Quang Anh

I'm not lazy, I'm just very relaxed - Anonymous

Chi tiền tỉ để kiểm tra hàng nhập khẩu

Chỉ trong năm 2015, chỉ tính chi phí tối thiểu của 3 loại phí: kiểm dịch, an toàn thực phẩm và kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu, doanh nghiệp đã phải bỏ ra 1.637 tỉ đồng để thực hiện công tác kiểm tra chuyên ngành khi nhập khẩu hàng hóa.

Ông Nguyễn Hoài Nam của VASEP trình bày ý kiến tại hội nghị. Hội nghị lần này là lần thứ n mà các doanh nghiệp đã tham gia nhưng việc thay đổi được đánh giá là... chưa được bao nhiêu. Ảnh: Nguyễn Vân

Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tại hội thảo tham vấn "Định hướng sửa đổi, bổ sung một số luât về quản lý chuyên ngành" do CIEM và dự án GIG (Mỹ) tổ chức hôm nay 3-10 tại TPHCM nhấn mạnh, số tiền kể trên chưa bao gồm phí cấp giấy phép và các loại giấy tương tự, chi phí tiền vay, chi phí lưu kho lưu bãi, chi phí lao động và các chi phí cơ hội khác.

Trong số này, theo bà Thảo, chỉ tính tối thiểu mức chi phí kiểm tra chuyên ngành cho một tờ khai phí kiểm dịch là 200.000 đồng và kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm là 2 triệu đồng.

Lý giải thêm về cơ sở để tính ra con số trên, bà Thảo cho biết, hiện tại chỉ có Cục Hải quan TPHCM thống kê được số tờ khai nhập khẩu phải kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm tra chất lượng. Số lượng của cả năm 2015 là 56.270 tờ khai kiểm dịch; 132.356 tờ khai kiểm tra an toàn thực phẩm và 407.802 tờ khai kiểm tra chất lượng. Tổng số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra là 1.091 tỉ đồng.

Mất 3,3 triệu ngày/năm để kiểm tra chuyên ngành

Hiện tại, hàng hóa qua TPHCM hiện chiếm 40-50% lượng hàng của cả nước. Bên cạnh đó, tỷ lệ hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành cũng cao hơn nơi khác. Vì vậy, chỉ tạm tính số lượng tờ khai thuộc diện kiểm tra chuyên ngành phát sinh ở 32 cục hải quan còn lại tối thiểu bằng 50% của TPHCM và có chi phí khoảng 546 tỉ đồng.

Bà Thảo cũng dẫn một số ví dụ cụ thể tại hội nghị. Chẳng hạn, có doanh nghiệp nhập khẩu lô hàng 8 máy làm mát trị giá 8.000 đô la Mỹ, tương đương 165 triệu đồng. Tuy nhiên, chi phí thử nghiệm, kiểm tra chất lượng lên đến 134 triệu đồng thực hiện tại Quatest 1, chưa kể chi phí vận chuyển.

Hay lại có doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thủy sản một năm hết 6 tỉ đồng cho việc thực hiện kiểm tra chất lượng hàng thủy sản. Chi phí này gồm phí kiểm tra và lưu container tại kho.

Bên cạnh đó, theo bà Thảo, nếu chỉ tính thời gian tối thiểu 2 ngày để hoàn thành các lô hàng kiểm tra chuyên ngành thì mỗi năm, doanh nghiệp mất 3,3 triệu ngày.

Ông Phạm Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan, chuyên gia dự án GIG nhấn mạnh, đây chỉ là những con số tối thiểu mà nhóm khảo sát tạm dùng để tính toán. Trên thực tế, con số cao hơn rất nhiều lần.

