Lãi suất tiền gửi đầu năm 2026 tiếp tục tăng
Lãi suất tiền gửi đầu năm 2026 tiếp tục tăng
Những ngày đầu năm 2026, các ngân hàng tiếp tục nâng lãi suất huy động ở cả ngân hàng quốc doanh và tư nhân.
Ở kỳ điều chỉnh gần nhất, VIB tăng 0.5 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn từ 6-9 tháng lên 5.1%/năm. Trong khi các kỳ hạn khác được giữ nguyên ở mức 3.5%/năm cho kỳ hạn 1 tháng, 4.75%/năm cho kỳ hạn 3 tháng và 6.5%/năm cho kỳ hạn 12 tháng.
Từ ngày 17/12/2025, BVBank tăng mạnh lãi suất huy động từ 0.25-0.9 điểm phần trăm tất cả các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1-3 tháng tăng lên 4.75%/năm; kỳ hạn 6-9 tháng tăng lên 6.15%/năm, kỳ hạn 12 tháng tăng lên 6.45%/năm, kỳ hạn 24 tháng tăng lên 6.15%/năm và 36 tháng là 6.4%/năm.
VPBank cũng tăng lãi suất tiền gửi thêm 0.2 điểm phần trăm cho các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên từ ngày 01/01/2026. Cụ thể, với khoản tiền gửi dưới 1 tỷ đồng, ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất 4.75%/năm cho kỳ hạn 1-3 tháng; nhưng lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng trở lên được tăng lên 6%/năm.
LPBank cũng tăng từ 1-1.1 điểm phần trăm lãi suất tất cả kỳ hạn từ ngày 11/12/2025. Ngân hàng này đưa lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 tháng lên 4%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng lên 4.2%/năm, kỳ hạn 6-9 tháng là 5.2%/năm, kỳ hạn 12 tháng tăng lên 5.5%/năm và trên 12 tháng áp dụng 5.8%/năm.
Từ giữa tháng 12, các ngân hàng quốc doanh (Agribank, Vietcombank, VietinBank và BIDV) cũng tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm sau một thời gian dài đứng yên.
Với khách gửi tại quầy, Vietcombank, BIDV và VietinBank áp dụng biểu lãi suất giống nhau. Lãi suất kỳ hạn 1 tháng được tăng lên mức 2.1%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng lên 2.4%/năm, 9 tháng tăng lên 3.5%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng tăng 0.5 điểm phần trăm lên 5.2%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng tăng lên 5.3%/năm.
Riêng Agribank áp dụng tại quầy tiền gửi kỳ hạn 1 tháng là 2.4%/năm, kỳ hạn 3 tháng tăng lên 2.7%/năm, kỳ hạn 9 tháng là 3.8%/năm và 12 tháng là 5.2%/năm.
Tính đến ngày 05/01/2026, lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ 1-3 tháng được các ngân hàng dao động trong khoảng 1.6-4.75%/năm, kỳ hạn 6-9 tháng trong khoảng 2.9-6.5%/năm, kỳ hạn 12 tháng trong khoảng 3.7-6.55%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, Bac A Bank có mức lãi suất tiền gửi cao nhất là 6.55%/năm. Kế đó là VIB ở mức 6.5%/năm. BVBank là 6.45%/năm và OCB là 6.3%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, Bac A Bank giữ mức lãi suất cao nhất ở 6.5%/năm. Kế đó là OCB ở mức 6.2%/năm. BVBank có mức lãi suất 6.15%/năm xếp thứ 3.
Trong khi kỳ hạn 3 tháng đang có mức lãi suất cao nhất tại nhiều ngân hàng là 4.75%/năm gồm: OCB, BVBank, VPBank, PVcomBank, VIB, Sacombank và TPBank.
|
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại các ngân hàng tính đến ngày 05/01/2026
![]() |
Các ngân hàng ngoại cũng tăng lãi suất huy động như: Public Bank, Shinhank Bank và Standard Chartered Bank. Ở kỳ hạn 12 tháng, Public Bank giữ mức lãi suất cao nhất là 5.7%/năm; kỳ hạn 6 tháng là CIMB với 5.7%/năm và 3 tháng là 4.75%/năm.
|
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại các ngân hàng ngoại tính đến ngày 05/01/2026
![]() |
Trong báo cáo Triển vọng Việt Nam 2026 công bố ngày 26/12/2025, MBS dự báo lãi suất huy động 12 tháng có thể sẽ tiếp tục tăng thêm 50 điểm cơ bản trong năm 2026 do 3 nguyên nhân chính.
