Góc nhìn từ GS. Trần Văn Thọ: Kinh tế tư nhân cần gì để dẫn dắt tăng trưởng?
Góc nhìn từ GS. Trần Văn Thọ: Kinh tế tư nhân cần gì để dẫn dắt tăng trưởng?
Để trở thành lực lượng dẫn dắt nền kinh tế, khu vực tư nhân vừa cần nâng cao năng lực tự thân và tinh thần doanh chủ, vừa cần được hỗ trợ bằng chính sách phù hợp theo từng nhóm quy mô. Trong dài hạn, doanh nghiệp Việt phải tận dụng nguồn lực từ FDI để phát triển nhưng không được để rơi vào tình thế phụ thuộc.
Chiều ngày 06/07/2026 đã diễn ra buổi giới thiệu cuốn sách “Kinh tế tư nhân Việt Nam” do Giáo sư Trần Văn Thọ đồng chủ biên cùng với Chuyên gia Kinh tế - bà Phạm Chi Lan, Phó Tổng Thư ký VCCI - ông Đậu Anh Tuấn và Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao - bà Vũ Kim Hạnh.
GS. Trần Văn Thọ là nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp về tư duy kinh tế cho Việt Nam. Ông từng tham gia tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, tham gia tổ tư vấn cải cách kinh tế và hành chính của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, cũng như cộng tác với ban nghiên cứu chính sách của Thủ tướng Phan Văn Khải. Hiện nay, ông là giáo sư danh dự tại Đại học Waseda (Tokyo, Nhật Bản).
GS. Trần Văn Thọ chia sẻ tại sự kiện ra mắt sách vào chiều 06/07/2026. Ảnh: BSA
|
Trong khuôn khổ sự kiện vào chiều ngày 06/07, GS. Trần Văn Thọ đã nêu ra 3 câu hỏi mà ông cho là cốt lõi trong việc định hình sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.
Đầu tiên, sự lớn mạnh của khối doanh nghiệp tư nhân mang ý nghĩa gì trong giai đoạn phát triển kinh tế mới? Thứ hai, Nhà nước cần những chính sách ra sao để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh? Thứ ba, bản thân doanh nghiệp tư nhân cần sở hữu tố chất gì để đảm nhận vai trò là động lực quan trọng nhất?
Bàn về quy mô doanh nghiệp và năng suất các nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP), GS. Trần Văn Thọ làm rõ vấn đề vì sao doanh nghiệp cần mở rộng quy mô thì mới có thể đảm nhận vai trò đầu tàu tăng trưởng.
Theo ông, TFP là yếu tố then chốt quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Dẫn kinh nghiệm Nhật Bản trong giai đoạn gần 20 năm tăng trưởng hai con số, ông cho biết TFP không chỉ đến từ việc đổi mới sáng tạo như quan niệm phổ biến tại Việt Nam. Trên thực tế, đổi mới sáng tạo chỉ đóng góp khoảng 40% vào TFP, trong khi phần còn lại đến từ các yếu tố quan trọng như quy mô kinh tế và thể chế.
Đáng chú ý, quy mô doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng, bởi chỉ những doanh nghiệp lớn mới có khả năng đầu tư lớn, qua đó tạo ra mức năng suất cao hơn. Bên cạnh đó, quá trình chuyển dịch lao động từ khu vực cá thể, phi chính thức sang khu vực chính thức với quy mô lớn cũng góp phần nâng cao TFP. Kinh nghiệm này không chỉ đúng với Nhật Bản mà còn được ghi nhận tại Hàn Quốc và những nền kinh tế khác.
Đặt vấn đề về chính sách để phát triển khu vực kinh tế tư nhân, GS. Trần Văn Thọ cho rằng cần phân tách rõ từng nhóm doanh nghiệp theo quy mô để có cách tiếp cận phù hợp.
