Doanh nghiệp mía đường: Kết quả kinh doanh quý 2 đã hé sáng hơn

Doanh nghiệp mía đường: Kết quả kinh doanh quý 2 đã hé sáng hơn

Mặc dù còn phải đối mặt nhiều với vấn đề tồn kho, đường lậu, giá bán giảm nhưng nhiều doanh nghiệp mía đường đã có kết quả kinh doanh khả quan hơn trong quý 2/2014.

Tăng quy mô các công ty mía đường

Các doanh nghiệp mía đường niêm yết trên sàn chứng khoán có quy mô vốn tương đối lớn, trong đó CTCP Mía Đường Thành Thành Công Tây Ninh (HOSE: SBT) đứng đầu với vốn điều lệ gần 1,500 tỷ đồng. Chưa kể đơn vị này cũng đang có kế hoạch nhận sáp nhập CTCP Mía đường - Nhiệt điện Gia Lai (HOSE: SEC) và nếu thành công, vốn điều lệ công ty dự kiến tăng lên hơn 1,800 tỷ đồng (nếu tính theo tỷ lệ hợp nhất 1:1).

Bên cạnh đó, CTCP Đường Biên Hòa (BHS) và CTCP Đường Ninh Hòa (NHS) sau sáp nhập dự kiến cũng có vốn đạt hơn 1,200 tỷ đồng.

Quy mô các doanh nghiệp mía đường niêm yết
Số liệu tại ngày 04/09/2014

Chỉ riêng CTCP Đường Kon Tum (HNX: KTS) và CTCP Mía đường Sơn La (HNX: SLS) có quy mô vốn khá nhỏ ở mức 51 tỷ và 68 tỷ đồng. Tuy nhiên, bù lại SLS có lợi nhuận trên vốn cổ phần (EPS) ở mức cao nhất tới 4,284 đồng. Hay EPS của NHS cũng đạt 2,531 đồng.

Về công suất hoạt động, theo thống kê của Công ty Chứng khoán FPT (FPTS), các nhà máy mía đường Lam Sơn (LSS), An Khê (SEC) và Bourbon Tây Ninh (SBT) có công suất lớn nhất từ 9,800-10,500 (TMN). Trong đó nhà máy Bourbon Tây Ninh (SBT) có tỷ lệ mía/đường cao nhất 11.76.

Tỷ lệ lãi gộp tăng đáng kể

Theo thông tin từ Vinanet, trong tháng 5 giá đường bán buôn RS từ 12,400-13,400 đồng/kg, giá đường RE ở mức 14,200-15,200 đồng/kg, giảm 200-400 đồng/kg so với đầu năm và giảm 1,800 đồng/kg (12%) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nhờ tăng sản lượng bán hàng nên doanh thu và lợi nhuận trong quý 2/2014 của nhiều doanh nghiệp mía đường vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu và lợi nhuận quý 2/2014 của các công ty mía đường niêm yết
ĐVT: tỷ đồng

Trong quý 2/2014, doanh thu của phần lớn các doanh nghiệp mía đường như SBT, BHS, SEC và NHS tăng đáng kể so với đầu năm từ 30-42%. Bên cạnh đó, lợi nhuận mang về của các công ty này cũng bứt phá ấn tượng khi NHS tăng 54% lên 63 tỷ, SEC tăng 87% lên 20 tỷ, BHS lãi 22 tỷ trong khi cùng kỳ năm trước lỗ 16 tỷ, còn SBT có lãi xấp xỉ cùng kỳ với 38 tỷ đồng.

Đặc biệt, nhờ quản lý tốt chi phí nguyên vật liệu cũng như giá vốn hàng bán giúp tỷ suất lãi gộp của NHS tăng vọt từ 13.6% lên 20.1% và SEC cũng tăng từ 13.8% lên 19.2%. Theo giải trình của NHS, lãi gộp của công ty tăng mạnh nhờ tăng đáng kể doanh thu từ sản phẩm đường, mật, điện so với cùng kỳ năm trước. Riêng BHS và SBT ngoài việc sản xuất đường còn thu mua đường thô và tinh luyện thành đường RE nên biên lãi gộp thấp hơn một số doanh nghiệp khác cùng ngành.