Thứ nhất, nới rộng chênh lệch cho vay và tiền gửi tại các ngân hàng thương mại. Nhu cầu vốn của nền kinh tế được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong 5 năm tới, với mục tiêu nâng tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội/GDP từ 32% lên 40%. MBS dự báo tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì 20% trong năm 2026. Trong khi tiền gửi dịch chuyển sang các kênh đầu tư ít thanh khoản khác như vàng, USD, bất động sản làm tốc độ vòng quay vốn nền kinh tế chậm lại.
Thứ hai, chênh lệch cấu trúc kỳ hạn giữa huy động và cho vay. Hiện nay tỷ lệ tiền gửi kỳ hạn ngắn (dưới 6 tháng) vẫn đang chiếm tỷ lệ chủ đạo 80% tổng tiền gửi hệ thống, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn cho kế hoạch đầu tư hạ tầng là rất lớn, dẫn đến áp lực thiếu hụt vốn dài trong hệ thống.
Thứ ba, chất lượng tài sản chưa cải thiện. Tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ nhóm 2 toàn ngành tại cuối quý 3/2025 đạt lần lượt 2% tăng nhẹ so với cuối năm 2024. Tỷ lệ bao nợ xấu toàn ngành đạt 84.3% tại cuối quý 3/2025, thấp hơn so với mức 91.4% cuối năm 2024.
Nợ xấu vẫn đang duy trì ở mức cao, trong khi tỷ lệ bao phủ đang giảm cho thấy áp lực trích lập dự phòng của ngân hàng thương mại tiếp tục tăng lên trong tương lai. Đây cũng là một yếu tố khiến lãi suất khó giảm trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, MBS cũng lưu ý về tác động có thể xảy ra khi ngân hàng trung ương Nhật tiếp tục tăng lãi suất trong năm 2026, sẽ kích hoạt dòng vốn rẻ tại khu vực Châu Á, trong đó có Việt Nam quay trở lại Nhật Bản, gián tiếp tạo áp lực lên nguồn vốn trong nước.
Báo cáo chiến lược đầu tư công bố ngày 31/12/2025, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) dự báo trong kịch bản cơ sở, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa tăng lãi suất điều hành ít nhất đến nửa đầu 2026, ưu tiên điều tiết qua thị trường mở.
Thay vào đó, NHNN sẽ linh hoạt điều tiết qua thị trường mở nhằm ứng phó với áp lực tỷ giá và nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Nhu cầu vốn đầu tư của nền kinh tế vẫn đang được đáp ứng bởi nguồn vốn ngắn và trung hạn từ hệ thống ngân hàng. Hệ lụy là có thể gây ra các đợt căng thẳng thanh khoản cục bộ tại một số thời điểm trong năm, có thể dẫn đến các đợt cao trào biến động lãi suất thực tế trong nền kinh tế. Lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 50-100 điểm cơ bản trong năm 2026. Lãi suất cho vay sẽ nhích lên mặt bằng mới theo sau mức tăng lãi suất huy động. VDSC kỳ vọng thị trường trái phiếu doanh nghiệp sẽ duy trì đà phục hồi với cơ cấu ngành nghề đa dạng hơn để chia sẻ gánh nặng vốn đầu tư dài hạn với hệ thống ngân hàng. Dù vậy, quá trình chuyển hóa này sẽ diễn ra chậm rãi theo sự thận trọng của nhà phát hành và nhà đầu tư. Tăng trưởng tín dụng năm 2026 dự kiến duy trì tương đương tốc độ của năm 2025, ước tăng khoảng 18% nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.
- 12:00 07/01/2026