Với các tập đoàn và doanh nghiệp quy mô lớn, ông nhấn mạnh vai trò phối hợp giữa Nhà nước và tư nhân trong việc định hình tầm nhìn phát triển dài hạn. Quá trình này không chỉ giới hạn ở Chính phủ và doanh nghiệp, mà cần có sự tham gia của giới chuyên gia, trí thức và giới truyền thông. Đồng thời, cần khuyến khích doanh nghiệp lớn đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), tăng cường liên kết với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như tạo cơ chế để các doanh nghiệp lớn tham gia sâu hơn vào các dự án đầu tư công.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), trọng tâm chính sách là bổ sung các nguồn lực còn thiếu, bao gồm khả năng tiếp cận vốn, năng lực đổi mới sáng tạo, xây dựng thương hiệu và phát triển nguồn nhân lực. Kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc hay Đài Loan cho thấy vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc hỗ trợ thông tin và tư vấn, chẳng hạn thông qua các báo cáo thường niên về SME, hoặc xây dựng hệ thống nhân sự tư vấn bài bản cho các SME. Bên cạnh đó, cần thúc đẩy liên kết giữa SME với doanh nghiệp lớn và khu vực FDI để mở rộng cơ hội tham gia chuỗi giá trị. Đây là những điều mà Việt Nam đến nay vẫn chưa làm hiệu quả.
Với khu vực hộ kinh doanh, định hướng là thúc đẩy quá trình chuyển đổi một phần các đơn vị này sang mô hình doanh nghiệp có tổ chức, qua đó từng bước hình thành lực lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Về tố chất cần có của doanh nghiệp tư nhân, GS. Trần Văn Thọ cho rằng bản thân doanh nghiệp cần hội tụ bốn nền tảng cốt lõi của tinh thần doanh chủ (entrepreneurship).
Thứ nhất là chí lớn, không chỉ theo đuổi lợi ích ngắn hạn mà hướng đến mục tiêu dài hạn, bao hàm ý thức dân tộc và trách nhiệm với tương lai quốc gia.
Thứ hai là tinh thần mạo hiểm, sẵn sàng khám phá thị trường, công nghệ và phương thức quản lý mới.
Thứ ba là tinh thần tự lập, theo đuổi lợi nhuận chân chính và cạnh tranh thực chất thay vì mưu tìm đặc lợi (rent-seeking) thông qua quan hệ với cơ quan quản lý.
Thứ tư là đạo đức kinh doanh, bởi vì nền kinh tế thị trường là nơi tính cạnh tranh và tự do tham gia là những nguyên tắc cơ bản. Do đó, chất lượng thị trường phụ thuộc lớn vào mức độ minh bạch và niềm tin giữa các chủ thể. Đạo đức và sự tin cậy giữa những người cùng tham gia là điều kiện then chốt để thị trường vận hành bền vững.
Không thể mãi dựa dẫm vào FDI
Cũng tại buổi chia sẻ, GS. Trần Văn Thọ cho rằng, trong quá trình phát triển kinh tế quốc gia, việc tận dụng nguồn lực nước ngoài - từ vốn, công nghệ cho đến thương hiệu - là điều cần thiết. Tuy nhiên, mục tiêu cốt lõi là phải từng bước củng cố nội lực, để doanh nghiệp trong nước đủ sức thay thế dần vai trò của khu vực nước ngoài.
Ông dẫn chứng, hiện khoảng trên 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đây là mức rất cao, cho thấy nền kinh tế còn phụ thuộc vào FDI, phản ánh khu vực doanh nghiệp trong nước chưa phát triển đủ mạnh để đảm đương vai trò dẫn dắt.
Ông cũng bày tỏ băn khoăn về một số định hướng trong chính sách thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể, một mục tiêu kinh tế được nêu ra hiện nay là nâng tỷ trọng khu vực FDI từ 20% lên khoảng 30% GDP vào năm 2045. Theo ông, định hướng này có thể chưa phù hợp, bởi nếu doanh nghiệp trong nước phát triển đúng kỳ vọng, tỷ trọng của khu vực FDI trong cơ cấu GDP về dài hạn nên giảm tương đối, dù quy mô tuyệt đối vẫn tăng.
So sánh với Trung Quốc, ông cho biết nước này cũng thu hút mạnh các FDI từ thập niên 1980, nhưng tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI chỉ đạt đỉnh khoảng hơn 60% vào giữa những năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn khoảng hơn 20% hiện nay. Ngược lại, thị phần xuất khẩu của doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc đã tăng lên đáng kể và vươn lên chiếm gần 70%. Theo đó, từ kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy một mô hình phát triển hiệu quả dành cho Việt Nam.
- 15:11 07/07/2026