Oái ăm hơn, hiện tại, có hẳn dịch vụ để thực hiện công tác kiểm tra chuyên ngành này. Nhóm khảo sát đã tham khảo một bảng chào giá dịch vụ do một công ty tư vấn dịch vụ an toàn thực phẩm cung cấp. Theo đó, giá để công bố hợp quy an toàn thực phẩm của một sản phẩm thông thường là từ 4,2 đến 4,5 triệu đồng với thời gian 25-30 ngày kể từ ngày doanh nghiệp nộp hồ sơ cho Cục An toàn thực phẩm qua mạng. Với sản phẩm thực phẩm chức năng thì con số là 12 triệu đồng với thời gian 30-45 ngày. Chi phí cho công bố nhanh cộng thêm một nửa chi phí nói trên.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phát biểu, vấn đề nằm ở chỗ, các câu chữ của luật, chẳng hạn như Luật Chất lượng sản phâm hàng hóa 2007 quy định, chi phí lấy mẫu, thử nghiệm để kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất và hàng hóa trên thị trường do cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định việc này chi trả (điều 41). Hay điều 48, Luật An toàn thực phẩm nói rằng, chi phí lấy mẫu, kiểm nghiệm thực phẩm để kiểm tra, thanh tra an toàn thực phẩm do cơ quan quyết định việc này chi trả. Khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu lấy mẫu và kiểm nghiệm thực phẩm thì phải tự chi trả chi phí.

Tuy nhiên hiện nay, cứ kiểm tra là doanh nghiệp phải chi tiền, không phân biệt cái nào nhà nước chi, cái nào doanh nghiệp chi.

Xem thêm tại đây

Chi tiền tỉ để kiểm tra hàng nhập khẩu

Chỉ trong năm 2015, chỉ tính chi phí tối thiểu của 3 loại phí: kiểm dịch, an toàn thực phẩm và kiểm tra chất lượng hàng nhập khẩu, doanh nghiệp đã phải bỏ ra 1.637 tỉ đồng để thực hiện công tác kiểm tra chuyên ngành khi nhập khẩu hàng hóa.

Ông Nguyễn Hoài Nam của VASEP trình bày ý kiến tại hội nghị. Hội nghị lần này là lần thứ n mà các doanh nghiệp đã tham gia nhưng việc thay đổi được đánh giá là... chưa được bao nhiêu. Ảnh: Nguyễn Vân

Bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tại hội thảo tham vấn "Định hướng sửa đổi, bổ sung một số luât về quản lý chuyên ngành" do CIEM và dự án GIG (Mỹ) tổ chức hôm nay 3-10 tại TPHCM nhấn mạnh, số tiền kể trên chưa bao gồm phí cấp giấy phép và các loại giấy tương tự, chi phí tiền vay, chi phí lưu kho lưu bãi, chi phí lao động và các chi phí cơ hội khác.

Trong số này, theo bà Thảo, chỉ tính tối thiểu mức chi phí kiểm tra chuyên ngành cho một tờ khai phí kiểm dịch là 200.000 đồng và kiểm tra chất lượng, an toàn thực phẩm là 2 triệu đồng.

Lý giải thêm về cơ sở để tính ra con số trên, bà Thảo cho biết, hiện tại chỉ có Cục Hải quan TPHCM thống kê được số tờ khai nhập khẩu phải kiểm dịch, kiểm tra an toàn thực phẩm và kiểm tra chất lượng. Số lượng của cả năm 2015 là 56.270 tờ khai kiểm dịch; 132.356 tờ khai kiểm tra an toàn thực phẩm và 407.802 tờ khai kiểm tra chất lượng. Tổng số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra là 1.091 tỉ đồng.

Mất 3,3 triệu ngày/năm để kiểm tra chuyên ngành

Hiện tại, hàng hóa qua TPHCM hiện chiếm 40-50% lượng hàng của cả nước. Bên cạnh đó, tỷ lệ hàng hóa thuộc diện kiểm tra chuyên ngành cũng cao hơn nơi khác. Vì vậy, chỉ tạm tính số lượng tờ khai thuộc diện kiểm tra chuyên ngành phát sinh ở 32 cục hải quan còn lại tối thiểu bằng 50% của TPHCM và có chi phí khoảng 546 tỉ đồng.

Bà Thảo cũng dẫn một số ví dụ cụ thể tại hội nghị. Chẳng hạn, có doanh nghiệp nhập khẩu lô hàng 8 máy làm mát trị giá 8.000 đô la Mỹ, tương đương 165 triệu đồng. Tuy nhiên, chi phí thử nghiệm, kiểm tra chất lượng lên đến 134 triệu đồng thực hiện tại Quatest 1, chưa kể chi phí vận chuyển.

