có thể khiến tỷ lệ thất nghiệp giảm theo. Nói cách khác, để ngăn lạm phát đi hướng nào, tỷ lệ thất nghiệp sẽ đi theo hướng đó trước.

Như vậy một chính sách chống lạm phát quá mức của Fed có thể dẫn đến người lao động mất việc, trong khi lạm phát và tiền lương không có sự thay đổi đáng kể.

Thay đổi đường lối

Việc “phẳng hóa đường cong Phillips” cùng với những tác động khủng khiếp của đại dịch Covid-19, đã khiến Fed phải suy nghĩ lại. Việc ông Jerome Powell tuyên bố áp dụng mục tiêu lạm phát trung bình thay vì mức trần, cộng với thay đổi cách tiếp cận vấn đề thất nghiệp (chú trọng vào thiếu hụt hơn là thay đổi so với mức việc làm tối đa), cho thấy Fed đang sẵn sàng chấp nhận lạm phát vượt 2% ở mức chấp nhận được tại một số thời điểm, để có thể tạo công ăn việc làm và vực dậy nền kinh tế trong nước đang chịu thiệt hại nặng nề do đại dịch.

Kiểm soát lạm phát vẫn là nhiệm vụ quan trọng để bình ổn nền kinh tế, nhưng cũng không nhất thiết phải sợ lạm phát đến mức tìm cách kìm hãm nó trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Đây cũng là luận điểm đáng lưu ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cân nhắc trong việc triển khai “mục tiêu kép” của Chính phủ.

Động thái thay đổi chính sách của Fed có thể khiến các ngân hàng trung ương khác làm theo. Trong cuộc họp mới nhất vào ngày 15 và 16-9 tuần rồi, Fed đã phát tín hiệu không thay đổi lộ trình chính sách, ít nhất cho tới năm 2023.

Cho dù kiểm soát lạm phát vẫn là nhiệm vụ quan trọng để bình ổn nền kinh tế, nhưng cũng không nhất thiết phải sợ lạm phát đến mức tìm cách kìm hãm nó trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Thiết nghĩ đây cũng là luận điểm đáng lưu ý cho các nhà hoạch định chính sách Việt Nam cân nhắc trong việc triển khai “mục tiêu kép” của Chính phủ, là đẩy lùi dịch bệnh và phát triển kinh tế.

Với quốc gia có chính sách đề cao quyền lợi người lao động và công bằng trong thu nhập như Việt Nam, các cơ quan chức năng càng phải lưu ý tác động của chính sách “sợ” lạm phát thái quá có thể có tác động không tốt đến thị trường việc làm.

Nguyễn Trí Minh, Khoa Tài chính, Đại học Kinh tế TPHCM

Sài Gòn Đầu Tư Tài Chính

Loading...
×
vietstock logo
Về đầu trang