Ở chiều ngược lại, tỷ suất lãi gộp của KTS giảm mạnh từ 10.8% xuống 5.9%, trong khi SLS cũng giảm từ 15.3% xuống 11.9%. Theo giải trình của KTS, trong quý 2/2014, sản lượng đường của công ty giảm 26% xuống 2,750 tấn trong khi giá bán bình quân cũng giảm 11.4% và chỉ ở mức 12,078 đồng/kg. Do đó doanh thu của KTS giảm mạnh và lợi nhuận chỉ vỏn vẹn 25 triệu đồng.

Còn tại SLS, sản lượng đường trong kỳ cũng giảm mạnh 66% và đạt 5,175 tấn. Giá thành sản xuất đường của SLS ở mức 10,584 đồng/kg (giảm 5%) trong khi giá bán bình quân là 12,085 đồng/kg (giảm 10%).

Hàng tồn kho tăng theo chu kỳ mùa vụ

Theo đặc tính riêng của ngành mía đường, hàng tồn kho cuối quý 2 tăng vọt so với đầu năm do vừa kết thúc vụ thu hoạch và ép mía nên trữ lượng thành phẩm lớn tích lũy đẩy ra thị trường vào dịp cao điểm mùa Trung thu và Tết Nguyên đán cuối năm.

Theo Bộ NN&PTNT, kết thúc niên vụ 2013-2014 vào giữa tháng 6, cả nước trồng được 309,400 ha mía (tăng 11,200 ha so với vụ trước), năng suất mía bình quân đạt 64.7 tấn/ha (tăng 0.8 tấn/ha). Sản lượng mía đạt 20 triệu tấn tương ứng sản lượng đường 1.6 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay với chữ đường bình quân của mía đạt 10.3-10.5 CCS, cao hơn vụ trước 0.5-0.7 CCS.

Lượng hàng tồn kho của các DN mía đường niêm yết tính đến cuối quý 2/2014
ĐVT: tỷ đồng

Trong đó, tồn kho của NHS cao gấp 3.8 lần so với đầu năm và ở mức 356 tỷ đồng. Tại SBT và BHS, hàng tồn kho cũng cao gấp 2.6 lần 2.3 lần đầu năm, lần lượt đạt mức 613 tỷ và 784 tỷ đồng.

Vòng quay hàng tồn kho của các DN mía đường niêm yết
ĐVT: tỷ đồng, lần

Bên cạnh đó, vòng quay hàng tồn kho (số lần hàng tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ) của nhiều doanh nghiệp mía đường đã tăng so với cùng kỳ năm trước cũng là tín hiệu tốt giúp giảm số ngày trong kỳ chuyển đổi hàng tồn kho của các công ty này.

So với các doanh nghiệp trong ngành, vòng quay hàng tồn kho của NHS, SEC và SLS khá cao cho thấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều. Tuy nhiên, vòng quay hàng tồn kho của SLS lại giảm mạnh từ 7.58 lần xuống 3.85 lần. Trong khi đó, vòng quay hàng tồn kho của NHS tăng từ 2.55 lần lên 3.3 lần, giúp kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (khoảng thời gian cần thiết để công ty có thể thanh lý được hết số lượng hàng tồn kho) của công ty giảm đáng kể từ 143 ngày xuống 111 ngày.

Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho của BHS giảm mạnh từ 315 ngày xuống còn 190 ngày và SBT cũng giảm từ 266 ngày xuống 172 ngày. Còn SEC có kỳ chuyển đổi hàng tồn kho khá thấp và chỉ ở mức 108 ngày.

Theo Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT), dự kiến trong 6 tháng cuối năm 2014, nguồn cung đường khoảng 926,000 tấn trong khi nhu cầu tiêu thụ chỉ khoảng 675,000 tấn nên lượng đường dư thừa sẽ ở mức 251,000 tấn.

Minh Hằng