Kịch bản nào cho mặt bằng lãi suất nửa cuối năm 2026?
Kịch bản nào cho mặt bằng lãi suất nửa cuối năm 2026?
Mặc dù bước sang đầu tháng 7, mặt bằng lãi suất tiền gửi tại một số ngân hàng ghi nhận xu hướng ổn định hoặc giảm nhẹ, các chuyên gia dự báo bức tranh tài chính nửa cuối năm 2026 sẽ có những nhịp điều chỉnh mới.
Trong kỳ điều chỉnh gần nhất, VIB giảm 0.25 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1-3 tháng. Cụ thể, với khoản tiền gửi từ 10-300 triệu đồng, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm còn 4.25%/năm, kỳ hạn 3 tháng giảm còn 4.35%/năm; trong khi các kỳ hạn khác giữ nguyên.
Từ ngày 2/7, NCB lại giảm nhẹ từ 0.1-0.6 điểm phần trăm lãi suất tiền gửi ở tất cả các kỳ hạn. Ngân hàng đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm còn 4.5%/năm; kỳ hạn 3 tháng còn 4.7%/năm; kỳ hạn 6-9 tháng giảm còn 6%/năm; kỳ hạn 12 tháng giảm còn 6.2%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng là 6.6%/năm.
Tính đến ngày 07/07/2026, lãi suất tiền gửi tiết kiệm từ 1-3 tháng được các ngân hàng dao động trong khoảng 1.6-4.55%/năm, kỳ hạn 6-9 tháng trong khoảng 2.9-6.85%/năm, kỳ hạn 12 tháng trong khoảng 3.7-7%/năm.
Ở kỳ hạn 12 tháng, MBV giữ mức lãi suất cao nhất ở 7%/năm. Kế đó là Bac A Bank ở mức 6.9%/năm. Xếp ngay sau đó, OCB và Saigonbank có mức lãi suất 6.7%/năm.
Ở kỳ hạn 6 tháng, Bac A Bank mức lãi suất cao nhất ở 6.85%/năm. Kế đó là VCB Neo và MBV có mức lãi suất 6.5%/năm.
Trong khi kỳ hạn 3 tháng đang có mức lãi suất cao nhất tại nhiều ngân hàng là 4.75%/năm gồm: VCB Neo, Sacombank, MBV, OCB, BVBank, PVcomBank, VIB, Saigonbank, NCB.
|
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại các ngân hàng tính đến ngày 07/07/2026
![]() |
Lãi suất huy động có thể tăng nhẹ, lãi suất cho vay đi ngang
PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC-HCMC) dự báo, trong 6 tháng cuối năm 2026, mặt bằng lãi suất của Việt Nam nhiều khả năng sẽ diễn biến theo hướng ổn định là chủ đạo, có thể tăng nhẹ ở lãi suất huy động nhưng lãi suất cho vay khó tăng mạnh do yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Hiện nay, NHNN đang phải cân bằng giữa 3 mục tiêu: Hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá. Trong bối cảnh Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì chính sách tiền tệ tương đối thận trọng, áp lực lên tỷ giá USD/VND chưa hoàn toàn biến mất, trong khi tín dụng được định hướng tăng trưởng khá cao, các ngân hàng sẽ cần thêm nguồn vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay. Điều này khiến lãi suất huy động khó giảm sâu như giai đoạn trước.
Ông Huân cho rằng lãi suất huy động có thể tăng nhẹ khoảng 0.2-0.5 điểm phần trăm ở một số kỳ hạn trung và dài hạn vào cuối năm, đặc biệt tại các ngân hàng quy mô nhỏ hoặc những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao. Tuy nhiên, khả năng xuất hiện cuộc đua lãi suất huy động trên diện rộng là không lớn vì thanh khoản hệ thống vẫn tương đối dồi dào.
Đối với lãi suất cho vay, xu hướng chủ đạo vẫn là đi ngang hoặc giảm nhẹ đối với các lĩnh vực ưu tiên. Các ngân hàng hiện đang chịu áp lực cạnh tranh rất lớn trong việc tìm kiếm khách hàng tốt, trong khi Chính phủ và NHNN tiếp tục định hướng giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Do đó, mặt bằng lãi suất cho vay khó có khả năng tăng mạnh nếu không xuất hiện cú sốc lớn từ bên ngoài.
Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng là liệu còn không gian để tiếp tục giảm lãi suất cho vay hay không. Theo tôi, không gian vẫn còn nhưng không nhiều.
Thứ nhất, lãi suất điều hành hiện đã ở mức khá thấp so với giai đoạn trước. Nếu tiếp tục giảm mạnh sẽ tạo áp lực lên tỷ giá và dòng vốn, đặc biệt trong bối cảnh Fed chưa chuyển sang chu kỳ nới lỏng mạnh.