Hay lại có doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu thủy sản một năm hết 6 tỉ đồng cho việc thực hiện kiểm tra chất lượng hàng thủy sản. Chi phí này gồm phí kiểm tra và lưu container tại kho.

Bên cạnh đó, theo bà Thảo, nếu chỉ tính thời gian tối thiểu 2 ngày để hoàn thành các lô hàng kiểm tra chuyên ngành thì mỗi năm, doanh nghiệp mất 3,3 triệu ngày.

Ông Phạm Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Giám sát quản lý, Tổng cục Hải quan, chuyên gia dự án GIG nhấn mạnh, đây chỉ là những con số tối thiểu mà nhóm khảo sát tạm dùng để tính toán. Trên thực tế, con số cao hơn rất nhiều lần.

Oái ăm hơn, hiện tại, có hẳn dịch vụ để thực hiện công tác kiểm tra chuyên ngành này. Nhóm khảo sát đã tham khảo một bảng chào giá dịch vụ do một công ty tư vấn dịch vụ an toàn thực phẩm cung cấp. Theo đó, giá để công bố hợp quy an toàn thực phẩm của một sản phẩm thông thường là từ 4,2 đến 4,5 triệu đồng với thời gian 25-30 ngày kể từ ngày doanh nghiệp nộp hồ sơ cho Cục An toàn thực phẩm qua mạng. Với sản phẩm thực phẩm chức năng thì con số là 12 triệu đồng với thời gian 30-45 ngày. Chi phí cho công bố nhanh cộng thêm một nửa chi phí nói trên.

Ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phát biểu, vấn đề nằm ở chỗ, các câu chữ của luật, chẳng hạn như Luật Chất lượng sản phâm hàng hóa 2007 quy định, chi phí lấy mẫu, thử nghiệm để kiểm tra chất lượng sản phẩm trong sản xuất và hàng hóa trên thị trường do cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa quyết định việc này chi trả (điều 41). Hay điều 48, Luật An toàn thực phẩm nói rằng, chi phí lấy mẫu, kiểm nghiệm thực phẩm để kiểm tra, thanh tra an toàn thực phẩm do cơ quan quyết định việc này chi trả. Khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu lấy mẫu và kiểm nghiệm thực phẩm thì phải tự chi trả chi phí.

Tuy nhiên hiện nay, cứ kiểm tra là doanh nghiệp phải chi tiền, không phân biệt cái nào nhà nước chi, cái nào doanh nghiệp chi.

Xem thêm tại đây

Thảo luận

Đăng nhập x



Đăng nhập Vietstock x

Đăng ký thành viên Vietstock x

Captcha
Thông tin đánh dấu * là bắt buộc
Tôi đã đọc và đồng ý với điều khoản sử dụng
  • Tháng 9/2016 Lũy kế +/- %
  • Dệt may 2,300 18,050 4.55
  • Giày da 900 9,400 5.88
  • Gỗ và sản phẩm gỗ 600 5,050 9.09
  • Thủy sản 630 4,910 8.62
  • Dầu thô 185 1,602 -40.32
  • Than đá 7 62 16.67
  • Gạo 177 1,830 -14.49
  • Café 236 2,342 34.86
  • Điện tử máy tính 1,750 13,000 20.69
  • Máy móc thiết bị 920 6,910 35.29
  • TỔNG CỘNG 15,000 126,700 5.63
  • Máy móc thiết bị, phụ tùng 2,300 18,720 -4.17
  • Điện tử, máy tính và linh kiện 2,600 20,250 23.81
  • Xăng dầu 340 3,253 26.39
  • Hóa chất 300 2,370 11.11
  • Sản phẩm hóa chất 320 2,710 6.67
  • Sắt thép 693 7,084 1.91
  • Vải 850 7,840 6.25
  • Ô tô 449 4,221 -1.32
  • Thức ăn gia súc 300 2,700 -6.25
  • Sản phẩm khác từ dầu mỏ 70 560 -22.22
  • TỔNG CỘNG 15,100 126,900 5.59
  • Tra cứu chứng khoán
    Tra cứu chứng khoán
  • Theo dõi chứng khoán