Thứ hai, chi phí vốn đầu vào của ngân hàng không thể giảm mãi. Các ngân hàng vẫn phải duy trì lãi suất huy động đủ hấp dẫn để giữ chân người gửi tiền, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về an toàn vốn, thanh khoản và các chuẩn mực Basel.
Thứ ba, nợ xấu đang có xu hướng gia tăng. Trong quý I/2026, nợ xấu của nhiều ngân hàng tăng nhanh hơn tốc độ tăng tín dụng. Khi rủi ro tín dụng tăng lên, ngân hàng phải trích lập dự phòng nhiều hơn, làm hạn chế khả năng giảm mạnh lãi suất cho vay.
Do đó, dư địa giảm lãi suất cho vay từ nay đến cuối năm chủ yếu đến từ các biện pháp phi lãi suất như: Giảm chi phí vận hành thông qua chuyển đổi số, tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng, các chương trình tín dụng ưu đãi theo ngành nghề, các gói bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu từ ngân sách nhà nước đối với các lĩnh vực ưu tiên.
Trong kịch bản cơ sở, ông Huân cho rằng, lãi suất cho vay bình quân có thể giảm thêm khoảng 0.3-0.5 điểm phần trăm đối với một số nhóm khách hàng tốt và lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên sẽ rất khó kỳ vọng một đợt giảm mạnh 1-2 điểm phần trăm trên diện rộng như giai đoạn nền kinh tế cần kích thích đặc biệt.
Quan trọng hơn, trong bối cảnh hiện nay, lãi suất không còn là nút thắt lớn nhất của tăng trưởng. Nhiều doanh nghiệp hiện không thiếu khả năng tiếp cận vốn mà thiếu đơn hàng, thiếu thị trường và thiếu cơ hội đầu tư đủ hấp dẫn. Vì vậy, việc tiếp tục giảm lãi suất chỉ mang lại hiệu quả hạn chế nếu không đi kèm các giải pháp thúc đẩy tổng cầu, đẩy mạnh đầu tư công, cải thiện môi trường kinh doanh và tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế. Nói cách khác, giai đoạn hiện nay cần tập trung nhiều hơn vào nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế thay vì chỉ dựa vào công cụ lãi suất.
Dư địa giảm lãi suất cho vay không quá lớn
Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi lại dự báo, trong kịch bản cơ sở, mặt bằng lãi suất huy động nhiều khả năng tiếp tục duy trì tương đối ổn định và có thể tăng nhẹ ở một số kỳ hạn tùy thuộc vào nhu cầu tín dụng và diễn biến của tỷ giá.
Đối với lãi suất cho vay, dư địa giảm thêm vẫn còn nhưng không còn quá lớn. Việc tiếp tục giảm lãi suất cần được thực hiện một cách hài hòa, bảo đảm cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp và yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng.
Về dài hạn, chiến lược căn cơ là tiếp tục xây dựng một cấu trúc tài chính cân bằng, đa tầng và bền vững hơn. Các ngân hàng cần tiếp tục tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính, phát hành các công cụ huy động vốn dài hạn và tăng cường năng lực quản trị rủi ro.
Đồng thời, cần phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và các định chế đầu tư dài hạn nhằm hình thành các kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế.
Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam không chỉ có cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nửa cuối năm 2026 mà còn tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và khả năng chống chịu cao hơn. Đây mới là điều kiện căn bản để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng hai chữ số đi đôi với ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững trong những năm tới.
Lãi suất huy động sẽ ổn định
Ông Nguyễn Dương Phương - Trưởng phòng, Trung tâm phân tích, CTCK Shinhan Việt Nam (SSV) cho rằng, hiện tại, những đợt tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng chủ yếu phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn tại một số thời điểm, thay vì rủi ro mang tính hệ thống.
Trong nửa cuối năm, ông Phương kỳ vọng thanh khoản hệ thống sẽ dần cải thiện nhờ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh, xuất khẩu bước vào mùa cao điểm và dòng vốn FDI tiếp tục duy trì tích cực. Bên cạnh đó, các ngân hàng đang chủ động đa dạng hóa nguồn vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá, huy động vốn quốc tế và các kênh vốn trung, dài hạn khác. Ngoài ra, kỳ vọng nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước sẽ được quản lý linh hoạt hơn trong thời gian tới, qua đó góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống và giảm áp lực huy động vốn.
Do đó, ông Phương kỳ vọng lãi suất huy động sẽ ổn định hơn, dù khó quay trở lại vùng đáy của giai đoạn trước. Lãi suất cho vay nhiều khả năng cũng sẽ được duy trì ở mức hợp lý để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
- 13:03 07/07/2026
